Học Thiền Như Thế Nào

21/07/2026 | Lượt xem: 6

HT.Thích Thông Phương

Hôm nay, nói chuyện với Đạo tràng về đề tài Học thiền như thế nào?.

Lâu nay người học thiền nhiều, nhưng phải học như thế nào để nắm vững yếu chỉ cho nhanh? Trước tiên dẫn câu châm ngôn nổi tiếng trong nhà thiền, cũng là câu nêu cao tông chỉ của thiền: “Giáo ngoại biệt truyền, Bất lập văn tự, Trực chỉ nhân tâm, Kiến tánh thành Phật”.

Vậy phải học thế nào? Phải học cái sống chứ không học những cái chết. Học cái đang hiện hữu sáng ngời nơi chính mình, đó là chỗ mà tôn chỉ thiền muốn nhắm.

Và làm sao để học? Điểm không thể quên được là học thiền phải đạt ý quên lời. Đạt ý quên lời là nghe đây mà phải thấy đằng kia. Đó là chỗ phải nắm vững.

Như câu chuyện Ngài Viên Ngộ tham thiền với Thiền sư Pháp Diễn. Ngài ở tu tập được thời gian mà chưa tỏ ngộ. Một hôm, nhân đang hầu thầy nhưng lại có việc đi ra ngoài. Lúc đó có quan Đề Hình đến thăm Ngài Pháp Diễn. Quan Đề Hình này cũng là người đang tham thiền, nên đến thăm và luận đạo.

 Ngài Pháp Diễn hỏi ông:

- Vậy Đề Hình lúc trẻ có đọc thơ Tiểu Diễm chăng? (là thơ tình cảm).

 Ông đáp: Có.

 Ngài Pháp Diễn nói trong đó có hai câu:

Tần hô Tiểu Ngọc nguyên vô sự

Chỉ yếu Đàn lang nhận đắc thinh .

Dịch

Luôn kêu Tiểu Ngọc nguyên không việc

Chỉ cốt anh chàng nhận được tiếng.

Ngay đó ông Đề Hình đáp: Dạ! Dạ!.

Ngài Pháp Diễn bảo: Hãy chín chắn, cẩn thận!.

Xong câu chuyện, Ngài Viên Ngộ trở về hầu thầy. Ngài Viên Ngộ mới hỏi Ngài Pháp Diễn:

- Nghe thầy nhắc lại thơ Tiểu Diễm, Đề Hình có khế hội được chăng?.

Ngài Pháp Diễn bảo:

- Ông chỉ nhận được tiếng.

Ngài Viên Ngộ thưa:

- Ở trong đó chỉ cốt anh chàng nhận được tiếng. Mà ở đây ông đã nhận được tiếng vì sao chẳng phải?.

 Ngài Pháp Diễn bảo:

- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang? Cây bách trước sân đấy!

 Ngay đó Ngài Viên Ngộ tỉnh ngộ.

 Đó là ý nghĩa muốn nhắm lại chỗ này.

 Nội dung câu chuyện là có một vị tiểu thư có tình ý với anh chàng ở gần xóm. Vào một buổi chiều anh chàng tới nhà tiểu thư, lẩn quẩn ở phía dưới để tìm thử xem phòng của cô ở chỗ nào.

Lúc đó, cô tiểu thư ở trên lầu nhìn xuống thấy anh ở phía dưới, không biết làm sao cho anh chàng biết mình ở đây! Cô mới nảy ra ý gọi đứa hầu gái tên Tiểu Ngọc: “Tiểu Ngọc! Tiểu Ngọc! Mang bình trà lại đây cho cô!”. Nhờ vậy, anh chàng nghe biết cô đang ở đâu.

Tuy cô kêu Tiểu Ngọc nhưng không có việc gì cần thiết, cô không cần bình trà, chỉ cốt cho anh chàng kia nghe được tiếng mình thôi. Nhận được tiếng là biết mình ở đâu rồi. Đây nói với cô Tiểu Ngọc nhưng mà ý là ở anh chàng kia.

Thiền cũng như vậy. Thiền nói ở đây nhưng ý là ở kia. Cho nên khi Ngài Viên Ngộ hỏi Ngài Pháp Diễn: "Ngài Đề Hình có khế hội không? Thì Ngài Pháp Diễn nói là ông chỉ nhận được tiếng. Ngài Viên Ngộ nói: Nhưng mà trong đó chỉ cốt anh chàng nhận được tiếng là xong thôi. Sao giờ đã nhận được tiếng mà không phải?”. Ngài Pháp Diễn mới bảo: “Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang? Cây bách trước sân đấy!”. Tức là nhắc lại chỗ Ngài Triệu Châu đáp. Ngay đó Ngài Viên Ngộ ngộ liền.

Nói cây bách nhưng ý ở chỗ nào? Chúng ta hiểu theo cây bách thì không bao giờ thấy ý Tổ sư. Nói cây bách nhưng phải thấy chỗ khác. Nên ngay đó Ngài Viên Ngộ liền tỏ ngộ, thấy được ý ngoài lời. Nếu không có khi còn hiểu lầm, còn chỉ trích nữa.

Chẳng hạn như bài thơ Xuân Nhật Tức Sự mà Ngài Huyền Quang đã dẫn, Ngài thường ngâm:

Nhị bát giai nhân thích tú trì

Tử Kinh hoa hạ chuyển hoàng ly.

Khả liên vô hạn thương xuân  ý

Tận tại đình kim bất ngữ thì.

Dịch:

Người đẹp thưa tay thêu gấm đan

Tử Kinh hoa đó oanh hót vang.

Cảm sâu vô hạn, ôi xuân  ý

Chỉ ở dừng kim, chẳng nói năng.

Bài thơ này đọc mà hiểu theo nghĩa thông thường thì cho Thiền sư nói chuyện tình cảm thế gian, không có đạo lý. Vậy là hiểu theo chữ nghĩa, theo câu rồi phân tích trong đó cho là hiểu. Hiểu vậy không đúng, lệch lạc rồi chỉ trích. Còn học thiền là phải học cái ý trong đó, không phải là học trên lời.

Đây là chuyện bình thường ở thế gian, một cô gái đẹp đang thêu chầm chậm. Còn bên kia khóm hoa Tử Kinh có chim hoàng oanh hót vang. Vậy thì ý xuân đó quá đáng yêu! Mà đáng yêu mến nhất là khi cô bé đó dừng tay, im lặng. Chuyện bình thường của thế gian.

Nhưng với Thiền sư lại thấy có ý sâu. Cô gái đẹp là chủ của mùa xuân, đang chầm chậm thêu. Ở kia là hoa bày, chim hót trước mặt. Tức là cảnh mùa xuân đang hiện bày ra đó. Hay nói theo danh từ thiền một chút, tức là tin tức mùa xuân đang biểu lộ trong lòng. Nhưng chỗ biểu lộ đó cũng còn ở trên tướng, chưa phải là chỗ sâu. Chính ý xuân đáng cảm không thể nói hết không nằm ở chỗ đó. Nằm ở chỗ cô gái dừng tay, im lặng. Đó mới là chỗ sâu.

Mà dừng tay im lặng là chỗ dừng tạo tác. Nói rõ hơn là ngay chỗ quên lời, bặt nói năng. Đó mới là chỗ sâu thẳm của ý xuân, của thiền. Ngay chỗ đó làm sao nói hết được! Người nào thấy được chỗ đó là thấy được lẽ chân thật, thấy được mùa xuân bất diệt.

Đây là một bài thơ ý thiền rất sâu xa. Người học thiền mười năm chưa chắc gì hiểu hết. Nhưng có người lại nói Thiền sư nói chuyện thế gian. Rõ ràng là do người đọc hiểu theo chữ nghĩa, nếu đạt ý sẽ thấy rất là tế nhị. Để thấy, học thiền có những cái hay mà chúng ta không thấy nên trở thành dở, nhiều khi thành xuyên tạc nữa.

Chẳng hạn như Bà Ni tên Huyền Cơ đến Ngài Tuyết Phong. Ngài Tuyết Phong hỏi:

- Bà tên gì?.

Bà nói:

 - Huyền Cơ.

Huyền Cơ tức là cái máy huyền, hay là cái máy se tơ. Huyền tức là những sợi tơ sống được xe lại thành dây đàn. Cho nên cây đàn người ta gọi là huyền. Vậy Huyền Cơ là cái máy xe tơ. Ở đây, Ngài Thiết Phong nhơn cái tên muốn gạn lại chỗ thấy của Bà thế nào?

Ngài Tuyết Phong hỏi:

- Một ngày dệt được bao nhiêu?

Bà đáp:

- Tấc tơ chẳng dính.

Có vị nghiên cứu phê bình. “Nhiều khi Thiền sư nói chuyện rất thô tục”. Nói tấc tơ chẳng dính, ý như nói không có mặc áo quần gì hết.

Nếu hiểu kỹ cho thiền sư nói chuyện tục, hay là tâm mình đang nghĩ tục. Chính tâm mình đang nghĩ theo tình thế tục của thế gian, rồi gán cho thiền sư. Đâu ngờ ý nói của thiền sư rất xâu xa. Hỏi suốt một ngày Bà dệt bao nhiêu? Tức một ngày sống bà tạo tác thế nào? Bà đáp là tấc tơ chẳng dính. Nghĩa là suốt ngày làm tất cả mọi việc, mọi hành động nhưng chẳng hề có động niệm.

Với một người như vậy, tu bao nhiêu năm mới được? Có khi tu hết đời còn chưa được. Cho nên hiểu thiền là phải hiểu ý như vậy, nếu không sẽ hiểu lệch lạc rồi thành xuyên tạc.

 Gần hơn, như có một vị Tăng hỏi Ngài Trần Nhân Tông:

 - Thế nào là một việc hướng thượng?.

 Ngài đáp:

 - Đầu gậy khêu nhật nguyệt.

 Tức là đầu gậy khêu mặt trời, mặt trăng. Việc hướng thượng tức là chỗ lý tột cùng của thiền, là chỗ chân thật. Mà chỗ chân thật ở đây nói là đầu gậy khêu mặt trời, mặt trăng. Đầu gậy làm sao mà khêu tới mặt trời, mặt trăng! Cho nên nếu bám vào câu nói để hiểu thì không thể hiểu nổi.

Với nhà thiền, phải có một cái thấy vượt ngoài đầu gậy. Hỏi việc hướng thượng nhưng chúng ta phải buông đầu gậy mới thấy được lẽ thật này. Câu đáp đó chỉ là câu đáp ở đầu gậy thôi. Nếu câu đáp là ở đầu gậy mà chúng ta muốn thấy việc tối thượng phải buông đầu gậy, thấy chính nơi người hỏi.

Người hỏi muốn thấy được việc hướng thượng, nhưng thường cậy vào sự thông minh của mình rồi phân tích trên câu nói, chia chẻ thế này thế nọ. Rốt cuộc không dính dáng gì, không tới đâu. Có khi còn chia chẻ câu đó là nói hay nói dở thì càng đi xa hơn. Ở đây phải đạt ý quên lời.

Đến Tuệ Trung Thượng Sĩ, có lần vị Tăng hỏi:

- Thế nào là pháp thân thanh tịnh?

Thượng Sĩ đáp:

- Ra vào trong nước đái trâu. Chui rúc trong đống phân ngựa. Đó là pháp thân thanh tịnh.

Nếu hiểu theo chữ nghĩa thì pháp thân thanh tịnh là trong nước đái trâu và ở trong đống phân ngựa. Nếu phân tích theo tâm tình thế gian thì bảo sao thiền sư nói chuyện thô, thiếu lịch sự? Nhưng kiểm lại thiền sư nói thô, thiếu lịch sự hay là tâm mình nghĩ thô?

Bởi vì lúc đáp Ngài đâu có nghĩ thô, nghĩ tế gì đâu! Chỉ đáp vậy thôi! Do chính chúng ta đang nghĩ trong đầu là thô, tế nên nó thành thô. Bởi vì người hỏi đang mắc kẹt trong ý niệm thanh tịnh. Pháp thân là phải thanh tịnh. Vì vậy Thượng Sĩ dùng tướng nhơ đáp lại. Phân và nước tiểu là nhơ, ngay trong cái nhơ đó mà ông không thấy nhơ, tức là ông quên được niệm nhơ, sạch. Không còn niệm nhơ, sạch thì ngay đó không phải pháp thân là gì? Đó là chỗ bặt niệm đối đãi. Không còn niệm nhơ, sạch đối đãi nữa thì xem như là pháp thân.

Có bài kệ Pháp thân của Ngài Phó Đại Sĩ có nhiều người cũng hiểu lầm:

Tay không, cầm cán mai

Đi bộ, lưng trâu ngồi

Người đi qua trên cầu

Cầu trôi, nước chẳng trôi.

Có thể cho bài kệ này nói sai, có khi thành vô lý. Nhưng hiểu kỹ mới thấy cái sai của mình.

Tay không sao cầm cán mai được? Có cầm cái cán mai thì gọi là tay nắm chứ sao lại là tay không? Nhưng chính khi cầm mà chưa từng cầm, chưa từng có chạm gì hết. Đó là ý rất sâu.

Đi bộ ngồi lưng trâu”, Ngồi trên lưng trâu sao gọi là đi? Ý nói đi mà chưa từng đi đâu hết.

Cầu trôi nước chẳng trôi”, nước trôi chứ sao cầu lại trôi? Nếu đứng trên cầu, đứng trên nước thì làm sao mà hiểu được! Do không hiểu được rồi nói bài kệ này sai rồi sửa lại. Nhưng không ngờ là hiểu lầm.

Cầm mà chưa từng cầm gì hết, đi mà chưa từng đi đâu hết, trôi mà chưa từng có trôi bao giờ. Tức là động mà chưa từng động, ngay nơi tướng mà lìa tướng, thì đó là Pháp thân. Nên gọi là bài kệ Pháp thân.

Bài kệ này ý rất sâu.

Hoặc có vị Tăng hỏi Thiền sư Quang Dũng:

- Văn Thù là thầy của bảy đức Phật, vậy Văn Thù có thầy hay không?

Ngài Quang Dũng đáp:

- Gặp duyên liền có.

- Vị Tăng hỏi:

- Thế nào là thầy Văn Thù?

Thiền sư liền dựng cây phất tử lên, chỉ đó!

- Tăng thưa:

- Cái ấy là phải sao? Cây phất tử là thầy ông Văn Thù sao?

 Ngài Quang Dũng liền ném cây phất tử đứng khoanh tay.

 Hỏi thầy Văn Thù là Ngài giơ cây phất tử lên. Vậy chẳng lẽ cây phất tử là thầy của Ngài Văn Thù sao?

 Bởi nhà thiền thường gọi Ngài Văn Thù là cửa của mắt. Cửa Quan Âm là ở lỗ tai. Khi giơ cây phất tử lên là ý muốn nói ở trong tròng mắt của ông Tăng. Nếu ngay đó ông Tăng soi lại liền thấy thầy của Văn Thù. Không những thấy thầy của Văn Thù mà còn thấy cả Văn Thù luôn. Còn nếu cứ theo cây phất tử đó thì không bao giờ hiểu nổi.

 Đó là những công án dễ, có những công án thiền khó hơn.

 Ví dụ Ngài Quy Sơn khi sắp tịch, Ngài bảo: “Sau khi lão Tăng trăm tuổi sẽ đến dưới núi làm con trâu, hông bên phải đề năm chữ là ‘Qui Sơn Tăng Linh Hựu’. Ngay lúc đó gọi Qui Sơn Tăng là phải hay gọi con trâu là phải".

Nếu theo câu nói đó mà suy thì tu hành như Ngài Quy Sơn cuối cùng thành con trâu sao? Là con trâu thì làm sao gọi là Quy Sơn Tăng được! Nếu có niệm phàm thánh hai bên làm sao thấy được Ngài Quy Sơn!.

Con trâu là chỉ cho phàm, còn Quy Sơn là chỉ cho Thánh. Mà ý của Sư là khi sắp tịch Ngài bặt hết, không còn chỗ để đi. Chúng ta chết là còn chỗ đi tức đi trong sanh tử. Còn Ngài bặt hết chỗ đi, tự tại không thể tìm được nữa.

Tức là trong lòng Ngài không còn niệm Phàm - Thánh, người ngoài không thể tìm đâu ra. Đem tâm niệm phàm phu đối đãi là không bao giờ thấy được Ngài.

Cho nên muốn thấu rõ thiền thì phải vượt qua mọi khái niệm. Bởi vì ngôn ngữ là khái niệm, nếu còn kẹt trong khái niệm là không thấu được thiền. Nếu có hiểu thì cũng là hiểu về thiền, chưa phải là thâm nhập thiền hay là đang giáp mặt thiền.

Bởi khái niệm là cái khuôn chết của quá khứ. Tức là những điều chúng ta có hiểu qua rồi còn in trong đầu này. Rồi khi đọc tới gì đó lấy khuôn đó ra mà so, hiểu. Nếu cái gì khác với đó là không hiểu.

 Ngài Quốc sư Huệ Trung ở Trung Quốc, có lần Ngài hỏi quan Cung Phụng Tử Lân cũng là người học thiền:

 - Phật có nghĩa gì?

Quan Cung Phụng đáp:

- Là nghĩa giác.

Quốc sư hỏi:

- Phật có từng mê chăng?

Quan đáp:

- Chưa từng mê. (Mê sao là Phật được chứ?)

Ngài hỏi lại:

- Như vậy dùng giác để làm gì?

Nói Phật là giác, không giác thì sao là Phật? Nhưng nói giác là giác cái gì? Giác cái mê chứ gì. Nếu còn mê mong giác thì sao gọi là Phật. Vậy là Phật theo chữ nghĩa rồi.

Nếu ông quan có chỗ thấy chân thật ngay đó chuyển lại được, mới là người thật có cái nhìn của chính mình, không mắc kẹt trên chữ nghĩa, tức "Giác cái chẳng từng mê" đó là Phật. Chỉ cần có chỗ sống, chỗ thấy là chuyển lại được ngay thôi.

Có ông Tăng hỏi Thượng Sĩ Tuệ Trung:

- Bạch Thượng Sĩ, người xưa nói rằng: “Xanh xanh trúc biếc phải là pháp thân” có đúng chăng?” Tức là câu “Trúc biếc xanh xanh đều là pháp thân. Hoa vàng mịch mịch đều là Bát-nhã”.

Thượng Sĩ đáp:

- "Sa Di ăn măng rừng bữa trước. Phải chăng bữa sau pháp thân ông?. Nếu trúc biếc đều là pháp thân, như vậy ông Sa Di ăn măng bữa trước là ăn pháp thân sao? Vậy bữa nay thành pháp thân của ông rồi.

Mới nghe ai cũng tưởng mình hiểu, nhưng hiểu đó là hiểu trên khái niệm. Nếu bị gạn lại sẽ thấy chới với.

 Nói "Xanh xanh trúc biếc là pháp thân", khi tâm chúng ta thanh tịnh rồi thì nhìn ra cái gì cũng đều thanh tịnh, cho nên thấy tất cả đều có mặt pháp thân trong đó, đều ở trong ánh sáng của pháp thân hết. Nhìn núi xanh cũng là pháp thân hiện bày, không vắng mặt chứ không phải núi xanh là pháp thân, trúc biếc là pháp thân.

Như có một Thiền sư muốn gạn lại trong chúng, đưa ra một công án: “Có hai người đi trong mưa, vì sao có một người chẳng ướt?”.

Có vị Tăng đáp:

- Tại vì người mặc áo mưa, người không mặc áo mưa.

Người khác lại đáp:

- Tại vì một người đi dưới mái hiên, một người đi ngoài trời.

Còn người nữa đáp:

- Tại vì mưa có giới hạn, bên này mưa nhưng bên kia không mưa.

Thiền sư mới kết lại: “Nói một người không ướt đó chẳng phải hai người cùng ướt hết sao?

Chúng ta nghe nói một người rồi hiểu theo khái niệm là một người nào đó nên không thể nào hiểu được ý thiền sư.

Bởi vì hiểu là một người nên nghĩ người đó hoặc là mặc áo mưa, hoặc là không mặc áo mưa, hoặc đi trong hiên hoặc đi ngoài trời..., đó là hiểu theo khái niệm.

Nói một người nhưng mà phải hiểu cái gì đó chứ không phải là một người. Cho nên thiền sư mới kết luận lại nói một người không ướt nhưng chẳng phải cả hai người kia đều ướt hết sao? Người kia là người gì?

Chính chỗ này, Ngài Đức Sơn cũng bị bà già bán bánh gạt.

Ông hỏi mua bánh điểm tâm của bà già bán.

Bà già thấy Ngài quảy gánh hơi nặng nên hỏi: - Thượng tọa quảy gì vậy?

Đáp: Đây là bộ Thanh Long Sớ Sao tức là bộ sớ giải kinh Kim Cang.

Bà già nói: - À! Vậy Thượng tọa là giảng sư giảng kinh Kim Cang. Cho già này hỏi một câu, nếu đáp được thì già xin cúng dường bánh điểm tâm, còn đáp không được thôi mời đi chỗ khác.

Ngài chấp nhận.

Do Ngài giảng kinh Kim Cang nên bà già dẫn lời trong kinh Kim Cang hỏi: - Trong kinh Kim Cang nói rằng: “Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc, vậy Thượng tọa muốn điểm tâm nào?”.

Tâm quá khứ không thể được tức là không có thật, và tâm hiện tại cũng không có thật, tâm vị lai cũng không có thật, tức tâm ba thời đó là tâm hư dối, tâm vọng tưởng. Thượng tọa nói điểm tâm vậy điểm tâm nào?

Nghe hỏi thế thì Ngài bí không trả lời được.

Đó là bị khái niệm ba thời nên không biết trả lời như thế nào! Đó là quên mất cái thực tại đang hiện tiền ở đây.

Cuối cùng Ngài mới hỏi đường để đi lên gặp Thiền sư Sùng Tín ở Long Đàm.

Ngay cái biết hiện tiền đây chưa có động niệm thì cái đó thuộc thời nào? Nếu ngay chỗ đó Ngài khéo thì chuyện tâm ba thời là hư dối cần chi điểm! Nếu Ngài khéo ngay đó bảo: “Ờ! Bà cắt bánh đi!”. Là xong, khỏi cần phải tìm đâu hết.

Vì lo suy nghĩ xem tìm tâm nào, tâm quá khứ hay hiện tại, không ra được. Đó là mắc kẹt trong ba thời, mắc kẹt trong khái niệm. Cho nên sống theo khái niệm là bị gạt dễ dàng.

 Ở đây phải sống ngay cái tâm hiện tiền đó. Cái tâm luôn luôn mới mẻ, không có khái niệm chen vào. Nếu chúng ta sống như vậy thì chúng ta sẽ học được những điều mới mẻ, bất ngờ. Tức là tâm tâm trực tiếp đi vào nhau. Còn nếu sống theo khái niệm là tâm còn gián tiếp.

Ông thầy nói vậy nhưng vì chưa trực tiếp đi vào được tâm của ông thầy, chỉ gián tiếp qua cái đầu nên chưa suy nghĩ được. Còn giờ là tâm mình và tâm ông thầy trực tiếp đi vào nhau, khỏi qua cái đầu sẽ thấy được những điều mới mẻ.

Cho nên Thiền sư Chân Nguyên ở Việt Nam đến tham vấn Thiền sư Minh Lương:

Bao năm dồn chứa ngọc trong đãi.

Hôm nay tận mặt thấy thế nào?

Ngài dẫn câu nói của người xưa để hỏi lại. Giống như là đem một khái niệm cũ hỏi ra. Nhưng khi hỏi ra thì đang trực tiếp rồi.

Ngài Minh Lương nhìn thẳng vào Ngài Chân Nguyên. Ngài Chân Nguyên liền nhìn trở lại, ngay lúc nhìn trở lại Ngài liền hiểu.

Về sau khi viết quyển Thiền Tông Bản Hạnh, Ngài mới lập đi lập lại câu “Tứ mục tương cố”. Tức là bốn mắt nhìn nhau. Ngay chỗ bốn mắt nhìn nhau đó là thiền cơ, là chỗ truyền tâm ấn. Chính ngay chỗ thầy trò, mắt nhìn vào mắt, trong đó có cái gì thầm cảm với nhau mà chưa qua cái đầu này. Rõ ràng là thiền trong đó.

Còn chúng ta ngay đó mà có khái niệm xen vào là bị ngăn cách liền. Vì vậy chỗ này gọi là ngay khi mắt nhìn nhau, tâm ấn thiền ngay trong đó, khỏi cần phải tìm đâu xa.

Muốn thấy được ý thiền phải tự mình chứng nghiệm không nói lý luận dài dòng. Học thiền là học sống chứ không phải học nói. Nhớ kỹ vậy đó!

Học nói thì ra ngoài trường lớp học cũng được, còn ở đây học thiền là phải học sống. Đây là một điều không thể thiếu. Phải chính mình kinh nghiệm qua, phải làm một hành giả chứ không thể làm một học giả.

Như Thượng tọa Định, trước có hỏi Ngài Lâm Tế về Đại ý Phật pháp, bị Ngài Lâm Tế thộp ngực. Sau này khi Ngài ra Trụ Trì, có lần Ngài đi thọ trai ở Châu Trấn. Khi về đến giữa cầu gặp ba vị tọa chủ, tức trụ trì. Có một vị trong đó hỏi Thượng tọa Định: “Thế nào là chỗ sâu đến tột đáy của sông Tiền?”.

Thượng tọa Định liền nắm đứng vị Thượng tọa đó muốn ném xuống cầu. Hai ông kia đứng kế bên hoảng hốt la lên: “Thôi! Thôi! Y xúc phạm Thượng tọa rồi, xin tha thứ cho y!”.

Thượng tọa Định mới bảo: “Nếu không nhờ có hai vị Thượng tọa này xin, tôi sẽ cho y xuống tột đáy sông Tiền để y biết”.

Hỏi cho cao nhưng biết là ông chưa tới. Nếu muốn biết tận đáy sông Tiền chỉ cần xuống tới đó là biết thôi. Còn đứng bên ngoài mà hỏi rồi lý luận dài dòng này kia thì làm sao ông biết được. Chuyện này phải chứng nghiệm thôi.

Có vị Tăng hỏi Ngài Triệu Châu:

- Thế nào là người ngoài ba cõi?

Ngài Triệu Châu đáp:

- Ngặt vì lão Tăng đang ở trong ba cõi.

Nếu ông muốn biết sao ông ra khỏi ba cõi, còn ta đang ở trong ba cõi mà ông lại hỏi chuyện ngoài ba cõi xa xôi. Với thiền sư thì không nói chuyện xa xôi như vậy.

 Chúng ta nhiều khi hỏi cho cao để tỏ ra mình có hiểu thiền nhiều, hiểu thiền rộng nhưng đối với thiền sư thì không phải vậy. Nếu thật sự ông đã rõ cái người ngoài ba cõi rồi thì ông đâu cần phải hỏi, ông đang hỏi là ông còn đang ở trong ba cõi. Đang trong ba cõi mà hỏi kia thì làm sao mà biết được!.

Có vị Tăng hỏi Ngài Triệu Châu:

- Chẳng dừng trên đất sạch là người gì? Thường thì chúng ta chẳng dừng trên đất dơ.

Ngài Triệu Châu đáp:

- Ông chẳng phải là người kia.

 Ông Tăng hỏi:

 - Thế nào là người ở trong kia?

 Ngài bảo dừng.

 Nếu là người ở trong đó rồi thì tự biết, đâu cần phải hỏi. Mà muốn biết người trong đó thì ông phải vào trong đó thôi. Cho nên Ngài bảo dừng.

 Cũng vị Tăng khác hỏi Ngài Triệu Châu:

 - Người vượt qua càn khôn thì thế nào? Vượt qua càn khôn tức là vượt qua khỏi trời đất.

 Thiền sư đáp:

  - Đợi có người thế ấy liền đáp cho ông.

 Ông bây giờ đang ở trong càn khôn mà hỏi người vượt qua càn khôn thì sao ông hiểu. Cho nên chỉ còn cách là đợi có người đó, ông hỏi rồi người đó đáp. Tức là ông muốn biết thì ông vượt qua càn khôn, gặp người đó thì ông biết liền. Còn bây giờ ông đang ở trong càn khôn này thì tôi có nói đi nữa ông cũng không hiểu, cũng tưởng tượng thôi. Thiền sư không nói dài dòng.

 Có một lần Thiền sư Văn Thúy luận nghĩa với một Đạo sĩ. Đạo sĩ tức là người tu bên Đạo Lão của Trung Quốc. Ngài đạo Phật, ông này đạo Lão, hai người cùng luận nghĩa. Ngài cho ông Đạo sĩ đó lập nghĩa trước.

Ông Đạo sĩ lập nghĩa là:

- Lời thô và tiếng tế đều về nơi chính nghĩa hết. Lời thô tức là lời thô, tiếng tế là tiếng hay. Mọi thứ tiếng đều về nơi chính nghĩa. Tức là cái gì cũng đều phải trở về chỗ chân thật.

Thiền sư Văn Thúy bảo:

Đạo sĩ là kẻ tớ của nhà Phật.

Vị đạo sĩ này nghe nói tới đó hơi buồn, rồi nói:

- Thô quá! Thiền sư gì mà nói thô quá!

Ngay đó Ngài Văn Thúy liền bảo:

- Vậy đệ nhất nghĩa ở chỗ nào?

Ông nói lời thô tiếng tế đều về đệ nhất nghĩa. Mới nói một câu mà ông đã chịu không nổi rồi. Vậy thì đệ nhất nghĩa ở chỗ nào?

Ông Đạo sĩ không đáp được.

Rõ ràng đây mới chỉ là học nói chứ chưa thấu được. Nếu thật sự thấu được thì lời thô tiếng tế đều về đệ nhất nghĩa. Cho nên khi nghe nói mình là kẻ tớ của nhà Phật thì có nghĩa gì đâu, cũng đệ nhất nghĩa thôi, có gì mà không chịu nổi.

Phải là người có chỗ sống thật thì lời nói ra mới chân thật. Còn chưa có chỗ sống thật, dù nói cho hay cách mấy đi nữa nhưng cũng có kẽ hở trong đó, có ló đuôi trong đó. Cho nên học thiền là phải học sống chứ không học nói là như vậy.

 Để kết lại, xin dẫn câu chuyện nhắc nhở:

   Ngài Pháp Diễn ở Ngũ Tổ, khi Ngài còn đang tham thiền chưa có tỏ ngộ. Ban đầu, khi chưa tham thiền Ngài theo Duy Thức Học, tức là học theo giáo. Khi còn trong Duy Thức Học, Ngài nghe nói rằng: “Bồ Tát khi vào bậc kiến đạo, (tức thấy đạo) trí cùng với lý hợp, cảnh cùng với thần hội” (tức là chẳng ngăn năng chứng, sở chứng, lúc đó là không có phân năng sở). Ngoại đạo nghe vậy mới thường đem ra vấn nạn các vị Tỳ Kheo rằng: “Đã chẳng phân năng chứng, sở chứng vậy lấy cái gì làm chứng mà gọi là chứng La Hán, chứng Đạo?”. Các vị Tỳ Kheo không ai đáp được nên bị trong chúng chê bai.

 Sau, Pháp sư Huyền Trang ở Trung Hoa sang Ấn Độ thỉnh kinh, Ngài mới giải được nạn này. Ngài nói: “Người uống nước lạnh, nóng tự biết”.

Ngài Pháp Diễn nghe tới đó nhưng Ngài không chịu. Nếu hiểu như thế là cũng hiểu theo khái niệm, hiểu theo cái hiểu của người khác, chưa phải là cái hiểu của chính mình. Nhớ kỹ!

Ngài Pháp Diễn nghe đáp chỗ đó lạnh, nóng tự biết. Suy nghĩ thế nào là tự biết? Cho nên Ngài đem ra hỏi ông thầy. Ông thầy bí, không giảng được. Vì thế vị thầy khuyên Ngài: “Thôi, muốn rõ lẽ này thì nên đi về Phương Nam hỏi những vị truyền Phật tâm tông, những vị đó sẽ nói cho ông nghe!”. Tức là những vị thiền sư có chứng ngộ rồi mới nói ông nghe.

Kể ra ông thầy này cũng thật thà mà cũng có đạo tâm.

Mới nghe qua chúng ta tưởng hiểu, uống nước nóng lạnh thì biết, chuyện dễ dàng. Nhưng với Ngài Pháp Diễn thì không dễ dàng như vậy. Cái chuyện uống nước lạnh, nóng tự biết chuyện đó dễ hiểu rồi, nhưng còn cái việc tự biết đó là sao? Phải khám phá cho ra cái việc tự biết đó. Chứ không phải chỉ hiểu suông.

Nghe suông tưởng đâu đã hiểu, sự thật chỉ hiểu trên cái hiểu của người khác nói lại. Còn đây, chúng ta phải nhập thẳng vào đó mới thực sự là chỗ sống, chỗ thấy của mình.

Tóm lại thế nào là chỗ tự biết? Đó là chỗ để dành lại cho mỗi người tự khám phá ra. Và đó mới gọi là chỗ học thiền. Khỏi phải nói dài dòng.

 

 

Pháp Thoại

adv3

Video giới thiệu

Tập:
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  • 8
  • 9
  • 10
  • 11
  • 12
  • 13
  • 14
  • 15
  • 16
  • 17
  • 18
  • 19
  • 20
  • 21
  • 22
  • 23
  • 24
  • 25
  • 26
  • 27
  • 28
  • 29
  • 30
  • 31
  • 32
  • 33
  • 34
  • 35

Tìm kiếm

Tin mới

Đọc nhiều

Ảnh đẹp

Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp

Lịch

Thống kê truy cập

  • Lượt truy cập: 05431
  • Online: 12