Uống Nước Nhớ Nguồn
25/08/2026 | Lượt xem: 4
HT.Thích Thông Phương giảng tại TVTL Đà Lạt
Hôm nay, quí Phật tử về đây dự sinh nhật của Hoà Thượng Tôn Sư, đó là để gợi nhớ sự biết ơn hay tấm lòng hiếu đạo đối với Thầy Tổ. Nhân còn trong tháng Bảy là Mùa Vu Lan báo hiếu, với tinh thấn hiếu đạo đền ơn, quí Thầy nhắc nhở đề tài Uống Nước Nhớ Nguồn.
Nhìn trong cuộc sống con người, khi quán kỹ thấy cây thì có cội, nước thì có nguồn. Con người sinh ra cũng phải có nguồn gốc, có cội xưa. Tức là cũng từ ông bà, cha mẹ sinh ra; còn học đạo thì cũng có thầy Tổ chỉ dạy. Như vậy, tất cả đều có cội nguồn không phải bỗng dưng mà có, cũng như chúng ta không phải bỗng dưng mà có mặt trên cõi đời này.
Vì là Mùa Vu Lan, nhắc tất cả nhớ đến tinh thần báo hiếu, tinh thần nhớ ơn, đền ơn. Nên mỗi người đều phải nhớ về cội nguồn sinh thành của mình, cũng như nhờ Thầy Tổ mới sinh ra và phát triển được trí tuệ nơi mình. Đó là một ơn lớn trong đời, thể hiện được tinh thần đó là nét đẹp văn hóa dân tộc. Bởi vậy trong Kinh Thi có câu:
Phụ hề sanh ngã.
Mẫu hề sanh ngã.
Ai ai phụ mẫu,
Sanh ngã cù lao.
Dục báo thâm ân,
Hiệu thiên võng cực.
Dịch:
Cha thì sanh ra ta.
Mẹ thì nuôi nấng ta.
Hỡi ôi, cha mẹ sanh ta khổ nhọc,
Muốn đền đáp ân sâu của cha mẹ,
Như lên trời cao chẳng cùng.
Nghĩa là ơn cha mẹ lớn lao như vậy, muốn đền ơn cha mẹ giống như là với tay lên trời cao không cùng, khó mà đền ơn được. Bởi vì đây là một cái ơn lớn trong đời người, và ơn Thầy Tổ cũng là một ơn lớn nữa, vì đã sanh ra trí tuệ cho chúng ta. Cha mẹ sanh ra xác thân này, Thầy Tổ sinh ra thân trí tuệ cho mình. Cho nên, đó là một ơn lớn mà xưa nay thường nhắc nhở.
Trong kinh Vu Lan, có câu chuyện: Khi đức Phật dẫn Ngài A-nan xuống địa ngục, thấy núi xương khô. Phật đảnh lễ núi xương:
Bấy giờ Phật lại lên đường,
Cùng hàng đại chúng Nam Phương tiến hành.
Đáo bán lộ đành rành mắt thấy,
Núi xương khô bỏ đấy lâu đời.
Thế Tôn liền vội đến nơi,
Lạy liền ba lạy, rồi rơi giọt hồng.
Đức A-nan trong lòng ái ngại,
Chẳng hiểu sao! Phật lạy đống xương.
Vội vàng xin Phật dạy tường,
Thầy là Từ phụ ba phương bốn loài.
Ai ai cũng kính Thầy dường ấy,
Cớ sao Thầy, lại lạy xương khô?
Phật rằng: Trong các môn đồ,
Ngươi là đệ tử đứng đầu dày công.
Bởi chưa biết đục trong chưa rõ,
Nên vì ngươi ta tỏ đuôi đầu.
Đống xương dồn dập bấy lâu,
Cho nên trong đó có bao cốt hài.
Chắc cũng có: ông bà cha mẹ,
Hoặc thân ta, hoặc kẻ sanh ta.
Luân hồi sanh tử, tử sanh,
Lục thân đời trước, thi hài còn đây.
Ta lễ bái, kính người tiền bối,
Và ngậm ngùi vì nhớ kiếp xưa.
Kinh Vu Lan kể là Phật lạy đống xương đó để Ngài tưởng nhớ đến cha mẹ, vì trong đó cũng có xương của cha, của mẹ nhiều đời. Cho nên Phật tưởng nhớ để nhắc nhở những người con Phật cũng phải biết nhớ ơn cha mẹ, nhớ ơn đền ơn. Một người con hiếu, là một người biết nhớ ơn, đền ơn thì đó là một nhân tố tốt trong xã hội. Bởi đó là tinh thần đạo đức được người đời nhắc đến, tán thán khen ngợi. Còn một người bất hiếu thì bị chê trách mà lại mắc tội lớn.
Trong kinh Tương Ưng, Phật dạy: “Này các Tỳ-kheo, sữa mẹ mà các ngươi uống, khi lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài nhiều hơn là nước trong bốn biển”. Bởi vì trong kiếp luân hồi này chúng ta sanh tử, sanh tử biết bao nhiêu lần rồi, mà mỗi lần sanh tử là mỗi lần uống sữa mẹ; cho nên nếu kiểm lại thì chúng ta đã uống sữa mẹ còn nhiều hơn nước bốn biển nữa. Nhớ như vậy, nghĩ như vậy mới biết mình đã thọ nhiều ơn lớn. Một con người có tâm, có hiểu biết, có phân biệt mà có thể quên cội nguồn hay sao? Người như vậy thì phải nói sao đây? Đây nhắc lại cho mọi người thấy được ý thức đó.
Ở đây, nói rộng về liên hệ nhân duyên rồi chúng ta quán kỹ, để có cuộc sống tốt đẹp hơn. Tức là với tinh thần uống nước nhớ nguồn, uống một bát nước thì nghĩ đến cái gì? Thường mỗi người ít ai nghĩ đến điều đó. Thí dụ khi đi xe mệt, mua chai nước thì uống rồi thôi chứ đâu nghĩ gì nữa. Nhưng chai nước đem đến cho chúng ta uống đó, đâu phải bỗng dưng mà có. Phải quán kỹ mới thấy ý nghĩa sâu xa.
Uống một bát nước phải nghĩ rằng bát nước này từ đâu có? Muốn có nước uống phải từ nguồn nước kia, mới có bát nước này chứ không phải bỗng dưng có cho mình uống. Vậy khi uống bát nước này, là chúng ta đã mang ân rất nhiều người trong đó. Có một sự liên hệ rộng lớn đến chung quanh không phải chỉ có bát nước đó, chỉ có chai nước đó thôi. Chai nước đó không phải bỗng dưng có, mà có được chai nước là cả sự liên hệ lớn của rất nhiều người trong đó.
Khi dùng bát nước, chúng ta còn nhớ tới cái ân người làm ra chai nước, hoặc là người tạo ra cái ấm nấu, làm ra cái bát nước cho chúng ta dùng. Rồi người làm ra bát, ấm thì phải còn ăn cơm, mặc áo. Ăn cơm, mặc áo thì còn liên hệ đến những người thợ dệt, thợ may nữa. Thợ may thì phải có máy may, kim chỉ, thầy giáo dạy kiến thức, người dạy may nữa, tất cả đều có mối liên hệ chằng chịt trong đó, không phải tự nhiên mà có. Là sự liên hệ dây chuyền, là nhân duyên trùng trùng trong đó.
Nay quán kỹ trở lại, chỉ một bát nước thôi mà chúng ta đã mang ơn biết bao nhiêu người trong đó rồi. Như vậy, nếu một người mà mình ghét, kiểm lại đó cũng là một người ân gián tiếp của mình. Nếu biết quán kỹ, quán sâu như vậy thì lòng mình sẽ cởi mở thoáng hơn, và như vậy thì mọi người sẽ sống gần gũi với nhau. Thấy rõ chung quanh toàn là người ân của mình, nên cuộc đời sẽ vui tươi hạnh phúc hơn. Ở chung quanh chúng ta đều là những người ân hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp. Như vậy, sự sống hòa đồng không có tách rời nhau và bớt lòng ích kỷ.
Phật dạy kỹ hơn nữa, tất cả chúng sanh đều là cha, là mẹ của chúng ta không phải ai khác. Kinh Tâm Địa Quán, Phật dạy: “Loài hữu tình tức là chúng sanh, luân hồi trong sáu đường như bánh xe quay không có đầu mối trước sau. Hoặc là làm cha mẹ, hoặc làm con cái, đời đời kiếp kiếp mang ơn lẫn nhau. Với kẻ nam người nữ, thấy đồng như cha mẹ. Do vì chẳng chứng Thánh trí nên không làm sao biết được hết thảy người nam là cha ta, hết thảy người nữ là mẹ ta. Tại sao chưa báo đền cái ân ngày trước mà trở lại nghĩ xấu để thành oán hận.”.
Phật dạy: Trong kiếp luân hồi này xoay dần, quán kỹ thì mỗi chúng sanh đều là cha là mẹ của mình. Người nam là cha, người nữ là mẹ. Do chúng ta chưa chứng được Thánh trí nên chưa thấy hết, nếu chứng được Thánh trí sẽ thấy được hết thảy đều là người ân. Như vậy đã là cha, là mẹ của chúng ta, nhưng chưa báo đền ân ngày trước mà còn sanh oán. Khi quán kỹ rồi chúng ta nhìn quanh xem đây ai cũng là cha, là mẹ mình, vậy thì sao còn dám oán hận!.
Trong kinh A hàm ghi: "Một hôm đức Phật đi thuyết pháp, trên đường gặp hai vợ chồng Bà-la-môn nọ, nhìn thấy Phật liền chạy lại khóc lóc, than thở: “Con ơi! Sao con lại bỏ cha mẹ đi đâu? Làm cho cha mẹ nhớ thương tới nay mới được gặp”. Chúng Tăng thấy lạ, định kéo hai người kia ra, nhưng Phật không cho. Phật bảo: “Hãy để cho mọi việc tự nhiên”. Sau đó, Phật mới kể cho chúng Tăng nghe, hai vị kia đã từng là cha mẹ của Ngài, và Ngài là con của họ. Cho nên hôm nay gặp lại nhân duyên xưa mới có chuyện như vậy.”.
Đó là nhớ lại nhân duyên xưa. Khi quán kỹ mới thấy được nhân duyên nhiều đời nhiều kiếp. Những người kia là cha, là mẹ chúng ta đời trước, vậy có gì đáng ghét! Chúng ta chưa đền ơn được sao dám nghĩ xấu! Khi hiểu sâu như vậy thì mọi người sẽ sống gần lại với nhau, hiểu nhau hơn; do đó cuộc sống có giá trị hơn, đừng có nghĩ rằng đây là kẻ thù, đây là người đáng ghét.
Khi chúng ta nghĩ tới người đã làm mình buồn, hoặc ghét ai đó thì cũng quán kỹ như vậy, liền xả được tâm buồn ghét. Mà xả được tâm buồn ghét thì sống vui, tâm hồn trong sạch, thư thái hơn. Còn sống mà ghét bỏ nhau như vậy, đâu có vui vẻ gì!.
Và nếu người chúng ta ghét mà cứ gặp nhau hoài thì càng khổ thêm, gọi đó là "Oán tắng hội khổ", người không ưa mà cứ gặp nhau hoài thì càng bực mình, càng khổ thêm. Như vậy cuộc sống có vui vẻ gì!.
Nếu trên thế gian này chừng mười người không ưa mà gặp nhau hoài thì sao? Thì gương mặt chúng ta chắc không lúc nào cười được hết. Bữa nay gặp người này đáng ghét, mai gặp người kia đáng ghét, gặp nhau hoài thì cuộc sống đâu có vui vẻ gì! Cho nên đây tập quán kỹ như vậy sẽ thấy thân thiện hơn.
Trong kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân, Phật dạy: "Đức Như Lai kiếp trước thời gian sanh tử nhiều như số vi trần, không thể nghĩ bàn được, và trong các hình loại, chúng sanh chịu đủ mọi thân hình, vì chịu nhiều thân hình nên tất cả chúng sanh đã từng là cha mẹ của đức Như Lai, và Như Lai cũng đã làm cha mẹ của tất cả chúng sanh. Vì vậy, thường tu những khổ hạnh khó tu, hay bỏ những vật khó bỏ, siêng tu tinh tấn, trì giới, bố thí, đa văn, thiền định, trí tuệ cho đến đầy đủ tất cả muôn hạnh, chẳng nghĩ, chẳng thôi, tâm không mệt mỏi. Vì biết dưỡng cha mẹ, chóng đền ơn, trả đức, nên ngày nay mới tu thành Chánh quả Chánh Đẳng Chánh Giác."
Phật nhắc lại sự liên hệ nhiều kiếp, Ngài cũng từng làm cha mẹ chúng sanh và chúng sanh cũng từng là cha mẹ Ngài. Do Ngài biết siêng tu tinh tấn, làm muôn hạnh khó làm, rồi cũng hiếu dưỡng cha mẹ, biết ơn trả đức. Do đó mà chóng thành tựu đạo quả.
Do tinh thần biết ơn, đền ơn là tinh thần hiếu đạo của Ngài, góp thành công đức giúp Ngài chóng thành tựu quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Đây cũng là tinh thần biết ơn, đền ơn, trả đức đáng tán thán của các bậc Thánh hiền. Ngược lại, sống giữa đời này người quên ơn quên đức là người thiếu đạo đức trong xã hội, ơn đức cao dầy thâm sâu mà còn quên, khi đứng giữa trời đất có đáng hổ thẹn không? Cho nên đây là để nhắc nhở tất cả ghi nhớ tinh thần đền ơn, biết ơn.
Mỗi người cũng cần hiểu sơ qua về nhân quả để biết cách sống. Người biết ơn thì sống có hiếu đạo. Đó cũng là tấm gương tốt cho con cháu soi rọi theo. Mình là người lớn, sống có đạo đức, thì đó là cái gương tốt để cho con cháu noi theo. Còn ngược lại, nó nhìn những người lớn làm gương xấu như vậy, cũng là cái gương khiến nó làm theo.
Có câu chuyện: Khi Phật ở Tinh xá Kỳ Viên, có một chàng trai sinh trong gia đình nghèo khó, sau khi mẹ mất chàng trai này thường đi làm thuê, cày ruộng, chăm sóc cha già. Người cha thấy vậy thương con, tìm cho con trai mình người vợ đảm đang bớt công việc, nhưng chàng trai này từ chối, thưa với cha là: “Thưa cha, nếu có người đàn bà vào nhà này thì có khi nó cũng làm cho cha con mình không được yên tâm lâu, xin cha đừng có nghĩ đến việc đó, khi cha còn sống con muốn phụng dưỡng cha, để khi cha mất thì con cũng còn biết chuyện mà làm”.
Nhưng người cha vẫn đi tìm một cô gái về lo lắng cho chàng trai này. Cô gái này tính tình hơi thấp kém, lâu ngày thay lòng, muốn tống ông cha già này đi vì để ở nhà phải mất công phụng dưỡng.
Cho nên khi hầu hạ, cô cố ý có lúc đem nước quá lạnh hoặc quá nóng, còn nấu cơm khô để ông cha chồng dùng không vừa ý khiến sanh bực bội, khiến cô có cơ hội lớn tiếng trả lời lại. Nhân đó, cho mọi người chung quanh thấy được và cho là không ai hầu nổi ông già khó tính như vậy.
Thế là cô cứ luôn gây chuyện, cuối cùng cô nói thầm với chồng: “Đó, xem đó! Thiếp đã mãi van xin cha đừng có làm như vậy mà ông cứ nổi giận”. Cô mãi nói ra nói vào. Người chồng mới bảo: “Thôi nàng còn trẻ, nàng muốn ở đâu thì tùy ý, nếu nàng không thích ông cụ thì hãy cứ đi khỏi nhà!”.
Cô này nghe chồng nói liền sợ, tưởng đâu nói vậy để chồng nàng đuổi ông già đi, nhưng không ngờ là người con trai này có hiếu. Cho nên cô sợ, cô mới quì xuống, xin lỗi ông cụ rồi mới bắt đầu săn sóc tốt cho cha chồng.
Còn chàng trai này là cư sĩ, cũng là đệ tử Phật nên biết đạo, hiểu đạo. Ban đầu vì lo quá nhiều việc nên ít khi đi nghe Phật thuyết pháp. Sau khi người vợ hồi tâm, chàng trai cũng thường xuyên nghe Phật thuyết pháp. Phật hỏi lý do chàng trai này mới thuật lại sự việc trên.
Phật mới bảo: “Lần này con không chịu nghe lời vợ đuổi cha ra khỏi nhà. Nhưng trong đời quá khứ, con đã từng nghe lời vợ đem ông cha bỏ vào nghĩa địa, và lúc đó thì ta sinh trong nhà của con, khi được bảy tuổi ta cũng khéo cản được con. Nhờ con nghe lời ta khéo chăm sóc cha già, nên sau được sinh lên cõi trời”.
Phật kể chuyện tiền kiếp: Trong thời quá khứ, ở xứ Ba La Nại có gia đình nọ chỉ có người con trai duy nhất, chàng sống nuôi dưỡng cha mẹ đều tốt hết. Sau khi người mẹ mất, chàng lo phụng dưỡng cha già. Rồi người cha mới cưới cho chàng người vợ. Người vợ này có tâm hiểm ác, nên cứ chọc cho ông cha này nổi giận rồi đến nói với chồng: “Ông cha này độc ác, hung dữ, đủ thứ chuyện.”.
Nhiều lần tìm cách thúc ép chồng tống ông cha này đi cho rồi: “Một lão già lụ khụ, lại còn bệnh hoạn, và sắp chết đến nơi. Như vậy thì không thể ở chung với ông được. Trước sau gì ông cũng chết, thôi thì đem ông bỏ vào nghĩa địa sớm, đào hố để cho ông ở đó cho rồi”.
Chàng trai này cứ nghe nói, nghe hoài những chuyện đó. Cuối cùng chàng nói: “Này nàng ơi, giết người là việc hệ trọng, nhưng bằng cách nào ta có thể làm được”.
Cô vợ mới bày cách: “Thôi, sáng mai hãy đến chỗ ông lão, lớn tiếng với ông lão để cho mọi người nghe là có con nợ của cha ở làng kia, chàng đến đòi không được, thôi hai cha con mình đến đó để đòi, lỡ cha mất thì nợ đó cũng trả cho chàng. Rồi chàng đưa ông lão đi thẳng đến nghĩa địa, đào hố chôn ông, sau đó la to lên, giống như bị cướp, rồi chạy”.
Chàng trai này cũng nghe lời vợ, sắp sẵn chiếc xe bò, để ông cha già lên, đẩy đi vào nghĩa địa. Lúc ấy đứa con trai bảy tuổi, thông minh và khôn ngoan, nghe được những lời bàn của cha mẹ. Cho nên đứa con trai này mới nghĩ cách để cứu ông nội, mà cũng cứu cho cha mình khỏi tội lỗi.
Đứa bé này mới rình chạy nhanh đến trước nằm cạnh ông nội. Khi người cha đến chở ông lão đi, đứa con ngồi trên xe trước rồi, anh mới chở đứa con trai này đi luôn.
Sau khi đưa người cha đến nơi, anh này mới để cho người cha già và đứa con riêng một nơi. Và đến nơi khác đào cái hố để không ai thấy, sẽ chôn cha ở đó. Cậu bé thấy vậy đi theo người cha, hỏi xem cha làm gì? Người cha đáp là đào hố để chôn ông nội cho nhẹ gánh nặng.
Đứa bé đến lấy cây cuốc trong tay người cha đào thêm hố gần đó. Người cha thấy vậy mới hỏi: “Con đào hố để làm gì?”. Đứa bé trả lời: “Con đào sẵn cái hố này để mai mốt cha già yếu thì con cũng chở cha vào đây để chôn, cũng như cha chôn ông nội vậy đó”.
Người cha nghe vậy tỉnh ngộ. Biết mình làm như vậy, sau này con mình cũng làm lại như vậy. Giờ mình chôn cha mình, thì sau này nó cũng chôn mình như vậy. Mình là tấm gương chỉ dạy cho nó. Người cha tỉnh ngộ hối hận, chở ông cha về.
Người vợ ở nhà trông ngóng, thấy chở ông cha về thì la lớn là tại sao lại đem của nợ này về nữa. Anh chàng cũng không nói thêm gì, chỉ tháo chiếc xe bò và nhơn đó đánh cho người vợ một trận, và đuổi ra khỏi cửa.
Đứa bé này chạy tới bày kế cho ông cha để cứu người mẹ: “Cha ơi, việc này thì mẹ con cũng chưa hiểu đâu, giờ cha thử chọc tức mẹ. Cha tung tin là trong làng có cô gái, bạn của cha muốn săn sóc cho cha, ông và con và cha cũng định đem cô ấy về. Rồi cha lấy hoa tươi, dầu thơm để lên xe, cứ đi quanh vùng suốt ngày tối mới về nhà”. Những người đàn bà trong xóm mới bảo với cô vợ: “Chị có nghe chồng chị kiếm vợ khác chăng?”. Người vợ nghe vậy đau khổ hoảng hốt, tìm gọi đứa con kêu khóc, ăn năn. Nhân đó, người mẹ này mới tỉnh ngộ. Cậu bé về nhà thưa cùng người cha, làm lành trở lại, cả hai vợ chồng cùng chăm sóc cho ông nội.
Phật kể câu chuyện rồi kết luận: Hai cha con người vợ đó là những người này đây, còn cậu bé kia là tiền thân của đức Phật. Trong đời này anh chàng không nghe lời vợ nhưng đời trước thì nghe lời vợ đem chôn ông cha, nhưng nhờ đứa bé là tiền thân của đức Phật cảnh tỉnh, nên tỉnh ngộ trở lại cứu được ông cha.
Để thấy rõ việc chúng ta làm đối với cha mẹ, sau này con cái sẽ lấy đó làm gương cho nó. Cho nên, người lớn phải biết sống thế nào là tấm gương tốt cho con cháu về sau. Đó là nhân quả. Khéo sống cho đúng nhân quả, để sau này không có hối hận.
Câu chuyện nói lên một vị Bồ-tát là tiền thân đức Phật khéo cứu cha, độ mẹ. Ngài đã có lòng hiếu từ lúc nhỏ. Theo nhân quả khi chúng ta đối xử với cha mẹ thế nào, thì con cháu của mình sau này cũng theo cái gương đó mà đáp lại cho mình như vậy. Quả không có gì lạ, chính mình là chiếc gương cho con cháu soi rọi và noi theo. Vậy thì chúng ta phải là tấm gương cho có ý nghĩa.
Như vậy, lòng hiếu thảo là đạo đức thiêng liêng. Xưa nay có nhiều câu chuyện về lòng hiếu thảo cảm đến trời, đất, quỉ thần, giặc dữ nữa.
Trong Nhị Thập Tứ Hiếu, có câu chuyện về lòng hiếu cảm động đến trời đất, và quỉ thần.
Chuyện Pháp sư Đạo Phi, người quê ở Tràng An, Thiểm Tây, bảy tuổi đã xuất gia. Do thời cuộc chiến tranh, ông mới dẫn người mẹ đến Hoa Sơn lánh nạn. Còn người cha bị đi đầu quân làm quân lính, rồi chết ở trong trận tại Hoắc Sơn. Mẹ ngài báo cha của ngài đã chết, thi thể bị phơi bày trong gió sương, giờ phải làm sao tìm cách đem thây cha về an táng.
Ngài Đạo Phi nghe vậy vâng lời mẹ, lên đường đến Hoắc Sơn tìm thây cha. Ở nơi chiến trường thây chết lâu ngày thành xương nên đâu biết thi thể nào là cha mình. Ngài xem thấy bên Đông là một đống thây, bên Tây là một đống thây, xương chất lớp lớp, vậy biết đâu là thân của cha đây? Lúc ấy ngài Đạo Phi tụng kinh cầu nguyện là:
“Người xưa do lòng chân thành mà cảm ứng, nhỏ máu nhận ra xương. Hiện tại ta cũng đang cần tìm xương cha, và chú nguyện trong đám xương kia, như có thi thể nào chuyển động thì đó quả là xương của cha ta”.
Ngài hết lòng chú nguyện, xương đã chết nhưng nếu tự chuyển động thì đó chính là cha mình. Khi ấy ngài chuyên tâm, một lòng nhìn về đống xương đến mấy ngày như vậy. Thình lình, trong đống xương đó có một cái đầu bật ra, lay động một lúc. Ngài biết đó là di cốt của cha mình nên đem về trình cho mẹ.
Đêm đó, người mẹ cũng mộng thấy người chồng về nhà. Sáng sớm hôm đó, ngài Đạo Phi mang hài cốt cha về.
Cho thấy lòng hiếu thảo, chí thành cảm đến xương cha hiện ra điềm cảm ứng. Để thấy tinh thần hiếu đạo đến trời đất quỉ thần cũng cảm ứng, nên đó là điều quí báu. Mỗi người nên nhớ.
Phật cũng từng dạy cho các vị cư sĩ bài kệ:
Người nào theo chánh pháp
Nuôi dưỡng mẹ và cha
Và tạo nhiều công hạnh
Đối với cha và mẹ.
Nhờ vậy bậc hiền thánh
Trong đời này tán thán
Sau khi chết được sinh
Hưởng an lạc chư thiên.
Như vậy tinh thần hiếu đạo có phước đức rất lớn. Đây gọi là hiếu đạo với cha mẹ, còn ở trong nhà Phật thì hiếu đạo với Thầy Tổ. Còn người học trò mà bất hiếu với Thầy thì cũng là thiếu phần đạo đức, bị tổn đức lớn lao và có nhân quả nữa.
Nhà thiền có câu chuyện: Bình thị giả, khi vị thầy của ông tịch được nhập tháp mười năm. Ông xem địa lý nhập tháp như vậy không tốt, có ảnh hưởng xấu đến cho ông nên tìm cách khai tháp để lấy thân của Thầy ra đốt. Các bậc kỳ túc trong sơn môn can ngăn cho làm như vậy là bất hiếu, là tổn thương đến Thầy Tổ. Ông vẫn không nghe.
Xong ông phá tháp, thấy dung nhan Thầy vẫn như khi còn sống. Bình chất củi đốt không cháy. Chúng đều kinh sợ. Bình lấy búa bổ sọ, cho thêm dầu vào củi đốt, tự nhiên cháy hết. Nhưng ông không ngờ làm việc bất hiếu như vậy là có nhân quả. Sau đó, chư Tăng thấy ông là người quá bất hiếu nên tẩn xuất ông ra khỏi chùa phải trở về thế tục. Ôg đi giữa đường gặp cọp chận xé tan thây giữa đường. Nhân quả rõ ràng.
Nhân đây, nhắc nhở chúng ta làm người phải giữ được tinh thần hiếu đạo, biết ơn, đền ơn. Đối với cha mẹ là bậc sanh thành dưỡng dục có ơn rất lớn nên phải biết ơn, đền ơn. Còn Thầy Tổ là người dạy đạo lý của Phật, mở sáng trí tuệ cho mình gọi là sanh ra thân trí tuệ. Cha mẹ sanh ra thân xác thịt này, còn Thầy Tổ thì sanh ra thân trí tuệ cho mình, đó là những cái ân lớn. Nhờ Thầy mở sáng trí tuệ, giải thoát ra khỏi dòng sanh tử thì cái ân đó còn lớn nữa. Cho nên một người bất hiếu thì sẽ dùng vào đâu? Xã hội cũng không dùng tới, trong đạo cũng không cần. Đối với cha mẹ, Thầy Tổ mà còn như vậy thì đối với người khác đâu là gì?.
Nhắc nhở chúng ta phải biết sống có tinh thần hiếu đạo. Nên mỗi người cần nghiệm kỹ điều này để sống cho đầy đủ ý nghĩa.
Tinh thần biết ơn, đền ơn, là sự liên quan trong cuộc sống gọi là nhân duyên trùng trùng. Và cuộc sống chúng ta nhờ vậy sẽ thân thiện, êm dịu và gần gũi với nhau hơn. Thấy rằng ai ai, chung quanh mình đều có liên hệ với mình, là người thân của mình, đều là cha là mẹ những đời trước. Quán kỹ như vậy thì không có ai là người xa lạ hết. Đã là cha, là mẹ mình thì tại sao lại ghét bỏ, oán hận?
Mỗi khi vừa có khởi tâm buồn, giận, oán ghét ai đó, thì quán kỹ như vậy sẽ thấy tâm cởi mở, nhẹ nhàng. Và chính đó là tu, tu ngay trong cuộc sống. Cuộc đời sẽ thấy vui, cởi mở hơn.
Tóm lại, Người sinh ra trong cõi đời này không ai bỗng dưng tự nhiên mà có, tức đều có nguồn cội hết. Cây có cội nước có nguồn, người sống có đạo đức là phải biết cội nguồn, phải biết ân và đền ân. Đó là nhân quả tốt lành cho đời mình và cho xã hội. Nếu trong xã hội ai cũng là người biết ân, đền ân thì đều là người có đạo đức. Một xã hội đầy những người con có hiếu, biết ân thì đó là xã hội tốt lành. Còn nếu xã hội không ai biết ai, thì ai cũng dám làm những điều ác.
Người xưa dạy: Khi ngồi dưới gốc cây, lúc đứng dậy không được bẽ cành cây, vì nhớ ơn nó đã che mát cho chúng ta dù trong thời gian ngắn. Đó là điều cần phải học. Nên phải nhớ kỹ, đối với một cái ân nhỏ như vậy còn phải nhớ huống nữa là ơn lớn. Người mà ơn nhỏ còn nhớ thì ơn lớn làm sao quên! Đó chính là tinh thần đạo đức lớn.
Chúng ta thực hành hạnh hiếu vừa là dạy con cháu. Mỗi khi ai làm cho mình ơn nhỏ cũng phải biết nhớ ơn, tức là tập cho con cháu sống đạo đức từ lúc còn nhỏ. Một cái ơn nhỏ mà còn nhớ, huống là ơn lớn làm sao không nhớ!
Kinh Tăng-Nhất-A-hàm, Phật dạy các vị Tỳ-kheo: “Nếu có chúng sanh nào biết trả ơn thì đó là điều đáng kính, ân nhỏ còn chẳng quên, huống chi là ân lớn! Kẻ ấy dù cách đây trăm ngàn do tuần cũng chẳng khác gì ở bên Ta. Trái lại có chúng sanh chẳng biết trả ân, ân lớn còn chẳng nhớ, huống nữa là ân nhỏ. Dù có gần ta, ta cũng chẳng gần, dù cho có mặc áo tăng, ở tả hữu hai bên cạnh ta đi nữa, người ấy vẫn như xa Ta”.
Phật nói người biết sống, biết ơn, đền ơn đó là người đáng kính, người đó dù cho ở xa ngàn cây số cũng vẫn như ở cạnh bên Ngài. Còn người ở sát bên Phật mà không biết ơn, đền ơn cũng như ở xa Phật.
Nếu chúng ta muốn sống gần Phật thì phải biết tinh thần nhớ ơn, đền ơn, trả đức thì dù cho hiện tại mình sống cách Phật hơn 25 thế kỷ, nhưng cũng giống như là sống ở gần bên Phật, ở thời Phật. Đó là niềm vui lớn. Phật dạy rất rõ rang.
Chính ông bà tổ tiên của ta cũng có những câu ca dao để lại cho con cháu sau này:
Công cha nghĩa mẹ cao vời,
Nhọc nhằn chẳng quản suốt đời vì ta.
Nên người, con phải xót xa,
Đáp đền nghĩa nặng, như là trời cao.
Đội ơn chín chữ cù lao
Sinh thành biết mấy kể ơn cho vừa.
Đây nói tinh thần hiếu đạo là phải nhớ cha mẹ là đấng sinh thành ra mình. Đối với Thầy với Tổ là đấng sinh thành thứ hai.
Thời Phật còn tại thế, Tôn giả Xá-lợi-phất là đại đệ tử lớn nhất của Phật, là bậc trí tuệ bậc nhất. Trước đó, Ngài Xá-lợi-Phất và Ngài Mục Kiền Liên tu theo ngoại đạo. Nhưng hai người thấy những ông thầy ngoại đạo không hướng được con người đến chỗ giải thoát rốt ráo, nên mới đi tìm Thầy để tu tiến lên. Hôm đó, trên đường đi ngài Xá-lợi-phất gặp được Ngài Mã Thắng. Ngài Mã Thắng là vị A-la-hán đã sạch phiền não, nên sáu căn thanh tịnh, trong sáng. Ngài nhận thấy đây là bậc cốt cách siêu phàm, nên đi theo hỏi Thầy là người tu theo pháp gì mà sáu căn trong sáng như vậy? Ngài Mã Thắng đọc bài kệ:
Các pháp từ nhân duyên sanh,
Cũng từ nhân duyên diệt.
Thầy ta Đại Sa-môn,
Như Lai giảng như thế.
Ngài Xá-lợi-phất nghe kệ xong thì liền bừng ngộ và đắc quả Tu-đà-hoàn. Rồi Ngài đi tìm và nói lại cho Ngài Mục Kiền Liên nghe. Nghe xong, Ngài Mục Kiền Liên cũng đắc quả Tu-đà hoàn. Sau đó, hai vị mới cùng nhau tìm đến quy y làm đệ tử Phật.
Sau này, Ngài Xá-lợi-Phất nhớ ơn Ngài Mã Thắng đã đọc bài kệ giúp Ngài cảm ngộ thấy được Chánh pháp. Nên mỗi khi nghe Ngài Mã Thắng ở đâu, Ngài đều quay đầu về hướng đó, chắp tay đảnh lễ để tỏ lòng biết ơn, tôn trọng. Với những bậc Thánh, bậc A-la-hán còn biết nhớ ơn như vậy, huống gì chúng ta là những người phàm đời sau. Đó là để nhắc mọi người phải biết có tinh thần nhớ ơn, đền ơn.
Trong kinh Vu Lan, Phật nhắc nhở Ngài A-nan:
A-nan nên biết!
Trong chúng sinh, tuy thiệt phẩm người,
Mười phần mê muội cả mười,
Không tường ân trọng, đức dày song thân.
Chẳng kính mến, quên ân, trái đức,
Không sót thương dưỡng dục, cù lao,
Ấy là bất hiếu mặc giao,
Thì những người ấy đời nào nên thân.
Những người mà bất hiếu thì đời nào nên thân!
Tóm lại, mỗi người đồng tưởng nhớ thâm ân cao trọng và để sống đầy đủ ý nghĩa là phải biết ơn và đền ơn. Bởi vì mỗi người sanh ra đời đều có cội nguồn, và sống thì phải có liên hệ chằng chịt lớp lớp với nhau. Cho nên, cuộc sống của chúng ta đây đều chịu nhiều cái ân với nhau. Mà một người quên ân thì cũng mất đi một phần đạo đức. Nên phải hiểu được tinh thần đó để sống có ý nghĩa, có đạo đức đúng với tinh thần của người con Phật. Và như vậy, cuộc sống của chúng ta được nâng cao, tốt đẹp thêm lên.
Mong mỗi người sau khi nghe được ý nghĩa Vu Lan Báo Hiếu, thấm sâu tinh thần uống nước nhớ nguồn để có đời sống đạo đức cao đẹp, tốt lành. Đó tức là nhân quả an vui thật sự, không cầu mà đến. Còn sống mà trái với nhân quả tốt lành, nhiều khi mong cầu mà không đến.
Mỗi người cần hiểu và sống đúng tinh thần uống nước nhớ nguồn, biết ơn đền ơn, sống tươi đẹp, cởi mở, thân thiện hơn. Và xã hội ngày càng tiến lên tốt đẹp, tuy sống xa Phật nhưng lại gần Phật./.
Các bài mới
- Tinh Thần Hiếu Thảo Ngày Vu Lan Tự Tứ - 19/08/2026
- Vu Lan Mùa Báo Hiếu - 10/08/2026
- Ý nghĩa Vu Lan Bồn - 06/08/2026
- Cách đền ơn xứng đáng - 05/09/2025
- Hiếu hạnh - 30/08/2025
Các bài đã đăng
- Tình Và Trí - 29/08/2025
- Mùa Vu Lan Nhớ Tứ Trọng Ân - 25/08/2025
- Quan Niệm Về Hạnh Hiếu của người con Phật - 15/08/2024
- Phật dậy cách báo hiếu - 02/09/2017
- Nhân quả nghiệp báo trong hạnh hiếu - 05/08/2016
Chuyên đề
Video giới thiệu
- 1
- 2
- 3
- 4
- 5
- 6
- 7
- 8
- 9
- 10
- 11
- 12
- 13
- 14
- 15
- 16
- 17
- 18
- 19
- 20
- 21
- 22
- 23
- 24
- 25
- 26
- 27
- 28
- 29
- 30
- 31
- 32
- 33
- 34
- 35
Tìm kiếm
Sách mới
- Thanh Từ Toàn Tập - Quyển 14: Luận Bộ Giảng Giải 3 - Phật Thừa Tông Yếu Luận Giảng Giải
- Thanh Từ Toàn Tập Quyển 13: Luận Bộ Giảng Giải 2 - Đại Thừa Khởi Tín Luận, Thập Nhị Môn Luận Giảng Giải
- Thanh Từ Toàn Tập Quyển 12: Luận Bộ Giảng Giải 1 - Trung Luận giảng giải
- Thanh Từ Toàn Tập Quyển 11: Kinh Bộ Giảng Giải 11 - Kinh Hoa Nghiêm Trích Giảng (Tập 02)
- Thanh Từ Toàn Tập Quyển 10: Kinh Bộ Giảng Giải 10 - Kinh Hoa Nghiêm Trích Giảng (Tập 01)
Tin mới
Đọc nhiều
Ảnh đẹp
Lịch
Thống kê truy cập
- Lượt truy cập: 17753
- Online: 16
