Tỳ Ni Con Đường Chuyển Hóa Nội Tâm (Phần 08) - Chương III - Bài 7:Xuất đường (Ra Khỏi Nhà)
25/08/2026 | Lượt xem: 8
TT.Thích Đạt Ma Khế Định
BÀI 7: XUẤT ĐƯỜNG (Ra khỏi nhà)
Ở bài Tỳ Ni này Phật dạy cho người tu hành khi đi ra khỏi nhà, tâm hình phải khác người thế tục. Nghĩa là lúc ra khỏi nhà, oai nghi phải tề chỉnh, thân không lắc lư, mắt không liếc ngó hai bên, không vừa đi vừa chạy mà thong thả đi từng bước, không được vừa đi vừa khạc nhổ.
Kinh Phật Thuyết Nhân Duyên Tăng Hộ nói:
Ông thầy Tỳ kheo bị dao cắt mũi, đó chẳng phải Tỳ kheo mà là người địa ngục. Thời Phật Ca Diếp vị Tỳ kheo ấy là người xuất gia, hỷ nhổ làm dơ đất sạch của Phật tăng. Vì nhân duyên đó vào trong địa ngục, bị dao cắt mũi, bị lửa đốt, chịu khổ đến nay chưa dứt.
Như vậy, bài kệ Tỳ Ni này là giúp cho người tu Phật, khi đi ra khỏi nhà trước là phải oai nghi mô phạm. Vì sao? Vì người tu giống như tờ giấy trắng, chỉ cần một đốm mực đen nhỏ vào thì tất cả mọi người đều thấy.
Xưa Tôn giả Mã Thắng đi khất thực mà Ngài Xá Lợi Phất khi còn tu với phái ngoại đạo, chỉ cần thấy bóng dáng của Tôn giả, thì Ngài Xá Lợi Phất khởi tâm cung kính tìm đến học đạo với Thế Tôn, để sau này trở thành bậc Thượng thủ của chánh pháp.
Do đó, người tu Phật trước phải dùng thân giáo, sau mới dùng đến khẩu giáo là vậy! Sở dĩ chúng ta thấy trong lịch sử Phật giáo có những vị Cao Tăng đắc đạo, vì muốn nhiếp phục những kẻ can cường mà các Ngài phải thị hiện các phương tiện thiện xảo, để nhiếp phục chúng sanh.
Vì vậy qua bài pháp kệ Tỳ Ni này, Phật dạy trước khi ra khỏi nhà mắt nhìn xuống, không liếc ngó hai bên và thầm tưởng niệm tụng:
Tùng xá xuất thời
Đương nguyện chúng sanh
Thâm nhập Phật trí
Vĩnh xuất tam giới.
Nghĩa:
Lúc từ nhà ra
Cầu cho chúng sanh
Vào sâu trí Phật
Ra hẳn ba cõi.
Đây là bài kệ thứ bảy. Bài này nói lên ý nghĩa rất siêu thoát. Ở đây nói: Lúc từ nhà ra, ta cầu cho chúng sanh, vào sâu trí Phật, vượt thoát ba cõi. Song muốn thâm nhập trí Phật, thì điều kiện tiên quyết là ta phải hiểu thấu câu “Lúc từ nhà ra”. Nghĩa là ta phải “Xuất thế tục gia” – trước phải buông bỏ cái nhà thế tục. Vì sao? Vì nhà thế tục nếu ta không khéo tu, thì dễ vướng mắc vào danh vị, quyền uy, tranh danh đoạt lợi v.v… Nên ta phải dũng mãnh rời nhà thế tục mới mong thể nhập được trí Phật nhiệm mầu.
Trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Phật dạy:
“Người bị ràng buộc bởi vợ con, nhà cửa còn quá hơn lao ngục. Lao ngục còn có thời kỳ phóng thích, vợ con không một ý niệm xa lìa”.
Một khi tâm thích về sắc đẹp, thì đâu còn sợ gì đến gian nguy. Dẫu cho có sự hoạ họan nơi miệng hùm, lòng cũng đành chịu. Vì tự đắm mình nơi lầy lội, gọi là phàm phu, nếu hiểu được lẽ ấy, chính là bậc xuất trần La hán.
Đọc qua đoạn văn Kinh này chúng ta thấy rõ Đức Phật chỉ dạy cho chúng ta rằng: Một khi ta vướng vào vợ con, nhà cửa thì khó mà vượt thoát, giống như cá mắc lưới vậy! Song chúng ta được túc duyên còn sót lại trong thời quá khứ, nên ngày hôm nay ta mới có tướng được đầu tròn áo vuông. Tại sao ta không xét lại mà trong tâm còn mưu toan đủ thứ chuyện? Đúng ra càng tu thì tâm ma càng bớt, ngược lại càng tu thì tâm ma lại dẫy đầy. Bằng chứng khi mới bước chân vào đạo, ta đâu có nghĩ ta phải làm trụ trì, thủ bổn, thư ký, tri sự… Song tu một thời gian thì tâm Phật càng ngày càng mất, mà tâm ma thêm hưng thịnh. Nên người xưa nói: Nhất niên Phật tại tiền, nhị niên Phật thăng thiên, … là vậy!
Do đó người xưa dạy: Ra khỏi nhà thế tục chưa đủ, mà phải “Xuất phiền não gia” là vượt thoát nhà phiền não nữa. Sở dĩ ta càng tu mà tâm phiền não dẫy đầy, bởi vì ta ít có phản quan lại chính mình, quán chiếu sâu xa về túc duyên ta được tu đạo.
Nên Đại sư Liên Trì nhắn nhủ:
Hầu như mọi người khi mới xuất gia, tuy chí nguyện của họ có lớn nhỏ, nhưng ít nhiều cũng có đạo tâm. Dần dà, họ đều bị danh lợi làm ô nhiễm. Tiếp đó, họ xây dựng phòng xá, xem trọng áo mặc, mua nhà đất, nuôi tôi tớ, tích chứa tiền tài, hết mình làm chuyện thế gian, phan duyên, chẳng khác gì người thế gian cả. Kinh Phật nói có một người xuất gia học đạo thì thiên ma Ba tuần liền lo sợ. Khi người xuất gia biến thành một kẻ không khác thế tục, ma Ba tuần liền uống rượu chúc mừng. Người xuất gia phát Bồ-đề tâm, đầu tiên phải biết việc này mới phải.
Tôi có gặp một Sa môn tu khổ hạnh trên núi. Vừa xuống núi, có mấy mươi nam nữ Phật tử đến quy y cúng dường, lâu dần Sa môn ấy mất hết đạo lực, bận bịu túi bụi. Huống hồ gì có người lại làm những việc tồi tệ sao! Người xưa nói sau khi xuất gia rồi, cần phải ra khỏi nhà phiền não, lại phải cắt đứt duyên trần, là xuất gia sau xuất gia. Xuất gia trước xuất gia dễ, xuất gia sau xuất gia khó. Tôi vì việc này, cẩn thận hết sức, ngày đêm vô cùng lo lắng, sợ rằng mắc lỗi như trên”.
Thời Phật tại thế có Tỳ kheo Bạt-đề:
Khi chưa xuất gia, ông làm quan, sau khi quy y Phật ông chuyên tu hạnh đầu đà, chỉ ngủ dưới gốc cây và tinh cần thực hành thiền quán. Một đêm, trong lúc hành thiền bỗng ông reo lên: “Hạnh phúc quá! Hạnh phúc quá!”
Những vị Tỳ-kheo đang tu tập gần đó hết sức ngạc nhiên không ai hiểu chuyện gì. Sáng hôm sau có một vị đến trình sự việc đó với Đức Phật rằng:
Bạch Thế Tôn, tối hôm qua trong lúc chúng con tọa thiền, chúng con nghe Tỳ kheo Bạt Đề reo lên: Hạnh phúc quá! Hạnh phúc quá! Có lẽ Tỳ kheo Bạt Đề cảm thấy không thoải mái và đang nhàm chán đời sống xuất gia, nên vị ấy nghĩ đến đời sống thế tục giàu sang danh vọng trước kia mà thốt lên như thế.
Trưa hôm đó, Phật cho gọi Tỳ kheo Bạt Đề vào hỏi nguyên do. Đứng trước chúng hội đông đảo, Tỳ kheo Bạt Đề chắp tay bạch Phật:
Bạch Thế Tôn, ngày trước con làm quan, cuộc sống giàu sang, có quyền lực, danh vọng địa vị, vợ đẹp con xinh, kẻ hầu người hạ, thế mà con không cảm thấy an ổn, thoải mái, không cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc, con luôn sống trong căng thẳng, lo âu, phiền muộn, sợ hãi. Lo chuyện an nguy, thịnh suy được mất, ngày ăn không ngon, đêm ngủ không yên giấc. Từ khi xuất gia, con không còn tài sản của cải, quyền lực danh vọng, không còn nhà cao cửa rộng, kẻ hầu người hạ, mỗi ngày chỉ ăn một bữa cơm thanh đạm, tối đến ngủ dưới gốc cây, thế mà lòng con cảm thấy thảnh thơi an lạc. Đêm hôm qua trong lúc thiền định, con cảm nhận được niềm an lạc hạnh phúc vô biên mà trước đây chưa từng cảm nhận được, nên buột miệng thốt lên lời vui mừng làm kinh động đến Thế Tôn và các bạn đồng tu. Con xin thành tâm sám hối!”.
Đức Phật đã khen Tỳ kheo Bạt-đề rằng:
Hay lắm, này Bạt Đề! Ông đang đi những bước vững chãi, thảnh thơi an lạc trên lộ trình giải thoát. Niềm an lạc của ông, cả chư thiên cũng ước ao huống chi là người đời!.
Hầu như mọi người đều xem mục tiêu của đời mình là làm sao để tồn tại trên thế gian và hưởng thụ được nhiều lạc thú, thỏa mãn những nhu cầu, tham muốn của bản thân. Và người ta cật lực thực hiện điều đó bằng mọi sức lực và khả năng mình có được. Nhưng ít ai lưu tâm đến một điều rằng: Lòng tham muốn của con người thì vô cùng tận, nó chỉ có thể tìm thấy sự thỏa mãn tạm thời chứ không thể lâu dài được, chính vì thế con người thường rơi vào khủng hoảng, thất vọng và mệt mỏi.
Cho nên có một thứ hạnh phúc mà ít người biết đến, đó là hạnh phúc của sự từ bỏ, thoát khỏi mọi ràng buộc, hệ luỵ của cuộc đời. Tuy từ bỏ những niềm vui thế tục tưởng chừng như không còn gì cả, cuộc sống trở nên vô vị, nhưng hóa ra lại tìm thấy được nguồn chơn hạnh phúc, một thứ hạnh phúc mà không ai có thể cướp đi, bởi nó không gắn liền với lo âu, sợ hãi. Tuy nhiên, chỉ có thể cảm nhận được nguồn hạnh phúc đó khi dám từ bỏ tất cả những gì mà người đời tìm kiếm, mong muốn sở hữu.
Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng trong quá khứ đã có không ít vua, quan từ bỏ đời sống vương giả, các bậc trưởng giả từ bỏ cuộc sống giàu sang danh vọng, thậm chí nhiều nhà khoa học, nhà chính trị, triết gia.v.v.. cũng sẵn sàng từ bỏ danh tiếng để trở thành những người tu hành. Phải chăng “xuất thế tục gia” là một niềm vui lớn? Có lẽ đúng nhưng chưa đủ nếu chúng ta chưa “xuất được cái phiền não gia” vốn cố hữu trong tâm mình. Và khi sầu ưu bi khổ não của cuộc đời được loại trừ thì đó chính là thứ hạnh phúc mà không có thứ hạnh phúc nào khác trên thế gian này có thể so sánh được. Đó là niềm vui của thiền duyệt vi thực, của pháp hỷ sung mãn từ việc tu học Phật pháp phát xuất từ bên trong chứ không còn phải bám đuổi theo những thứ ngũ dục vốn biến động vô thường ở bên ngoài và tiềm ẩn nhiều hệ lụy khổ đau.
Trong Truy Môn Cảnh Huấn ghi sáu điều khó khăn để rồi tự mừng cho mình đã được tu đạo:
- Một là trong muôn loài, thân người rất khó mà có được.
Như Kinh Đề Vi nói:
“Nay được làm thân người khó hơn cả rùa mù”.
- Hai là tuy được làm thân người, nhưng lại khó được sanh ở trung quốc, nơi này ở chính giữa các miền biên giới, có đầy đủ Kinh luật chánh pháp Đại Thừa.
- Ba là tuy được chánh pháp, nhưng có được lòng tin tưởng ưa thích lại là chuyện khó, nay tùy lực mà tin tưởng, chẳng dám nghi ngờ phỉ báng.
- Bốn là thân người khó mà được đầy đủ, nay được hình nam, nam căn không bị tàn khuyết, tướng mạo thành tựu.
- Năm là tuy có đầy đủ nam hình, sáu căn chẳng thiếu, nhưng bị năm thứ tham dục quấn quýt làm cho bị ô nhiễm, rất khó mà xuất gia được. Nay được cắt tình với người thân yêu xuất gia tu đạo, được mặc áo của Phật, được thọ tịnh giới của Phật.
- Sáu là tuy đã thọ cấm giới, nhưng việc theo giới rất khó. Nay ngược lại có thể ở trong giới luật, tôn trọng ưa thích giới luật, biết hổ thẹn nên phải giữ gìn cẩn thận.
Đối với sáu điều đó, nếu chẳng quan sát ắt sẽ phóng dật, trở ngại rất lớn cho Thánh đạo. Đã vượt được sáu điều khó khăn đó rồi, thì luôn luôn phải vui mừng vì những thứ khó đã được, được rồi thì chớ để mất đi. Suy nghĩ như vậy thì gọi là tĩnh tâm.
Đọc qua sáu điều trên đây, cho chúng ta một cái nhìn xuyên suốt về túc duyên trong thời quá khứ. Ngày hôm nay chúng ta có túc duyên vào chùa học đạo, là do trong thời quá khứ ta đã từng vun bồi công đức tu tập. Tại sao ngày nay được đầy đủ tứ sự cúng dường ta lại sanh tâm tật đố, ích kỷ, ghen ghét người hiền tài? Ta phải chín chắn chiêm nghiệm lại chỗ này! Chớ không thì gieo nhân xuất gia, mà gặt lấy quả địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Như vậy, phàm là bậc tu nhân tích đức không luận là xuất gia hay tại gia, chúng ta một khi làm việc gì, nói điều gì, ý nghĩ điều gì phải luôn luôn chánh niệm thu thúc sáu căn, đừng để một niệm thô ác tật đố, hãm hại người có đức. Vì sao? Vì một niệm phóng ra thì tác thành nhân quả nghiệp báo vậy!
Ngay đây hành giả phải một bước là nhảy vào đất Thánh, tuy là đời này chưa giải thoát, song chúng ta phát nguyện kể từ đây cho đến ngày thành Phật, không khởi niệm hãm hại người nào, dù người kia có làm cho mình xúc não. Đây chính là cửa ngõ vào đạo, là chỗ cực tắt đến thành Niết Bàn. Vì sao? Vì chúng ta ngày nay mang hình tướng tu sĩ tức là quyến thuộc của Tiên Thánh vậy! Mà đã là quyến thuộc của Tiên Thánh thì tâm ma phải ngày càng thuyên giảm, thì sự tu hành mới có ngày ngộ nhập được.
Do đó vua Nhân Tông Triều Tống tán thán chư Tăng:
“Những bậc tôn quý nhất trên thế gian không ai bằng những vị xả tục xuất gia. Nếu được làm Tăng sĩ, thì mới thọ nhận sự cúng dường của trời người. Làm đệ tử của đấng Thế Tôn tức là quyến thuộc của Tiên Thánh, vào nơi cửa vàng, đến cung điện bảo tạng. Hươu trắng dâng hoa, khỉ vượn cúng trái. Xuân nghe chim hót líu lo, vang tiếng điệu nhạc cõi trời. Hạ nghe ve kêu trên mây cao, biết rõ mùa nóng đã đến. Thu ngắm trời xanh, gió trong trăng sao chiếu vàng. Đông xem tuyết phủ đỉnh núi, sông ngòi. Ngồi thiền trên bồ đoàn thân ấm áp. Dẫu sóng ba đào nổi dậy, vẫn cưỡi tích trượng thăng hư không. Mười đại quân ma khi nghe danh vẫn phải hàng phục quy y chánh đạo. Vang tiếng gõ bảng bèn lên vân đường lễ cúng. Nghe tiếng chuông bèn lên chánh điện tụng Kinh. Mọi việc đều như ý, muôn loài hiện thành, lúc sống làm thầy trời người, lúc chết quyết định quy y Thánh quả”.
Như vậy, bước đầu là “Xuất thế tục gia” chưa đủ mà phải là “Xuất phiền não gia”. Song muốn vào sâu trí Phật thì phải “Xuất tam giới gia” nghĩa là phải ra khỏi nhà tam giới. Vì sao? Vì trong Kinh, Đức Phật dạy: “Ba cõi không an giống như nhà lửa”.
Ba cõi là: Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới vậy.
1. Dục giới:
- Chư thiên cõi Dục giới vẫn còn dâm dục. Trời Tứ Thiên Vương dâm dục như người thế gian.
- Chư Thiên cõi trời Đao Lợi chỉ ôm nhau âu yếm liền thành sự dâm.
- Tại cõi trời Dạ Ma, chư Thiên nắm tay nhau, bèn thành sự dâm.
- Chư Thiên cõi trời Đâu Suất, mỉm cười với nhau liền thành sự dâm.
- Chư Thiên cõi trời Hóa Lạc ngó nhìn nhau, thì thành sự dâm.
- Chư Thiên cõi trời Tha Hóa vừa nháy mắt nhau, thì thành sự dâm.
Kinh Lăng Nghiêm nói:
“Sáu cõi trời như thế, hình tướng tuy không đồng, nhưng tâm đã giao hợp”, vì vậy gọi là Dục giới.
2. Cõi trời sắc giới:
Cõi trời Sắc giới không còn dâm dục, nhưng vẫn còn sắc thân.
Kinh Lăng Nghiêm nói:
“Chư Thiên ở 18 cõi trời, hành hạnh đơn độc, không giao hợp nhưng chưa hết phiền lụy vì sắc thân, tức là sắc thể vi tế, nên gọi là cõi Sắc giới. Tuy không có sắc thể thô kệch, nhưng vẫn còn sắc tướng vi tế”.
3. Cõi Vô sắc:
Kinh Tịnh Danh Lưu bảo:
“Nếu không hiểu giáo nghĩa thì cho rằng cõi Vô sắc không có sắc tướng. Nếu hiểu giáo nghĩa biết cõi Vô sắc vẫn còn có sắc tướng”.
Kinh Niết Bàn nói:
“Sắc tướng của cõi Vô sắc, Thanh Văn, Duyên Giác chẳng thể biết được”.
Kinh Lăng Nghiêm nói:
“Nơi bốn cõi trời không thiên, thân tâm diệt tận, nhưng định tính vẫn hiện tiền, và không có sắc tướng của nghiệp quả. Từ đó cho đến lúc mạng chung, được gọi là sống trong cõi Vô sắc”.
Như vậy, chúng ta thấy rõ ba cõi Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới tuy là tuổi thọ dài hạn. Song cũng đều nằm trong vòng sanh diệt.
Kinh Pháp Hoa Phật nói:
“Tam giới vô an, du như hỏa trạch”.
Nhưng muốn thoát khỏi nhà lửa này, đòi hỏi người tu Phật phải ngộ nhập tri kiến Phật. Vì sao? Vì thấy đúng như Phật rồi, thì không lầm chấp các pháp nữa. Từ đó ta quét sạch tập khí, đến lúc nào đó hoa lòng bỗng nhiên bùng nở. Ấy là lúc nhận ra mặt mày xưa nay của chính mình. Do đó nói:
Lúc từ nhà ra
Cầu cho chúng sanh
Vào sâu trí phật
Ra hẳn ba cõi.
Các bài mới
- Tỳ Ni Con Đường Chuyển Hóa Nội Tâm (Phần 07) - Chương III - Bài 6:Hành Bộ Bất Thương Trùng(Bước Đi Không Hại Sâu Bọ) - 21/07/2026
- Tỳ Ni Con Đường Chuyển Hóa Nội Tâm (Phần 07) - Chương III - Bài 5:Hạ Đơn (Xuống Đơn) - 14/05/2026
- Tỳ Ni Con Đường Chuyển Hóa Nội Tâm (Phần 06) - Chương III - Bài 4:Trước Y ( Mặc Áo) - 27/04/2026
- Tỳ Ni Con Đường Chuyển Hóa Nội Tâm (Phần 05) - Chương III - Bài 3: Văn Chung (Nghe Chuông) - 22/03/2026
- Tỳ Ni Con Đường Chuyển Hóa Nội Tâm (Phần 04) - Chương III - Bài 2: Minh Chung (Thỉnh Chuông) - 19/03/2026
Các bài đã đăng
- Tỳ Ni Con Đường Chuyển Hóa Nội Tâm (Phần 03) - Chương III - Bài 1:Tảo Giác ( Sáng Sớm Thức Dậy) - 12/03/2026
- Tỳ Ni Con Đường Chuyển Hóa Nội Tâm (Phần 02) - Chương II: Tác Phẩm Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu - 03/03/2026
- Tỳ Ni Con Đường Chuyển Hóa Nội Tâm (Phần 01) - Chương 1: Khái Quát Về Giới Luật - 14/02/2026
- Oai nghi - Con đường của sự tỉnh thức ( Phần 24): Danh và Tướng của Y bát - 04/08/2018
- Oai nghi - Con đường của sự tỉnh thức ( Phần 23 ):Đi tham học phương xa - 23/07/2018
Kinh - Luật - Luận
Video giới thiệu
- 1
- 2
- 3
- 4
- 5
- 6
- 7
- 8
- 9
- 10
- 11
- 12
- 13
- 14
- 15
- 16
- 17
- 18
- 19
- 20
- 21
- 22
- 23
- 24
- 25
- 26
- 27
- 28
- 29
- 30
- 31
- 32
- 33
- 34
- 35
Tìm kiếm
Sách mới
- Thanh Từ Toàn Tập - Quyển 14: Luận Bộ Giảng Giải 3 - Phật Thừa Tông Yếu Luận Giảng Giải
- Thanh Từ Toàn Tập Quyển 13: Luận Bộ Giảng Giải 2 - Đại Thừa Khởi Tín Luận, Thập Nhị Môn Luận Giảng Giải
- Thanh Từ Toàn Tập Quyển 12: Luận Bộ Giảng Giải 1 - Trung Luận giảng giải
- Thanh Từ Toàn Tập Quyển 11: Kinh Bộ Giảng Giải 11 - Kinh Hoa Nghiêm Trích Giảng (Tập 02)
- Thanh Từ Toàn Tập Quyển 10: Kinh Bộ Giảng Giải 10 - Kinh Hoa Nghiêm Trích Giảng (Tập 01)
Tin mới
Đọc nhiều
Ảnh đẹp
Lịch
Thống kê truy cập
- Lượt truy cập: 18460
- Online: 15
