Kinh Pháp Bảo Đàn - Tào Khê Nguyên Bản giảng ký: Phẩm 09 PHÁP MÔN ĐỐI NHAU CHỈ DẠY

23/02/2020 | Lượt xem: 136

Dịch giảng: HT.Thích Thông Phương

CHÁNH VĂN:

Một hôm, Sư gọi môn nhân Pháp Hải, Chí Thành, Pháp Đạt, Thần Hội, Trí Thường, Trí Thông, Chí Triệt, Chí Đạo, Pháp Trân, Pháp Như v.v... bảo: 

Các ông chẳng đồng với những người khác, sau khi tôi diệt độ, mỗi người sẽ làm thầy một phương. Nay tôi dạy cho các ông nói pháp chẳng mất bản tông. Trước cần nêu ra ba khoa pháp môn, động dụng thành 36 pháp đối, ra vào tức lìa hai bên, nói tất cả pháp chớ lìa tự tánh. Chợt có người hỏi pháp với ông, nói ra phải trọn đôi, đều lấy pháp đối, tới lui nhân nhau, rốt ráo trừ sạch hai pháp mà trọn không có chỗ trừ.

Ba khoa pháp môn đó là ấm, giới, nhập. Ấm là 5 ấm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nhập là 12 nhập: ngoài có 6 trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; trong có 6 cửa: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Giới là 18 giới: sáu trần, sáu cửa, sáu thức. Tự tánh hay bao gồm muôn pháp, gọi là hàm tàng thức. Nếu dấy lên nghĩ xét tức thành chuyển thức, sanh 6 thức, ra 6 cửa, thấy 6 trần. Như thế, 18 giới đều từ tự tánh khởi dụng. Tự tánh nếu tà, liền khởi 18 thức tà. Tự tánh nếu chánh, liền khởi 18 thức chánh. Gồm chứa các dụng ác tức dụng của chúng sanh, dụng thiện tức dụng của Phật. Dụng do những gì? Do từ tự tánh mà có. Pháp đối:

    * Cảnh vô tình bên ngoài có 5 pháp đối: Trời đối đất, mặt trời đối mặt trăng, sáng đối tối, âm đối dương, nước đối lửa. Đây là 5 pháp đối.

    * Pháp tướng nói năng có 12 pháp đối: Lời nói đối với pháp, có đối với không, có sắc đối với không sắc, có tướng đối với không tướng, có lậu đối với không lậu, sắc đối với không, động đối với tịnh, trong đối với đục, phàm đối với thánh, tăng đối với tục, già đối với trẻ, lớn đối với nhỏ. Đây là 12 pháp đối.

    * Tự tánh khởi dụng có 19 pháp đối: Dài đối với ngắn, tà đối với chánh, si đối với tuệ, ngu đối với trí, loạn đối với định, từ đối với độc, giới đối với quấy, thẳng đối cong, thật đối với hư, hiểm đối với bình, phiền não đối với Bồ-đề, thường đối với vô thường, bi đối với hại, mừng đối với giận, xả đối với sẻn, tiến đối với thoái, sanh đối với diệt, pháp thân đối với sắc thân, hóa thân đối với báo thân. Đây là 19 pháp đối.

Sư bảo: “36 pháp đối này, nếu khéo dùng tức đạo suốt thông tất cả kinh pháp, ra vào tức lìa hai bên, tự tánh động dụng, cùng người nói năng, ngoài đối với tướng mà lìa tướng, trong đối với không mà lìa không. Nếu toàn dính tướng tức thêm lớn tà kiến. Nếu toàn chấp không tức thêm lớn vô minh.

Người chấp không sẽ có chê bai kinh, nói thẳng chẳng dùng văn tự, song đã nói chẳng dùng “văn tự” người ấy cũng chẳng nên nói năng, chỉ lời nói này, chính là tướng văn tự rồi! Lại bảo rằng “nói thẳng chẳng lập văn tự”, chính hai chữ “chẳng lập” này, cũng là văn tự, mà thấy người nói ra, liền chê bai người ta, nói là dính mắc văn tự. Các ông nên biết, tự mê còn có thể, lại chê bai kinh. Chẳng nên chê bai kinh, tội chướng vô số.

Nếu chấp trước tướng bên ngoài mà tạo ra phương pháp để cầu chân, hoặc rộng lập đạo tràng nói lỗi có không; người như thế nhiều kiếp chẳng thể thấy tánh.

Chỉ cho y theo pháp tu hành, lại chớ trăm vật chẳng nghĩ mà ngăn bít tánh đạo. Nếu nghe theo lời nói mà chẳng tu, khiến người trở lại sanh tà niệm. Chỉ y theo pháp tu hành, bố thí mà không trụ tướng.

 Nếu các ông đã ngộ thì nương theo đây mà nói, nương theo đây mà dùng, nương theo đây mà hành, nương theo đây mà làm, tức chẳng mất bổn tông. Nếu có người hỏi nghĩa với ông, hỏi có thì đem không đáp, hỏi không thì đem có đáp, hỏi phàm thì đem thánh đáp, hỏi thánh thì đem phàm đáp, hai đường làm nhân cho nhau, sanh nghĩa trung đạo. Ông cứ một hỏi, một đáp, ngoài ra hỏi gì khác, cũng cứ y theo đây mà làm, tức chẳng sai mất lý. Giả sử có người hỏi: Sao gọi là tối? Đáp: Sáng là nhân, tối là duyên, sáng mất tức tối. Lấy sáng để hiển tối, đem tối để hiển sáng, tới lui nhân nhau, thành nghĩa trung đạo. Ngoài ra hỏi cái khác thảy đều như đây. Các ông về sau truyền pháp, nương theo đây mà lần lượt truyền dạy cho nhau, chớ để sai mất tông chỉ”.

 

GIẢNG:

Một hôm, Sư gọi môn nhân Pháp Hải, Chí Thành, Pháp Đạt, Thần Hội, Trí Thường, Trí Thông, Chí Triệt, Chí Đạo, Pháp Trân, Pháp Như v.v... bảo:

- Các ông chẳng đồng với những người khác, sau khi tôi diệt độ, mỗi người sẽ làm thầy một phương. Nay tôi dạy cho các ông nói pháp chẳng mất bản tông. Trước cần nêu ra ba khoa pháp môn, động dụng thành 36 pháp đối, ra vào tức lìa hai bên, nói tất cả pháp chớ lìa tự tánh. Chợt có người hỏi pháp với ông, nói ra phải trọn đôi, đều lấy pháp đối, tới lui nhân nhau, rốt ráo trừ sạch hai pháp mà trọn không có chỗ trừ.

Tổ chỉ dạy cách nói pháp mà chẳng kẹt hai bên, không nói theo một chiều, khiến người nghe không chấp kẹt một bên, không thấy có pháp thật để được. Chúng ta ở thế gian, thường chỉ xác nhận một chiều nên mắc kẹt, không thông suốt được. Xác nhận một chiều là chấp vào pháp, cho là thật. Tổ dạy pháp không thật có, do tạm đối nhau mà lập. Rốt ráo cũng không thật có pháp để trừ, không phá hoại pháp.

Ba khoa pháp môn đó là ấm, giới, nhập. Ấm là 5 ấm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nhập là 12 nhập: ngoài có 6 trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; trong có 6 cửa: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Giới là 18 giới: sáu trần, sáu cửa, sáu thức. Tự tánh hay bao gồm muôn pháp, gọi là hàm tàng thức. Nếu dấy lên nghĩ xét tức thành chuyển thức, sanh 6 thức, ra 6 cửa, thấy 6 trần. Như thế, 18 giới đều từ tự tánh khởi dụng. Tự tánh nếu tà, liền khởi 18 thức tà. Tự tánh nếu chánh, liền khởi 18 thức chánh. Gồm chứa các dụng ác tức dụng của chúng sanh, dụng thiện tức dụng của Phật. Dụng do những gì? Do từ tự tánh mà có.

Tổ nói rộng ra  về ba khoa pháp môn là ấm, giới, nhập. Ba khoa pháp môn cũng không rời ngoài tự tánh riêng có, tuy chia ra năm ấm, mười hai nhập, mười tám giới nhưng cũng là phương tiện giáo hóa, tạm lập bày để chỉ dẫn cho người chứ không phải pháp thật. Người không biết nghe vậy liền chấp năm ấm, mười hai nhập, mười tám giới đều là thật có, vậy là lầm ý Phật.

Ngay khi nói năm ấm, người lanh lợi liền hiểu rõ không thật có, bởi năm ấm là sắc, thọ, tưởng, hành, thức chỉ chung cho thân và tâm, sắc chỉ cho thân vật chất thuộc bốn đại, tâm có bốn là thọ, tưởng, hành, thức. Thân tâm hợp lại tạm gọi là người, vậy con người này chỉ là con người của năm ấm vậy thôi, không có ngã thể thật. Bởi một người tại sao lại có năm thứ tức năm ấm, rõ ràng là không thật. Nói theo ngôn ngữ bình dân thì con người là một tổ hợp năm ấm, năm ấm hợp lại thì còn, tổ hợp đó rã ra thì chết. Vậy cái gì là con người? Tức không có cái ngã thật. Người không hiểu nghe nói năm ấm, lại chấp năm ấm là thật cũng là lầm.

Cũng vậy, mười hai nhập là sáu căn, sáu trần, căn mà có đến sáu để cho sáu trần đi vào, đó cũng là phương tiện chỉ dạy, không phải thật có sáu thể. Mười tám giới như: Nhãn thức giới, nhĩ thức giới v.v… Một người có sáu thức theo sáu căn để phân biệt sáu trần. Nếu chấp thật có cái biết của mắt, cái biết của lỗ tai, cái biết lỗ mũi v.v… thành ra một người có sáu cái biết, tức có sáu tâm, khi thành Phật thành sáu ông Phật, vậy thì ông Phật nào là Phật chính! Ngay đó phải hiểu ý của Phật sở dĩ chia ra để thấy rõ không có thật ngã, do mê mà vọng thành có sai biệt chứ thể vốn không hai. Tổ nói: “Tự tánh hay bao gồm muôn pháp gọi là hàm tàng thức”. Tức tạng thức, thức thứ tám, giống như cái kho chứa tất cả những chủng tử thiện ác, từ đó dấy lên nghiệp thiện ác. Nếu chứa chủng tử ác dấy lên thành tác dụng ác, chứa chủng tử thiện dấy lên thành tác dụng thiện. Tức huân tập theo chiều thiện thì thành thiện, huân tập theo chiều ác thì thành ác, vậy thiện ác cũng không thật, bản chất của nó không thiện không ác. Người thường mắc kẹt theo thiện ác, thấy thiện cho là thiện thật, thấy ác cho là ác thật, sự thật không phải vậy. Ác hay thiện đều do nghiệp huân tập, chứ không thật có người thiện cũng không thật có người ác, không thật có tự ngã.

“Nếu dấy lên nghĩ xét tức thành chuyển thức”. Ví như biển chỉ có một, nhưng khi gió thổi biển dậy sóng thì thấy dường như có sai biệt. Biển dậy sóng là dụ cho chuyển thức. Khi này, mặt biển không còn là một mà thấy muôn ngàn lượn sóng, thấy sóng nổi lên chìm xuống, có lượn sóng lớn lượn sóng nhỏ, lượn sóng trước lượn sóng sau, tức thấy có sanh-diệt, lớn-nhỏ, trước-sau. Nhìn trên những lượn sóng đó dễ lầm, tất cả chúng sanh đều lầm chỗ này, thấy thật có sanh diệt, rồi muốn bỏ sanh diệt để cầu Niết-bàn không sanh không diệt. Nhưng Niết-bàn ở đâu? Ngoài những làn sóng đó riêng có biển không? Chúng ta dễ lầm chỗ đó, muốn bỏ sóng cầu biển, bỏ sanh tử cầu Niết-bàn. Sự thật ngoài sóng không riêng có biển, ngoài biển không riêng có sóng, tức ngoài sanh tử không riêng có Niết-bàn, cũng như ngoài Niết-bàn không riêng có sanh tử. Chúng sanh mê Niết-bàn nên “vọng khởi” sanh tử, cũng như mê biển mà vọng khởi thành sóng. Sóng lặng thì trở về biển, không có lượn sóng nào ra khỏi biển, nếu ra khỏi biển thì không còn là sóng, hoặc là sóng trên hình ảnh hay trên văn tự. Sóng linh động phải ngay biển chứ không rời biển. Hiểu vậy thì không lầm theo chuyển thức rồi theo đó lưu chuyển.

Khi thành chuyển thức rồi thì sanh sáu thức phát ra sáu cửa phân biệt sáu trần, tức thấy có sai biệt. Chỉ có một biển tàng thức mà chuyển thành sóng thức thì có sai biệt, nhưng chỉ là “vọng sai biệt” chứ không thật có “tánh sai biệt”, nên Phật nói không có tự ngã.

Kinh Tương Ưng Sáu Xứ, Phật nói: “Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi. Tai là vô ngã... Mũi là vô ngã... Lưỡi là vô ngã... Thân là vô ngã...”. Như vậy, người khéo tu cần tỏ ngộ trở lại tự tánh không hai mới là chỗ gốc chân thật, mới không lầm theo các thức mà thành lưu chuyển, mê ngộ là ngay chỗ đó.

Bởi căn cơ mỗi người sai khác nhau nên Phật nói nhiều pháp môn để ứng hợp với mọi căn cơ, nhưng xét cho cùng thì tu ngay sáu căn là đủ chứ không thiếu. Tu ngay sáu căn thì không phải đợi lên chùa hoặc lên thiền đường mới tu mà lúc nào cũng tu được, tu ngay cuộc sống hàng ngày, vì sáu căn luôn tiếp xúc với sáu trần. Sáu căn đối với sáu trần mà luôn tỉnh sáng, không mê theo sáu trần, đó là chỗ tu thực tế nhất, ngay đó là chỗ trở về.

Nay hàm tàng thức thứ tám dấy nghĩ xét lên thành chuyển thức, đi ra sáu căn thấy sáu trần là đi theo chiều mê. Theo chiều giác là cũng ngay đó, sáu căn thấy sáu trần nhưng không mê theo sáu trần mà quay trở lại, nhớ trở lại, đó là đường về. Đường mê hay giác cũng ngay chỗ sáu căn. Hiểu vậy thì thấy trọng yếu của kinh điển hệ Nguyên thủy hay kinh điển hệ Phát triển cũng nhắm ngay chỗ đó. Hệ Nguyên thủy, Phật dạy thu thúc sáu căn không đi theo sáu trần. Hệ Phát triển như kinh Kim Cang, Phật dạy: “Chẳng nên trụ sắc sanh tâm, chẳng nên trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm”. Ngay đó thấy được đường về.

     * Cảnh vô tình bên ngoài có 5 pháp đối: Trời đối đất, mặt trời đối mặt trăng, sáng đối tối, âm đối dương, nước đối lửa. Đây là 5 pháp đối.

Các pháp đối nhau mà tạm lập, trời đối với đất mà có, nếu không có đất thì không có trời. Mặt trời đối với mặt trăng, sở dĩ có lập mặt trời là do có mặt trăng, nếu bỏ mặt trời thì không thành mặt trăng. Sáng đối với tối, nếu không có tối thì không có sáng. Âm đối với dương, nước đối với lửa cũng đều như vậy.

     * Pháp tướng nói năng có 12 pháp đối: Lời nói đối với pháp, có đối với không, có sắc đối với không sắc, có tướng đối với không tướng, có lậu đối với không lậu, sắc đối với không, động đối với tịnh, trong đối với đục, phàm đối với thánh, tăng đối với tục, già đối với trẻ, lớn đối với nhỏ. Đây là 12 pháp đối.

Vậy thì phàm thánh, tăng tục, già trẻ, lớn nhỏ, hữu lậu vô lậu đều là pháp đối nhau chứ không phải cố định thật.

     * Tự tánh khởi dụng có 19 pháp đối: Dài đối với ngắn, tà đối với chánh, si đối với tuệ, ngu đối với trí, loạn đối với định, từ đối với độc, giới đối với quấy, thẳng đối cong, thật đối với hư, hiểm đối với bình, phiền não đối với Bồ-đề, thường đối với vô thường, bi đối với hại, mừng đối với giận, xả đối với sẻn, tiến đối với thối, sanh đối với diệt, pháp thân đối với sắc thân, hóa thân đối với báo thân. Đây là 19 pháp đối.

Năm pháp đối của cảnh vô tình bên ngoài, mười hai pháp đối của pháp tướng nói năng, mười chín pháp đối của tự tánh khởi dụng, cộng thành ba mươi sáu pháp đối. Người nói pháp phải thông suốt để khéo ứng dụng không lầm theo một bên, một chiều. Biết rõ đây là những pháp đối nhau tạm lập, không phải cố định thật như thế. Thí dụ phải quấy cũng tùy theo tập quán phong tục, tùy theo thời điểm lập ra chứ không cố định, có khi ở đây thấy phải nhưng chỗ khác thấy quấy, xưa thấy phải giờ thấy quấy.

Sư bảo: “36 pháp đối này, nếu khéo dùng tức đạo suốt thông tất cả kinh pháp, ra vào tức lìa hai bên, tự tánh động dụng, cùng người nói năng, ngoài đối với tướng mà lìa tướng, trong đối với không mà lìa không. Nếu toàn dính tướng tức thêm lớn tà kiến. Nếu toàn chấp không tức thêm lớn vô minh.

“Ba mươi sáu pháp đối này nếu khéo dùng tức đạo suốt thông tất cả kinh pháp”. Thông suốt yếu chỉ Lục Tổ chỉ dạy thì đạt được yếu chỉ của các kinh, rõ thấu tất cả đều là đối đãi nhau tạm lập, thế nên không chấp cứng vào một pháp nào cho là thật mà thành ngăn ngại. Chính đó là chỗ tu hành của chúng ta, phàm-thánh, tà-chánh, Bồ-đề phiền não đều đối nhau thành lập chứ không thật. Hiểu rõ thì chúng ta không mặc cảm mình là chúng sanh mãi, bởi chúng sanh cũng do đối đãi tạm lập, nếu tu hành giác ngộ thì chuyển chúng sanh, khi ấy không còn tên chúng sanh mà chuyển thành tên Hiền Thánh. Nếu cố định chúng sanh, cố định phàm, cố định phiền não thì chúng ta hết tu, chính vì phiền não không cố định nên chúng ta tu để chuyển phiền não thành Bồ-đề.

“Ra vào tức lìa hai bên”. Hiểu vậy thì nói pháp không kẹt theo tình phân biệt. “Tự tánh động dụng, cùng người nói năng, ngoài đối với tướng mà lìa tướng, trong đối với không mà lìa không”. Luôn luôn không rời tự tánh, nói năng chỉ là phương tiện để giao thiệp với người chớ không mắc kẹt theo nói năng, nói năng mà không mê. Ngoài lìa tướng, trong lìa không, không kẹt trong ngoài, không kẹt có không, không rơi vào văn tự, chỉ tùy thời phá chấp cho người. Người không biết thì khi nói xác định phải đúng như lời nói, không cho ai nói khác, đó là cố chấp. Phật dạy khác với thế gian, thế gian khi dạy người là buộc phải nghe theo. Phật nói: “Ta thuyết pháp bốn mươi chín năm mà chưa từng nói một chữ”. Vậy chúng ta nghe gì đây! Cho thấy rằng Phật nói ra nhưng không cho người chấp vào lời nói, quan trọng phải đạt cái ý bởi ngôn ngữ rất có giới hạn, không diễn tả hết ý được. Người chấp vào ngôn ngữ tức bám vào lời nói rồi suy nghĩ theo ý của riêng mình nên dễ hiểu lầm.

“Nếu toàn dính tướng tức thêm lớn tà kiến”. Dính nơi tướng tuy hiểu biết nhiều nhưng hiểu lệch lạc, sai lầm thành tà kiến, bởi dính tướng thì bị tướng che mờ. “Nếu toàn chấp không tức thêm lớn vô minh”. Chấp không, là chìm trong không thì bác tất cả, cái gì cũng không, nên càng bày cái mê của mình. Học Phật là không kẹt có cũng không kẹt không thì tâm lúc nào cũng sáng.

Người chấp không sẽ có chê bai kinh, nói thẳng chẳng dùng văn tự, song đã nói chẳng dùng “văn tự” người ấy cũng chẳng nên nói năng, chỉ lời nói này, chính là tướng văn tự rồi! Lại bảo rằng “nói thẳng chẳng lập văn tự”, chính hai chữ “chẳng lập” này, cũng là văn tự, mà thấy người nói ra, liền chê bai người ta, nói là dính mắc văn tự. Các ông nên biết, tự mê còn có thể, lại chê bai kinh. Chẳng nên chê bai kinh, tội chướng vô số.

Lục Tổ chỉ ra chỗ lầm mê của người chấp không, nghe nói không cho chấp văn tự, chúng ta lại mắc kẹt vào đó rồi bác bỏ văn tự. Nếu bác bỏ văn tự thì không có đi nghe pháp, không khéo là chê bai kinh luôn! “Nói thẳng chẳng dùng văn tự, song đã nói chẳng dùng văn tự, người ấy cũng chẳng nên nói năng, chỉ lời nói này chính là tướng văn tự rồi”. Khi “nói” chẳng dùng văn tự thì đã dùng văn tự rồi. “Lại bảo rằng nói thẳng chẳng lập văn tự”. Bốn chữ “chẳng lập văn tự” chính là văn tự, ngay đó đã dính mắc văn tự mà không hay. Chúng ta hay lầm theo chữ nghĩa, nghe nói chẳng cho chấp văn tự, cho rằng kinh cũng là văn tự chữ nghĩa rồi bác bỏ cả kinh, nhưng sự thật chính mình chưa sáng tỏ, nói “không” nhưng không ở trên miệng, mà tâm thấy “có” vì còn chấp. Dù nói: “Tôi nói thẳng ra không dùng văn tự”, nhưng chính lời đó cũng là văn tự rồi! Hoặc bảo: “Tôi nói thẳng chẳng lập văn tự”, nhưng chính hai chữ “chẳng lập” cũng là lập, cũng là văn tự rồi!

Mới thấy đó là mê chấp chứ không thật sáng tỏ, chê người kẹt văn tự nhưng chính mình cũng vướng mắc văn tự. Nghe nói đừng chấp vào văn tự rồi bác văn tự tức là chúng ta đang “chấp vào lời nói đó”, vậy là vẫn y nguyên kẹt vào văn tự mà không hay, chính đó là bệnh nặng bởi bệnh mà không thấy mình bệnh, không chịu uống thuốc, đó mới là nguy hiểm! Cho nên Tổ nói không khéo thành chê bai kinh, mang khẩu nghiệp thành tội chướng không lường được.

Thiền sư Trí Cự hiệu Khương Tuệ. Một hôm nhân Sư đang xem kinh, có vị tăng hỏi:

- Thiền tăng tâm chẳng kẹt ở lời của Tổ thì đâu được học nhiều.

Sư bảo:

- Văn tự tánh khác, pháp pháp thể không, mê thì câu câu sanh nhọt độc, ngộ thì lời lời đều là Bát-nhã, nếu không có lấy bỏ thì đâu có hại gì mà tròn được ý.

Nếu mê thì câu nào cũng đều thành nhọt độc, nếu ngộ thì lời lời đều Bát-nhã, đâu có chướng. Bởi văn tự không có lỗi mà lỗi vì chấp văn tự, cũng vậy kinh không lỗi mà lỗi tại người chấp vào kinh, cho nên chỉ phá tình chấp kia chứ không phá văn tự.

Nếu chấp trước tướng bên ngoài mà tạo ra phương pháp để cầu chân, hoặc rộng lập đạo tràng nói lỗi có không; người như thế nhiều kiếp chẳng thể thấy tánh.

Chấp tướng bên ngoài, tạo ra phương pháp để cầu chân, đó cũng là dối gạt, tức chạy theo hình tướng tạo tác, mong có cái để được, đó là trái với chân thật. Cầu chân mà cầu bên ngoài, theo hình tướng bên ngoài thì cái chân đó có được có mất, tức thuộc về tạo tác sanh diệt.

Ngài Đức Sơn có lời khai thị: “Dù ở trên đỉnh núi một mình, ngày ăn một bữa, ngồi mãi chẳng nằm, sáu thời lễ tụng vẫn còn hồ nghi sanh tử. Lão Hồ (Đức Phật) có nói “Các hạnh vô thường, là pháp sanh diệt”, nếu nói nhập định ngưng thần tịnh lự mà được thì bọn ni-kiền-tử… các thầy ngoại đạo cũng nhập định (nhập đại định) tám muôn kiếp đâu chẳng phải là Phật ư! Phải biết rõ tà kiến tinh mị”.

Đó là theo hình tướng bên ngoài tạo tác để cầu chân, có tạo tác đều thuộc về các hạnh vô thường, dù ở trên đỉnh núi một mình, ngày ăn một bữa, ngồi mãi chẳng nằm, sáu thời lễ tụng cũng thuộc về tướng tạo tác, chấp cho là thật thì vẫn mê. Nếu bỏ đó cũng là mê, tức lấy-bỏ đều mê. Người khéo biết dùng nó mới là trí, mượn đó làm phương tiện để tiến tu, quay trở lại, biết đó là phương tiện, không chấp thì đâu có lỗi. Như chấp vào ngồi thiền hoài, Lục Tổ nói: “Sống ngồi hoài chẳng nằm, chết thì nằm hoài chẳng ngồi”. Ngồi là phương tiện để điều phục tâm, nhưng sáng tâm thì không ở tướng ngồi.

Phải nhớ kỹ, có tạo tác là thuộc về các hạnh vô thường, rốt cuộc đều trở về sanh diệt, không thể cho đó là thật. Hơn nữa đây nói rộng lập đạo tràng nhưng lại nói lỗi có không cũng là hướng ra bên ngoài, là tạo nghiệp sanh tử, làm sao thấy tánh được! Tánh ở nơi tâm, không ở bên ngoài trên những tướng phân biệt, thế nên phải phản chiếu soi sáng trở lại chính mình mới là trọng yếu.

Chỉ cho y theo pháp tu hành, lại chớ trăm vật chẳng nghĩ mà ngăn bít tánh đạo. Nếu nghe theo lời nói mà chẳng tu, khiến người trở lại sanh tà niệm. Chỉ y theo pháp tu hành, bố thí mà không trụ tướng.

Chớ nghe nói y theo hình tướng bên ngoài là thuộc về tạo tác sanh diệt, như ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật, lễ lạy đều thuộc về hình tướng tạo tác, nghe vậy rồi không làm gì thì cũng mê mãi thôi, đó cũng là chấp theo lời nói. Nên nói: “Chỉ cho y theo pháp tu hành, lại chớ trăm vật chẳng nghĩ”. Nghe nói tu hành là phải vô niệm rồi đè không cho nghĩ gì gọi là trăm vật chẳng nghĩ, thành như cây khô, gỗ đá, cho đó là đạo, vậy cũng là lầm, bỏ có chấp không, làm ngăn bít trí tuệ. Lục Tổ đã dạy: “Ở trên niệm mà vô niệm, ở trên các pháp mà niệm niệm không dừng trụ”. Vậy là không phải một bề ngăn dẹp không cho nghĩ gì, mà đối với các pháp đều biết hết nhưng không dính không trụ, thấy sắc không trụ sắc, nghe tiếng không trụ nơi tiếng, ngửi mùi không trụ nơi mùi v.v... thế thì đâu có lỗi lầm gì. Chúng ta thấy sắc trụ nơi sắc, nghe tiếng trụ nơi tiếng, ngửi mùi trụ nơi mùi v.v... mê ở chỗ đó.

“Nếu nghe theo lời nói mà chẳng tu khiến người trở lại sanh tà niệm”. Nghe nói tự tánh thành tựu các công đức, tạo lập phương pháp để cầu chân là không phải, chấp vào lời đó rồi buông hết công phu chẳng chịu tu hành, cho các niệm mặc tình sanh khởi, như vậy cũng là tà niệm, chìm sâu trong sanh tử.

Phải là: “Chỉ y theo pháp tu hành, bố thí mà không trụ tướng”. Vậy là đâu phải bảo không làm, vẫn bố thí nhưng quan trọng không trụ tướng tức làm mà không dính mắc chứ không phải bảo không làm. Bố thí là làm, nhưng làm để buông bỏ, để xả trừ, không trụ vào tướng, không dính mắc trên tướng, thì tâm giải thoát tự tại! Như mắt thấy sắc liền bố thí sắc, không trụ vào sắc tướng, thì thấy vẫn luôn sáng ngời không mê. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng vậy. Đó là làm mà khế hợp trở về tự tánh, là trúng ý Tổ.

Nghĩa bố thí này rất sâu xa, không phải cho tiền người khác gọi là bố thí. Nghĩa “bố thí ở đây tức buông xả”, mắt thấy sắc liền bố thí sắc, không trụ vào sắc tướng, thấy mà vẫn luôn sáng ngời không mê. Tai nghe tiếng liền bố thí tiếng, không trụ vào tướng âm thanh, thì nghe vẫn sáng ngời không mê. Cũng vậy, mũi, lưỡi, thân, ý đối với các trần cũng liền bố thí, không trụ vào trần tướng, vậy thì luôn sáng ngời không mê. Đó là bố thí không trụ tướng, là tu hành đúng pháp, không mắc kẹt trong tạo tác, khế hợp trở về với tự tánh, như vậy là đúng với ý Tổ.

Nếu các ông đã ngộ thì nương theo đây mà nói, nương theo đây mà dùng, nương theo đây mà hành, nương theo đây mà làm, tức chẳng mất bổn tông. Nếu có người hỏi nghĩa với ông, hỏi có thì đem không đáp, hỏi không thì đem có đáp, hỏi phàm thì đem thánh đáp, hỏi thánh thì đem phàm đáp, hai đường làm nhân cho nhau, sanh nghĩa trung đạo. Ông cứ một hỏi, một đáp, ngoài ra hỏi gì khác, cũng cứ y theo đây mà làm, tức chẳng sai mất lý. Giả sử có người hỏi: Sao gọi là tối? Đáp: Sáng là nhân, tối là duyên, sáng mất tức tối. Lấy sáng để hiển tối, đem tối để hiển sáng, tới lui nhân nhau, thành nghĩa trung đạo. Ngoài ra hỏi cái khác thảy đều như đây. Các ông về sau truyền pháp, nương theo đây mà lần lượt truyền dạy cho nhau, chớ để sai mất tông chỉ”.

Lục Tổ dạy cặn kẽ cách đáp dùng đối nhau để hiển bày nghĩa trung đạo, không thiên lệch một bên. Chúng ta thường nói một chiều, còn Tổ dạy, hỏi có lấy không đáp, hỏi phàm lấy thánh đáp, hỏi tối lấy sáng đáp, đáp như vậy khiến người không mê chấp một bề. Tức khiến cho người rõ rằng, “có” không tự có, không có thật tánh của “có”, do đối với “không” mà lập. Cũng vậy, “thánh” không tự là thánh, do đối với “phàm” mà lập, nếu không phàm thì không thánh, ngoài phàm không riêng có thánh. Ngoài phàm cầu thánh thì thánh đó là thánh ở trong chữ nghĩa. Bởi từ phàm mới thành thánh, ngay phàm này tu thì chuyển thành thánh. Ngoài “tối” cũng không riêng có “sáng”, bởi “sáng và tối” là nghĩa thay nhau tạm bày, đều không có tự tánh thật, không thể chấp cố định vào đó.

Rốt lại, không có một pháp thật ngoài tâm, tất cả đều đối đãi nhau tạm lập, do từ tâm lập bày ra. Do đó cần phải ngộ trở lại nơi tự tâm là yếu chỉ, không lầm theo cái thấy phân biệt hướng ra ngoài. Người mắt sáng là rõ suốt như thế, không mắc kẹt theo ngôn ngữ đối đãi.

Các Thiền sư sau này luôn dùng cách đối đáp như thế để tiếp người, vận dụng linh động sáng tạo tùy theo mỗi vị chứ không cứng nhắc hay rập khuôn như nhau. Thiền là sáng tạo, không phải bắt chước nói y theo lời Lục Tổ dạy. Ví như có người hỏi: Sao gọi là tối? Đáp đúng lời Tổ: Sáng là nhân, tối là duyên, sáng mất tức tối. Đáp như thế là bắt chước, thì không phải thật. Phải đạt ý đó, khi dùng thì linh động tùy theo từng trường hợp, không phải nói theo lời Tổ, nhưng không sai tông chỉ, đó mới là khéo.

Quốc sư Huệ Trung hỏi ông quan Cung phụng Tử Lân:

- Phật nghĩa là gì?

Tử Lân đáp:

- Phật là giác.

Quốc sư Huệ Trung hỏi:

- Phật từng mê chăng?

Tử Lân đáp:

- Phật chẳng từng mê.

Quốc sư Huệ Trung bảo:

- Dùng giác để làm gì?

Đó là dùng cách đối đãi nhau, giác đối với mê, không mê thì dùng giác để làm gì? Mê-giác cũng là phương tiện đối đãi nhau mà lập, khéo dùng mê để hiển giác, không phải chấp theo một chiều, hiểu một chiều là mắc kẹt.

Có vị tăng hỏi Hòa thượng Thạch Đầu:

- Thế nào là Tịnh độ?

Ngài đáp:

- Cái gì làm nhơ ông?

Hỏi Tịnh độ tức cõi nước trong sạch thanh tịnh, thì đem nhơ để đáp, cái gì làm nhơ ở ông mà hỏi Tịnh độ. Nếu tâm không nhơ thì ngay đó là Tịnh độ, nếu đem tâm nhơ mà cầu Tịnh độ thì không thấy Tịnh độ. Đó là dùng nhơ đáp sạch.

Ông tăng hỏi:

- Thế nào là Niết-bàn?

Hòa thượng Thạch Đầu đáp:

- Ai đem sanh tử cho ông?

Vì có sanh tử mới lập Niết-bàn, nếu không sanh tử thì Niết-bàn ở đâu? Ngài đáp rất khéo léo, linh động, sáng tạo chứ không phải bắt chước rập khuôn.

Một hôm, Ngài Duy Nghiễm - Dược Sơn ngồi trên tảng đá, Ngài Thạch Đầu hỏi:

- Ông ngồi đây làm gì?

Ngài Duy Nghiễm đáp:

- Tất cả đều chẳng làm.

Ngài Thạch Đầu hỏi:

- Vì sao ngồi yên?

Ngài đáp:

- Ngồi yên tức là làm.

Đó cũng là cách đáp đối nhau, hỏi làm thì đáp chẳng làm. Người sáng tâm liền hiểu nhau, tức hiểu ý ngoài lời. Tuy nói không làm nhưng chính là làm chứ không phải không làm gì, không mắc kẹt nơi lời nói.

Có vị Đại đức tên Uẩn Quang đến hỏi Thiền sư Huệ Hải:

- Thiền sư tự biết chỗ sanh chăng?

Ngài Huệ Hải đáp:

- Chưa từng tử đâu cần luận sanh. “Biết” sanh tức là pháp không sanh, chẳng lìa pháp sanh mà nói có, không sanh. Cho nên, Tổ sư nói chính cái sanh tức không sanh.

Đây cũng là một cách khéo đáp, đáp đối lại chứ không đáp một chiều.

Có tăng hỏi Thiền sư Vân Nham - Đàm Thạnh:

- Khi một niệm chợt khởi liền rơi vào ma giới là thế nào?

Ngài đáp:

- Ông nhân đâu mà từ Phật giới đến?

Nếu đáp theo lối giải thích niệm khởi là sanh, sanh là động thì rơi vào ma giới, đó là đáp một chiều. Ngài hỏi lại: “Ông nhân đâu mà từ Phật giới đến?” Rơi vào ma giới tức từ Phật giới đến, đã từ Phật giới thì tại sao lại rơi vào ma giới? Ngay đó khiến ông tăng ngộ trở lại!

Có vị tăng hỏi Hòa thượng Triệu Châu:

- Theo lời thầy dạy: “Khi thế giới hoại, tánh này chẳng hoại”, thế nào là tánh này?

Ngài đáp:

- Tứ đại, ngũ uẩn.

Tăng hỏi:

- Cái này cũng hoại, thế nào là tánh này?

Ngài đáp:

- Ngũ uẩn, tứ đại.

Tánh chẳng hoại cũng ngay nơi tứ đại ngũ uẩn này, không riêng có tánh chẳng hoại ngoài tứ đại ngũ uẩn. Đáp vậy để ông Tăng soi trở lại ngay nơi tứ đại ngũ uẩn này mà ngộ ra tánh đó, tìm tánh đó ngoài cái này là lầm. Đó là dùng cách đối nhau để đáp.

Thiền sư Sư Nhan hỏi Ngài Nham Đầu:

- Thế nào là cái biết bản thường?

Ngài Nham Đầu đáp:

- Động.

Ngài Sư Nhan hỏi:

- Khi động thì thế nào?

Ngài Nham Đầu đáp:

- Chẳng phải lý bản thường.

Đã là bản thường mà hỏi tức động rồi, động thì không phải bản thường.

Có vị tăng hỏi Thiền sư Thiệu Tu:

- Thế nào là phổ nhãn?

Ngài đáp:

- Mảy may xem chẳng thấy.

Tăng hỏi:

- Tại sao xem chẳng thấy?

Ngài đáp:

- Bởi vì y con mắt rất lớn.

Hỏi phổ nhãn tức con mắt rộng khắp thì đáp chẳng thấy, nhưng chính đó mới là phổ nhãn. Bởi con mắt rộng khắp nên không sót một chỗ nào để thấy. Đáp vậy không phải là nghĩa chẳng thấy, mà khéo dùng cách đối nhau để đáp.

Có vị tăng hỏi Thiền sư Hưu Phục hiệu Ngộ Không:

- Thế nào là Phật?

Ngài đáp:

- Ông là chúng sanh.

Hỏi Phật, đem chúng sanh đáp, khiến người hiểu rõ không phải ngoài chúng sanh riêng có Phật, chúng ta giải nghĩa Phật là thế này thế kia thì thấy như chúng sanh cách biệt với Phật.

Có vị tăng hỏi Thiền sư Quế Sâm:

- Thế nào là một câu của La-hán?

La-hán là vô sanh, một câu của La-hán tức một câu vô sanh.

Ngài Quế Sâm đáp:

- Ta nói với ngươi liền thành hai câu.

Nếu giải thích thế này thế kia là đã có sanh. Thế nên Ngài đáp: “Ta nói với ngươi liền thành hai câu”. Tức có sanh, vậy thì tự ông hiểu thế nào là một câu của La-hán!

Có vị tăng hỏi Thiền sư Sĩ Khuê - Trúc Am:

- Thế nào là đệ nhất nghĩa?

Ngài đáp:

- Ông hỏi ấy là đệ nhị nghĩa.

Hỏi đệ nhất nghĩa, dùng đệ nhị nghĩa đáp. Đệ nhất nghĩa mà ông hỏi thì thành đệ nhị nghĩa, nếu ta đáp thì thành đệ tam nghĩa. Ngầm chỉ phải vượt qua lời nói.

Cho nên Lục Tổ ân cần dặn dò: “Các ông về sau truyền pháp nương theo đây mà lần lượt truyền dạy cho nhau, chớ để sai mất tông chỉ”.

Trong bản Đàn Kinh phát hiện ở động Đôn Hoàng có một đoạn ghi rõ thêm:

Đại sư nói:

- Này thập đệ tử (mười vị đệ tử kể trước), sau này các ông truyền pháp thì hãy hỗ tương giảng dạy một quyển Đàn Kinh này thì bổn tông sẽ không bị mất đi. Ai chưa được truyền cho Đàn Kinh tức chưa đắc Tông chỉ của tôi, nay các ông đã đắc rồi phải lưu hành cho đời sau, người nào hiểu được Đàn Kinh cũng như được tôi đích thân truyền thọ.

Ngày xưa kinh Pháp Bảo Đàn là trọng yếu, khi truyền pháp phải truyền Đàn Kinh. Nhưng sau này do người lạm dụng nên dừng.

***

Kinh - Luật - Luận

adv3

Video giới thiệu

Tập:
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  • 8
  • 9
  • 10
  • 11
  • 12
  • 13
  • 14
  • 15
  • 16
  • 17
  • 18
  • 19
  • 20
  • 21
  • 22
  • 23
  • 24
  • 25
  • 26
  • 27
  • 28
  • 29
  • 30
  • 31
  • 32
  • 33
  • 34
  • 35

Tìm kiếm

Đọc nhiều

Ảnh đẹp

Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp

Lịch

Thống kê truy cập

  • Lượt truy cập: 73291
  • Online: 31