Đạt Ma Tổ sư luận giảng lục- Phần 3: Phá tướng luận

02/12/2017 | Lượt xem: 75

TT.Thích Thông Phương giảng tại TVTL Phụng Hoàng Đà Lạt

PHÁ TƯỚNG LUẬN

 CHÁNH VĂN:

Luận rằng:

- Nếu có người quyết tâm cầu Phật đạo thì phải tu pháp gì là ngắn gọn nhất?

Đáp:

- Chỉ một pháp quán tâm thu nhiếp hết các pháp (rất là ngắn gọn).

 

Hỏi:

- Sao một pháp mà hay nhiếp các pháp?

Đáp:

- Tâm là cội gốc của các pháp. Tất cả các pháp chỉ từ tâm mà sanh. Nếu hay rõ xong được tâm thì muôn pháp đều đầy đủ.

Giống như cây to từ đó mà có cành nhánh và các thứ hoa trái, thảy đều nương nơi rễ. Chặt cây mà còn rễ thì mới mọc cây con, còn chặt cây mà trừ bỏ cả rễ ắt là chết.

Nếu rõ xong được tâm mà tu đạo thì ít tốn sức mà dễ thành. Còn chẳng rõ xong được tâm mà tu thì phí công mà vô ích.

Vì vậy, mà biết tất cả thiện ác đều do từ tâm. Ngoài tâm mà riêng cầu cái khác thì không có lẽ ấy.

 

Qua đây là phần Phá tướng luận. Tức là phá những cái chấp kẹt trên hình tướng hoặc hình thức này nọ để mình cởi mở hết những tình chấp, sống trong tự tánh.

Trong luận nói rằng có người quyết tâm cầu Phật đạo thì phải tu pháp gì ngắn gọn mà lại là quan trọng nhất. Tổ đáp chỉ có pháp quán tâm thôi. Quán tâm là quan trọng nhất, ngắn gọn nhất. Vì một pháp này hay nhiếp tất cả pháp. Lại hỏi sao chỉ có một pháp mà hay nhiếp tất cả pháp? Tổ đáp vì tâm là cội gốc của muôn pháp. Tất cả pháp gì cũng đều từ tâm mà sanh ra. Nếu hay rõ xong được tâm thì muôn pháp đều đầy đủ. Giống như cây to, cành, lá, hoa, trái đều gốc từ nơi rễ, chặt cây mà bỏ rễ thì cây chết, còn rễ thì sẽ mọc cây con, để chỉ cho tâm là cội gốc tất cả. Thiền tông nói: “Trực chỉ nhân tâm” là như vậy. Nghĩa là đi thẳng vào trong tự tâm của mình, đó là căn bản nhất.

Bởi vì kiểm lại, Tam tạng kinh điển từ đâu mà có? Ngoài tâm mà có được không? Bao nhiêu kinh điển nói ra cũng đều vì trị tâm bịnh thôi. Nhất là cũng từ tâm mà nói ra. Ví như Phật chứng ngộ được rồi cũng từ tâm giác ngộ của Ngài mà nói ra. Cho nên, mình tu là soi trở lại ngay tự tâm mình là cái gốc, cái ngắn gọn nhất. Còn không biết rồi cứ phân biệt trên các pháp thì sẽ rối rắm, rồi có khi nghi ngờ. Thấy người này nói pháp này hay, người kia nói pháp kia hay v.v..., rồi theo đó phân biệt cái này hay, kia dở, rốt cuộc chạy theo tâm phân biệt. Thí dụ người tu Thiền nói tu Thiền hay, người tu Tịnh Độ nói Tịnh Độ thẳng tắt nhất, người tu Mật tông nói Mật tông “tức thân thành Phật”, Thoại đầu nói Thoại đầu số một. Mình không biết cái nào hay rồi cứ trên ngọn phân biệt cao thấp, thành ra cũng nằm trong tâm phân biệt.

Ở đây mình nhắm thẳng trở lại tự tâm là gốc. Bởi vì xét cho kỹ khi khởi phiền não thì cái gì khởi? Ngoài tâm lấy gì khởi phiền não? Giác ngộ thì lấy cái gì giác? Ngoài tâm cũng không thể lấy cái gì giác. Nếu ngoài tâm có cái gì giác thì cái đó là cái giác trong sách vở hoặc cái giác của người nào khác, của Phật, Tổ thôi, không phải của mình. Cho nên, giác cũng từ tâm mà giác, mê cũng từ tâm mà mê. Khi thành đạo hay giải thoát thì cũng từ tâm mà thành đạo hay giải thoát. Gốc là từ tâm. Thấy vậy thì mình tu hành có căn bản.

Bây giờ thay vì tìm cái này, tìm cái kia sao mình không tìm trở lại cái tâm đang tìm này? Đó phải là gốc thực tế nhất. Tìm lại tâm đó là xong. Và như vậy thì ai không có tâm? Ai cũng có tâm tức là ai cũng có Đạo, có Thiền. Thấu rõ được chỗ này thì Thiền, Đạo là ở ngay nơi mình. Đó là một lý bình đẳng tuyệt vời, cao tột nhất mà cũng là lẽ thật muôn đời không gì phá hoại được. Cái này tìm trong sách vở bên ngoài không bao giờ có. Chỉ trong ánh sáng Phật mới thấu được chỗ này thôi - chỗ lý bình đẳng với tất cả không ai thiếu hết.

Cho nên, một pháp quán tâm này là ngắn gọn nhất mà trọng yếu nhất. Nếu không rõ được tâm mà tu thì dễ lầm lạc. Thí dụ mình tu mà tâm tham, tâm sân khởi mình cũng không hay biết gì hết, lo tìm pháp nào cho nó hay như lên non lên núi để ăn lá cây, uống nước lạnh chẳng hạn, nhưng không rõ được tâm, rồi tâm tham, tâm sân vẫn còn nguyên không hay biết. Đó là dễ lầm lạc. Hoặc tu mà cái ngã mạn cống cao ở đó mà không hay biết. Như vậy dễ đi vào đường tà.

Cho nên, ở đây Tổ nhấn mạnh một cách rõ ràng:

Vì vậy mà biết tất cả thiện ác đều do từ tâm. Ngoài tâm mà riêng cầu cái khác thì trọn không có lẽ ấy.

 

CHÁNH VĂN:

Hỏi:

- Làm sao quán tâm thì gọi đó là xong?

Đáp:

- Đại Bồ-tát thực hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa thì rõ xong được bốn đại, năm ấm vốn không, vô ngã, thấy suốt được tự tâm khởi dụng có hai thứ sai biệt. Thế nào là hai? Một là tâm tịnh, hai là tâm nhiễm. Hai thứ tâm pháp này cũng tự nhiên xưa nay đều đủ, tuy nhờ duyên hợp, nhân đối đãi lẫn nhau. Tâm tịnh thì hằng thích nhân lành. Thể nhiễm thì thường nghĩ việc ác.

Nếu chẳng nhận cái bị nhiễm thì gọi đó là Thánh, bèn hay xa lìa các khổ, chứng cái vui Niết-bàn.

Nếu rơi vào tâm nhiễm tạo nghiệp, chịu những cái trói buộc che phủ thì gọi đó là phàm, chìm sâu nơi ba cõi chịu mọi thứ khổ. Tại sao? Do tâm nhiễm kia ngăn ngại thể chân như.

Kinh Thập Địa nói rằng: “Ở trong thân chúng sanh có Phật tánh kim cang giống cũng như vừng mặt trời, thể sáng tròn đầy đủ, rộng lớn không bờ mé, chỉ vì lớp mây năm ấm dày che phủ như là ánh sáng của ngọn đèn để ở trong cái bình, nó chẳng thể hiển hiện”.

Lại kinh Niết-bàn nói: “Tất cả chúng sanh thảy có Phật tánh, vì vô minh che phủ nên chẳng được giải thoát”.

Phật tánh tức là tánh giác. Chỉ tự giác, giác tha mà giác biết tỏ rõ thì gọi là giải thoát. Cho nên, biết, tất cả điều lành lấy giác làm cội gốc. Nhân cái gốc rễ giác này bèn hay hiển hiện các thứ công đức. Quả đức Niết-bàn cũng nhân đây mà được thành. Quán tâm như thế có thể gọi là xong.

 

Đại Bồ-tát thực hành sâu Bát-nhã thì phải thấy điều đó.

Nhưng thực hành sao gọi là sâu? Đó mới là quan trọng. Tức “chiếu kiến ngũ uẩn giai không” mà có lúc chiếu lúc không thì sâu được chưa? Đó là cạn rõ ràng. Còn lúc nào nó cũng luôn luôn sáng ngời, không mất, không gián đoạn, vậy mới gọi là sâu, mới qua khổ ách được. Nếu lúc nhớ lúc không thì khi gặp khổ nạn làm sao qua được? Ngay khi bình thường còn lúc nhớ lúc không thì đến khi khổ nạn, như Ngài Tăng Triệu bị tội tử hình đem ra chém, lúc đó làm sao nhớ nổi? Nhưng với Ngài, khi bị tội tử hình, Ngài còn xin phép vua hoãn lại một tuần để Ngài viết xong bộ luận “Bảo Tạng” rồi chịu chết. Vậy mới thấy sức sáng của Ngài, biết chắc tội tử hình mà còn xin bảy ngày để viết bộ luận. Như mình lúc đó còn tâm tư nào mà viết luận? Viết xong bộ luận rồi, trước khi chết Ngài còn làm bài kệ:

      Ngũ ấm nguyên phi hữu

      Tứ đại bổn lai không

      Tương đầu lâm bạch nhẫn

      Nhứt tự trảm xuân phong.

Dịch:

      Năm ấm nguyên chẳng có

      Bốn đại xưa nay không

      Đem đầu đến dao bén

      Cũng như chém gió xuân.

Ngay khi chết mà vẫn bình tĩnh như vậy thì mới là thực hành sâu. Có thực hành sâu mới bình tĩnh sống được như vậy.

Và khi thực hành sâu rồi thì thấy rõ năm ấm vốn không, vô ngã. Chính chỗ này là chỗ quan trọng.

Thường người ta hay nói “Ta” thế này, “Ta” thế kia, không ai được đụng đến “Ta” v.v..., nhưng cái gì là “Ta”? Nếu là bốn đại năm ấm thì có gì dính dáng? Bởi vì cái này có khi nó hiện lớn, có khi nó hiện nhỏ, có khi hiện mập, có khi hiện ốm, khi hiện trắng khi hiện đen v.v... trong đó cái gì cố định chỉ ra là “Ta”? Mới sanh ra là đứa bé, rồi lớn lên. Trẻ thì ốm, lớn thì mập. Hoặc đang mập mà bị một cơn bịnh rồi ốm lại. Để thấy rõ “Ta” chỉ là cái khái niệm, tưởng tượng của mình thôi. Vì nghĩ tới cái Ta nên tự ái này nọ. Tự ái là sao? Là yêu chính mình, là yêu cái Ta này. Mà cái gì tự ái? Cái Ta tự ái. Cho nên, người nào tự ái nhiều chừng nào cái ngã to chừng ấy. Nếu bớt chấp ngã thì nhẹ tự ái. Nhẹ tự ái thì dễ tu, còn nặng chấp ngã thì nghe hơi chút là buồn rồi, tâm đâu yên được.

Khi quán được năm ấm vô ngã rồi thì thấy suốt được từ tâm khởi dụng có hai thứ: tâm nhiễm và tâm tịnh. Nghĩa là có nhiễm có tịnh tức có sai biệt - là dụng, không phải thể. Như nước có nước sông, nước hồ, nước đục, nước trong, nhưng thể ướt của nước thì không hai. Cũng vậy, từ tâm khởi dụng thì có nhiễm tịnh, nhiễm thì tạo nghiệp ác đi xuống, tịnh thì tạo nghiệp lành đi lên.

Có tâm tịnh thì thích làm lành, không bị nhiễm gọi là Thánh, nhờ đó mà xa lìa khổ, chứng vui Niết-bàn. Còn có tâm nhiễm thì thích điều ác nên chịu khổ rồi trầm luân. Như vậy biết rõ, tuy có nhiễm tịnh, nhưng thể nó vốn chân thật xưa nay nên kinh nói: “Có Phật tánh kim cang”. Do đó, nói nhiễm nói khổ, nhưng không thể nhiễm đến Phật tánh kim cang này. Bởi vì nếu nhiễm đến Phật tánh kim cang này, tức tâm thể này cũng bị vô thường, nên bị nhiễm bị khổ, thì cái khổ qua rồi nó cũng mất luôn. Như vậy mình đâu còn tới ngày nay mà ngồi ở đây? Hôm nay còn ngồi ở đây thì biết trong đó có Phật tánh kim cang bất sanh bất diệt. Chính chỗ này nên Ngài Nam Nhạc nói: “Tu chứng tức chẳng không nhưng nhiễm ô chẳng thể được”, bởi vì nó vốn “không một vật”.

Nói tóm lại, tâm nhiễm tâm tịnh, tâm phàm tâm Thánh, tâm vọng tâm chân là nói trên cái dụng có nhiều thứ, nhưng thể “biết” của nó thì không hai. Nếu ngộ được “thể không hai” đó là thấy tánh. Sống được chỗ đó là sống trở về với nguồn gốc. Quán tâm là phải thấy được chỗ đó. Nếu không, nghe nói quán tâm rồi cứ xoay trở lại tâm này tâm kia, Thiền tông quở gọi là “khán tâm quán tịnh”.

Kinh Thập Địa nói rằng: “Ở trong thân chúng sanh có Phật tánh kim cang giống như vầng mặt trời, thể sáng tròn đầy đủ, rộng lớn không bờ mé, chỉ vì bị lớp mây năm ấm dày che phủ, như là ánh sáng của ngọn đèn để ở trong cái bình nó chẳng thể hiển hiện”.

Kinh ví dụ Phật tánh kim cang bị mây năm ấm dầy che phủ như ngọn đèn để trong bình. Nhưng phải hiểu, năm ấm có thể che mờ, ngăn ngại được cái này không? Sự thật năm ấm che là che cái bên ngoài thôi, còn cái ánh sáng này không bao giờ bị che mờ. Năm ấm không thể che mờ được nó, bốn đại không thể ngăn ngại được nó. Thấu rõ được chỗ này mới thấy được nó thường sáng, hằng hữu luôn luôn. Khi sắp chết ra đi nhớ rõ được điều này thì không còn bị che mờ. 

Kinh Niết-bàn nói: “Tất cả chúng sanh thảy có Phật tánh, vì vô minh che phủ nên chẳng được giải thoát”.

Phật tánh tức là tánh giác. Chỉ tự giác giác tha mà giác biết tỏ rõ thì gọi là giải thoát. 

Phật tánh là tánh giác chứ không gì khác. Mà tánh giác đó ở ngay trong thân năm ấm của mình thôi. Đi đứng nằm ngồi... nó đều hiển lộ trong đó. Chỉ tại mình mê nên không thấy.

Thiền sư Quốc Nhất - Cảnh Sơn khi được vua Đường mời vào cung. Một hôm Sư đang ngồi thì thấy vua đến, Sư liền đứng dậy chào. Vua hỏi:

- Sao thầy thấy con liền đứng dậy?

Sư bảo:

- Bệ hạ đâu có thể nhằm trong năm ấm này mà thấy bần đạo!

Như vậy Sư muốn đánh thức cái gì? Thấy tướng đứng dậy đó là thấy Sư hay sao? Sư muốn nhấn mạnh cho vua thấy được cái gì sâu xa trong cái đứng dậy đó. Thấy đến đó thì mới thấy được Sư. Không phải nhằm trên cái tướng dụng mà thấy. Có đứng có ngồi, khi nằm chết, tướng đứng ngồi đó ở đâu? Nhằm trên tướng đó thì không thấy Sư.

Cho nên biết, tất cả điều lành lấy giác làm cội gốc. Nhân cái gốc rễ giác này bèn hay hiển hiện các thứ cây công đức. Quả đức Niết-bàn cũng do đây được thành. Quán tâm như thế có thể gọi là xong.

Như vậy thử kiểm lại trong đây ai không có tính giác? Biết tới lui qua lại là có tính giác trong đó. Nếu không tính giác thì không thể làm những việc này. Mà đã có tính giác thì sao không giác? Phải tự đánh thức mình chỗ đó. Thấu suốt được chỗ này gọi là quán tâm xong. Ngay đây mình tự chứng nghiệm được không phải đợi sau khi chết.

 

CHÁNH VĂN:

Hỏi:

- Ở trên nói rằng, chân như Phật tánh thì tất cả công đức nhân nơi giác mà làm cội rễ. Chưa biết tâm vô minh thì lấy gì làm cội rễ?

Đáp:

- Tâm vô minh đó tuy có tám muôn bốn ngàn phiền não tình dục và hằng hà sa các điều ác, nhưng đều nhân lấy tam độc làm cội rễ. Tam độc đó là tham sân si.

Tâm ba độc này tự hay đầy đủ tất cả điều ác. Giống như cây to, rễ tuy là một, nhưng từ đó sanh ra cành lá số vô biên. Rễ ba độc đó, trong mỗi một rễ lại sanh ra các nghiệp ác trăm ngàn muôn ức thứ gấp bội hơn trước không thể thí dụ hết. Tâm ba độc như vậy ở trong bản thể ứng hiện ra sáu căn, cũng gọi là sáu giặc. Đó là sáu thức. Do sáu thức này ra vào các căn, tham đắm nơi muôn cảnh, tạo thành ác nghiệp, ngăn chướng thể chân như nên gọi là sáu giặc.

Tất cả chúng sanh do ba độc, sáu giặc này làm mê lầm rối loạn thân tâm rồi chìm đắm ở trong sanh tử, luân hồi nơi sáu thú, chịu các thứ khổ não. Cũng giống như sông ngòi từ nơi nguồn suối nhỏ mà chảy ra chẳng dừng, bèn hay đầy tràn rồi nổi sóng to muôn dặm. Nếu có người đoạn dứt cội nguồn đó tức là mọi dòng đều dừng.

Người cầu giải thoát hay chuyển ba độc làm ba tụ tịnh giới, chuyển sáu giặc thành sáu Ba-la-mật thì tự nhiên lìa hẳn tất cả các điều khổ.

 

Người hỏi - hỏi rằng chân như Phật tánh, tất cả công đức lấy giác làm cội rễ, còn vô minh lấy gì làm cội rễ?

Tổ đáp, tâm vô minh tuy có tám muôn bốn ngàn phiền não, hằng sa điều ác, đều gốc từ ba độc.

Như vậy để mình thấy rõ gốc tu là ngay nơi ba độc. Ba độc thì từ đâu mà sanh? Từ tâm mà sanh. Tâm ba độc vốn ở trong bản thể ứng hiện ra sáu căn thành sáu giặc, còn gọi sáu thức - tức sáu cái biết phân biệt nơi sáu căn. Chính từ đây mà sanh ra bao thứ phiền não đau khổ dẫn đi trong luân hồi. Nếu mình ngay sáu thức này khéo xoay trở lại, tức là chuyển thức thành trí, chuyển ba độc thành ba tụ tịnh giới, chuyển sáu thức thành sáu Ba-la-mật, thì ngay đó hết các khổ não.

Đã biết mọi phiền não gốc từ tham sân si mà khởi. Còn tham sân si thì gốc từ mê tánh giác chấp thân này làm “ngã” mà sanh. Thử xét lại, sân là vì cái gì mà sân? Tức vì cái “Ta” này. Rồi tham là vì cái gì mà tham? Tham cho cái “Ta” này. Còn si thì cũng vì quá mê cái “Ta” này mà thôi. Cho nên, cứ lo bám cái “Ta” này, giữ chặt nó thì làm sao nhớ cái thật kia được?

Tóm lại, do mê tánh giác, chấp cái ta giả dối này mà thành mê lầm. Từ đó sanh ra ba độc, ứng hiện ở sáu căn thành sáu giặc. Nên xa bỏ chân tánh cũng từ sáu cửa này.

Để thấy rằng, con trâu của mình nó đi lạc, đi hoang ra sáu cửa. Muốn nó trở về thì phải làm sao cho nó từ sáu cửa quay về, dấu trâu cũng còn chưa mất. Thấy được dấu từ đó nó đi, theo dấu đó mò tìm thì bắt được trâu. Bỏ dấu này mà tìm trong sách vở thì không bao giờ thấy được.

Cho nên, Tổ nói ngay ba độc, ngay sáu giặc khéo chuyển thành ba tụ tịnh giới, thành sáu Ba-la-mật thì tự nhiên giải thoát.

Vấn đề quan trọng là chuyển như thế nào?

Tức là ngay khi khởi ba độc tham sân si đó, mình phải xét trở lại “cái gì là thể của nó”? Trước khi khởi tham, tâm này trụ chỗ nào? Đó liền chuyển ngay thôi.

Sáu thức là sáu cái biết phân biệt ở mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Nơi mỗi cái đều mang cái “biết” tức mang mầm giác, ngay khi thấy nghe đó mà mình lìa chỗ thấy nghe (tức lìa duyên) để xét trở lại chính nó, đó là chuyển.

 

CHÁNH VĂN:

Hỏi:

- Sáu thú, ba cõi rộng lớn không bờ mé, nếu chỉ quán tâm do đâu mà khỏi được cái khổ vô cùng?

Đáp:

- Nghiệp báo của ba cõi chỉ từ tâm mà sanh, nếu không tâm thì ở trong ba cõi liền ra ba cõi. Ba cõi đó là ba độc: tham là cõi Dục, sân là cõi Sắc, si là cõi Vô sắc, nên gọi là ba cõi. Do ba độc này mà tạo nghiệp nặng nhẹ thọ báo chẳng đồng, chia về sáu chỗ nên gọi là sáu thú.

 

Tổ nói rằng, nghiệp báo tuy không cùng, chỉ từ tâm sanh. Nếu không tâm thì ngay ba cõi liền ra ba cõi, không có chỗ nào khác để ra. Người thường nghe ra ba cõi tưởng đâu phải vượt qua ba cõi, ở một cõi nào khác, nên mới nói ba cõi vô biên làm sao ra? Nhưng Tổ dạy rõ ràng: ngay không tâm đó, trong ba cõi liền ra, thì còn có gì là vô biên. Cũng không phải bỏ ba cõi này để đến một cõi nào đó. Vì bỏ đây đến kia thì cũng là sanh thôi. Có sanh đến chỗ kia thì cũng có diệt, rốt cuộc cũng lẩn quẩn trong ba cõi, không phải vô sanh.

Nếu xét tường tận, có cõi nào, thú nào ngoài tâm mà có? Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới đều từ tâm mà hiện. Nếu nặng về dục nhiều thì cõi Dục hiện. Nếu tâm sân nhiều thì đến cõi A-tu-la. Còn tâm có thiền định kha khá thì Sắc giới hiện, lên nữa thì Vô sắc giới. Ở đây Tổ giải thích theo ba độc: tâm tham thì đến cõi Dục, sân thì cõi Sắc, si thì cõi Vô sắc. Các thú cũng vậy, tùy tâm tạo nghiệp nặng nhẹ mà chia về sáu nẻo. Nhưng dù ba cõi hay sáu thú cũng không rời ngoài tâm mà có. Nếu ngoài tâm thì cái gì biết ba cõi, biết sáu thú? Nếu có ba cõi sáu thú ngoài tâm thì thế giới không có tâm đó cũng là thế giới chết thôi.

Cho nên, nếu tâm mình không có tham, sân, si, thì ba cõi hiện chỗ nào? Một niệm không sanh thì không có ba cõi, ngay đó là giải thoát. Ý nghĩa “tam giới duy tâm” là như vậy.

Cho nên, có vị tăng đến hỏi Hòa thượng Thiên Long: “Làm sao để ra khỏi ba cõi?”. Sư không đáp mà hỏi lại: “Bây giờ ông đang ở đâu?”. Ngay một niệm hiện tiền đó mà mình thấy trở lại thì thoát ra ba cõi, còn tìm đâu nữa. Còn động niệm thì đang ở trong ba cõi.

 

CHÁNH VĂN:

Hỏi:

- Làm sao gọi là nặng nhẹ chia ra thành sáu?

Đáp:

- Chúng sanh chẳng rõ được chánh nhân, mê tâm tu thiện, chưa khỏi ba cõi, sanh nơi ba thú nhẹ. Thế nào là ba thú nhẹ?

Nghĩa là mê tu mười điều lành, vọng cầu vui sướng, chưa khỏi cõi tham, sanh vào thú trời. Còn mê trì ngũ giới, vọng khởi yêu ghét, chưa khỏi cõi sân sanh vào thú người. Mê chấp hữu vi, tin tà cầu phước, chưa khỏi cõi si sanh vào thú A-tu-la. Ba loại như thế gọi là ba thú nhẹ.

Thế nào là ba thú nặng?

Nghĩa là buông lung tâm ba độc, chỉ tạo nghiệp ác đọa vào ba thú nặng.

Nếu nghiệp tham nặng thì đọa vào thú ngạ quỷ. Nghiệp sân nặng thì đọa vào thú địa ngục. Nghiệp si nặng thì đọa vào thú súc sanh.

Ba thú nặng như thế với ba thú nhẹ trên thành sáu thú.

Nên biết tất cả nghiệp khổ đều do tự tâm sanh. Chỉ hay nhiếp tâm lìa các tà ác thì cái khổ luân hồi trong ba cõi sáu thú tự nhiên tiêu diệt, lìa khổ được giải thoát.

 

Tổ giải thích, sở dĩ chia sáu thú bởi chúng sanh chẳng rõ chánh nhân. Chánh nhân là gì? Chánh nhân là phải sáng được tự tâm. Ngoài tâm mà tu thì cũng lẩn quẩn trong luân hồi. Không dừng được tâm thì làm sao giải thoát?

Nếu mê tâm tu thiện, tức tu điều lành nhưng không rõ được tâm nên cũng còn tham sân si, thì đi trong ba thú nhẹ. Đó là:

1. Mê tu thập thiện vọng cầu vui sướng, nghĩa là tu mười điều lành nhưng còn cầu cái vui sướng để đời sau mình hưởng, tức là còn có ngã, dù sanh lên cõi trời cũng còn có cái ngã để cho mình hưởng, nên chưa khỏi cõi tham (tham hưởng).

2. Mê trì ngũ giới, tức giữ ngũ giới nhưng tâm còn tình yêu ghét nên cũng chưa khỏi cõi sân. Do đó mà sanh cõi người.

3. Mê chấp hữu vi tức là những pháp có sanh có diệt, nên tin tà cầu phước, chưa khỏi cõi si sanh vào A-tu-la. A-tu-la có phước nhưng là phước tà. A-tu-la cũng có nhiều hạng: có hạng có thần thông gần ngang với cõi trời.

Nói tóm lại, tuy có tu phước, tu thiện nhưng không rõ được nhân chân thật là nơi tự tâm cho nên theo cái ngã mà tu. Vì còn ngã nên dẫn đi trong sanh tử luân hồi.

Còn thế nào là ba thú nặng?

Tức là mặc tình buông lung tâm ba độc cho nó tạo tác nghiệp ác. Nếu nghiệp tham nặng thì đọa vào ngạ quỷ đói khát. Nghiệp sân nặng thì đọa địa ngục chịu khổ. Nghiệp si nặng thì đọa vào súc sanh si mê.

Tổ nói rõ, nếu biết tất cả nghiệp khổ đều từ nơi tâm sanh, nhiếp tâm lìa hết các tà ác đó thì dứt khổ luân hồi được giải thoát.

Nói chung là mình phải biết rõ chánh nhân. Tất cả là từ tâm tạo nghiệp dẫn đi trong sáu thú luân hồi lên xuống. Nếu mình dừng tâm tạo nghiệp thì ngay đó liền giải thoát.

Như vậy, giải thoát là giải thoát ngay nơi tự tâm hiện tại của mình chứ không phải ở một nơi nào khác. Tâm không sanh tức là giải thoát. Một niệm không sanh thì không có gì trói buộc được nó. Bởi vì tâm sanh tức phải có đối tượng nên bị trói buộc. Mà tâm sanh nên tạo nghiệp dẫn đi trong luân hồi.

Sở dĩ tạo nghiệp là do bám chấp vào cái ngã. Tu thiện để hưởng vui sướng là vì cái ta này. Trì ngũ giới cũng để cái ta này không rơi xuống và hưởng được những điều tốt đẹp hơn... Tạo nghiệp thiền định cũng vì cái ngã - chán cõi này muốn đến cõi khác cho cái ngã hưởng sự tốt đẹp hơn. Ngay đây một niệm không sanh thì cái ngã bám vào đâu? Không còn dấu vết cái ngã thì mới thật sự giải thoát. Thấy được gốc mà tu thì mới không lầm lạc.

 

CHÁNH VĂN:

Hỏi:

- Theo như lời Phật nói: “Ta ở trong ba đại a-tăng-kỳ kiếp chịu vô lượng cần khổ mới được thành Phật đạo”. Vì sao hiện nay nói chỉ cần quán tâm ngăn dẹp ba độc liền được giải thoát?

Đáp:

- Lời Phật nói đó không có hư dối. A-tăng-kỳ kiếp đó tức là tâm ba độc. Tiếng Ấn Độ nói a-tăng-kỳ, Trung Hoa nói “bất khả sổ” tức không thể tính đếm.

Tâm ba độc này ở trong đó có hằng sa niệm ác. Ở trong mỗi một niệm đó đều là một kiếp, như thế hằng sa không có thể tính đếm được. Cho nên, nói ba đại a-tăng-kỳ kiếp.

Còn tánh chân như đã bị ba độc che phủ. Nếu không vượt lên tâm ác độc ba đại hằng sa đó thì làm sao gọi là giải thoát?

Nay nếu hay chuyển được tâm ba độc tham sân si thành ba giải thoát, đây gọi là vượt qua ba đại a-tăng-kỳ kiếp.

Chúng sanh ở đời sau ngu si chậm lụt chẳng có hiểu được lời bí mật về ba đại a-tăng-kỳ kiếp của Như Lai, bèn nói thành Phật phải trải qua trần kiếp không có hẹn kỳ, há chẳng là làm nghi lầm người tu hành, lui sụt đạo Bồ-đề.

 

Đây là nói về ba a-tăng-kỳ kiếp.

Vì người hỏi rằng, theo thông thường kinh luận thường nói Phật phải qua ba vô số kiếp mà vô số kiếp lớn nữa, chịu bao nhiêu sự khổ nhọc mới thành Phật đạo. Đây nói chỉ quán tâm tức giải thoát là sao?

Cũng chính chỗ này, ngày xưa Ngài Đức Sơn không tin nổi. Ngài là giảng sư giảng kinh Kim Cang. Nghe nói thiền phương Nam là “trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”, Ngài cho là bọn ma phương Nam nên quyết ruồng tận hang ổ dẹp cho sạch. Nhưng gặp bà già bán bánh thì qua không nổi. Vậy để thấy học theo chữ nghĩa sách vở nên không thấu được lý thật. Cho nên, đây là “phá tướng luận” tức phá những kiến chấp trên hình tướng, trên danh từ chữ nghĩa để thấu được lý chân thật, soi trở về tự tâm của mình mới là thật.

Tổ giải thích, lời Phật không có hư dối. Nhưng phải hiểu ba a-tăng-kỳ kiếp là cái gì? Đó chính là ba độc. Tổ nói a-tăng-kỳ là tiếng Ấn Độ, dịch sang tiếng Trung Hoa là “bất khả sổ” nghĩa là không thể tính đếm. Nhưng không thể tính đếm sao lại có ba? Mới thấy “mật ý” Phật nằm trong đó rồi. Ba độc đó, trong mỗi độc lại có hằng sa niệm ác. Như tham thì có vô số niệm tham. Sân, si cũng vậy. Mỗi niệm đó là một kiếp. Cho nên, ba độc là hằng sa kiếp không thể tính đếm.

Như bây giờ đây, ví dụ một niệm tham thôi, mình tu hành đã mấy chục năm rồi mà đã hết niệm tham đó chưa? Trọn kiếp này chưa chắc gì đã sạch hết. Tu mà sạch hết bóng dáng các niệm ba độc thì có phải là vô số kiếp không thể tính kể không? Không thể tính kể ở đây, cũng có nghĩa là, nó không cố định số lượng mà tùy theo người. Người tinh tấn thiết tha thì số đó ngắn lại, còn người buông lung thì nó dài ra, muốn dứt sạch nó chậm mau tùy theo người, thời gian không thể tính đếm được.

Nhưng điều này mình có thể chứng nghiệm được ngay trong hiện tại này. Đó là điều đặc biệt. Tuy nói vô số không tính đếm được nhưng mình có thể chứng nghiệm được ngay đây. Tức công phu tu hành của mình trong giai đoạn nào đó nó mạnh, tâm ba độc lặng đi (tạm lặng không phải lặng hòan toàn) thì có thể cảm nhận được chỗ sống của chư Phật. Bởi vì chỗ sống của chư Phật là dứt sạch tâm ba độc, thì ngay khi tâm ba độc đó lặng là mình cảm nghiệm được điều đó. Vậy thì mình đủ niềm tin là mình có thể giải thoát được ngay trong chính mình, có thể cảm nghiệm được chỗ sống của chư Phật, nhưng trong một thời gian ngắn. Sống được trọn vẹn thì thành Phật.

Đây là Tổ phá tướng ba a-tăng-kỳ để mình thấu suốt ba thời: quá khứ, hiện tại, vị lai ngay trong một niệm này thôi chớ không mắc kẹt thời gian nữa. Khi mình thấu suốt được lẽ thật ngay nơi tự tâm mình, Phật là giải thoát nơi tự tâm thôi, thì dù trải qua thời gian dài bao nhiêu đi nữa mình cũng không ngán sợ. Nếu không, nghe nói thành Phật phải trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp, rồi sanh tâm ngán ngại, tu có chừng thôi, gieo duyên đời sau tu tiếp. Đây gọi là làm nghi lầm người tu hành, lui sụt đạo Bồ-đề.

Tổ nói ba đại a-tăng-kỳ kiếp là “lời bí mật của Như Lai”, nghĩa là Ngài muốn nhắc mình phải hiểu được ý ngoài lời. Bởi vì nếu nói dễ dàng “tức tâm là Phật” thì mình dễ xem thường, nói rằng tâm mình là Phật rồi đâu cần khổ nhọc tu hành gì nữa, tu tâm thôi, mà không biết “tu tâm” làm sao và “tức tâm gì” là Phật nữa. Nhận tâm tham sân si là Phật thì chết rồi! Hoặc nhận tâm vọng tưởng này là Phật thì nguy. Gọi tâm buông lung muốn làm gì thì làm là Phật, là tâm tự tại là đọa sâu.

Do đó, phải khéo nhận được thâm ý của Phật.

 

CHÁNH VĂN:

Hỏi:

- Đại Bồ-tát do giữ gìn ba tụ tịnh giới, thực hành sáu Ba-la-mật mới thành được Phật đạo. Hiện nay khiến người học chỉ cần quán tâm, chẳng tu giới hạnh làm sao thành Phật?

Đáp:

- Ba tụ tịnh giới đó tức ngăn giữ tâm ba độc thành được vô lượng thiện tụ. Tụ tức là gom nhóm hội họp. Vô lượng pháp lành đó gom nhóm khắp ở nơi tâm, cho nên gọi là ba tụ tịnh giới.

Còn sáu Ba-la-mật tức là tịnh sáu căn. Tiếng Ấn Độ gọi là Ba-la-mật, còn Trung Hoa gọi “đáo bỉ ngạn” tức đến bờ kia.

Do sáu căn thanh tịnh chẳng dính sáu trần, qua được sông phiền não đến bờ Bồ-đề, nên gọi là sáu Ba-la-mật.

 

Đây là phá tướng ba tụ tịnh giới và sáu Ba-la-mật ở ngoài để mình xoay trở về tự tâm, đó là gốc.

Ba tụ tịnh giới là ba nhóm giới của Bồ-tát, tức là dứt tất cả điều ác, làm tất cả điều lành, độ tất cả chúng sanh. Ở đây, Tổ nói ba tụ tịnh giới là ngăn giữ tâm ba độc, cốt là xoay trở về nơi tự tâm là chính. Mình nghe nói ba tụ tịnh giới rồi cứ dứt các điều ác bên ngoài, tu các điều lành bên ngoài, độ chúng sanh bên ngoài, mà trong này không độ, thì độ một lúc rồi phiền não, tức còn cái ngã trong này. Độ chúng sanh là phải độ chúng sanh tâm. Chúng sanh tâm được độ rồi thì chúng sanh bên ngoài mới được độ. Cứ lo độ bên ngoài mà không độ bên trong thì chạy theo ngọn ngành. Cho nên, tu nếu không rõ được tâm thì tu dễ mắc kẹt.

Như vậy, ba tụ tịnh giới là ngăn dẹp tâm ba độc. Ba độc tham sân si mà sạch hết tức là thành tựu ba tụ tịnh giới.

Ba-la-mật tức là thanh tịnh ngay sáu căn này. Sáu căn thanh tịnh thì qua được sông phiền não đến bờ Bồ-đề, tức đến bờ kia. Bờ kia là ở đâu?

Nếu hiểu theo chữ nghĩa, bờ này là bờ sanh tử, phải dứt sạch bờ này để đến bờ kia, thì bờ này bờ kia như vậy có phải là Ba-la-mật chưa? Bỏ đây lấy kia, tâm lấy bỏ còn nguyên sao gọi Ba-la-mật? Phải rõ chính ngay nơi sáu căn là bờ này, cũng ngay nơi sáu căn này là bờ kia.

Ngay sáu căn mà duyên theo sáu trần bên ngoài tức là bờ này, bờ sanh tử. Còn ngay sáu căn đối sáu trần mà không dính, không nhiễm là bờ kia. Đó mới là chỗ tu chân thật.

Đây là phá cái hiểu kẹt trên danh từ.

Nếu ngay nơi sáu căn này mà thuần chân thì thấy nguyên vẹn là thấy, nghe nguyên vẹn là nghe, không niệm kia đây, ngay đó thành Ba-la-mật.

 

CHÁNH VĂN:

Hỏi:

- Theo như lời kinh nói, ba tụ tịnh giới đó là: Thề đoạn dứt tất cả điều ác, thề tu tất cả điều lành, thề độ tất cả chúng sanh. Hiện nay chỉ nói ngăn dẹp tâm ba độc, há chẳng trái với văn nghĩa sao?

Đáp:

- Lời Phật nói đó là lời chân thật. Đại Bồ-tát nhân ở trong thời quá khứ khi tu hành đối với ba độc phát ba điều thệ nguyện: giữ gìn tất cả tịnh giới đối với tham độc; thệ đoạn dứt tất cả điều ác, thường tu tất cả điều lành đối với sân độc; thệ độ tất cả chúng sanh nên thường tu tuệ đối với si độc.

Do giữ gìn ba thứ tịnh pháp: giới, định, huệ đó cho nên hay vượt khỏi ba độc kia mà thành được Phật đạo. Vì các điều ác đã tiêu diệt gọi là đoạn. Do hay giữ gìn ba tụ tịnh giới thì các điều lành được đầy đủ, đó gọi là tu. Do hay đoạn ác tu thiện ắt là muôn hạnh được thành tựu, tự và tha đều được lợi, cứu giúp tất cả chúng sanh gọi là giải thoát.

Ắt biết rõ chỗ tu giới hạnh đó chẳng lìa nơi tâm. Nếu tự tâm thanh tịnh ắt tất cả cõi Phật đều được thanh tịnh. Cho nên kinh nói: “Tâm nhơ thì chúng sanh nhơ. Tâm sạch thì chúng sanh sạch. Muốn được cõi Phật thì phải sạch được tâm mình. Tùy tâm mình sạch thì cõi Phật đều sạch.” Ba tụ tịnh giới tự nhiên được thành tựu.

 

Tổ giải thích rõ, do đối với ba độc mà các Đại Bồ-tát thành tựu được ba tụ tịnh giới chứ không gì khác. Nếu tu sạch được ba độc thì được ba tụ tịnh giới, thành Phật đạo. Các điều ác tiêu diệt gọi là đoạn. Giữ gìn ba tụ tịnh giới, được các điều lành gọi là tu. Như vậy, gốc tu hành các giới hạnh cũng không lìa nơi tâm, từ tâm mà tu. Ngoài tâm mà tu là tu hình thức bên ngoài. Đó là khiến mình phá tướng hình thức bên ngoài trở về nơi tự tâm. Tâm thanh tịnh thì tất cả cõi Phật tịnh. Tâm không thanh tịnh dù cho mình có lo thanh tịnh, trang nghiêm bên ngoài mà cũng không được thanh tịnh.

Bởi vậy, Ngài Bàn Khuê có một lần Ngài nhận một số người cùi vào ở trong Tăng chúng rồi truyền giới cho họ. Đích thân Ngài gội đầu cạo tóc cho họ. Tình cờ có một nhà quý tộc đến. Ông là lãnh chúa trong vùng và ông chính là người cất thiền viện Ngài đang ở. Ông thấy vậy thì ghê lắm nên vội vàng múc một chậu nước mang đến cho Ngài rửa tay. Khi ông đem chậu nước đến, Ngài Bàn Khuê từ chối bảo rằng: “Chính sự ghê tởm của ông còn bẩn hơn những vết thương của họ nữa”.

Để thấy rằng nhơ không phải ở bên ngoài mà chính tâm phân biệt là đã nhơ rồi, nó nhơ từ trong tâm. Cho nên, giữ giới cũng vậy. Mình chỉ lo bám chắc vào cái bên ngoài mà không lo giữ bên trong thì cũng là hình thức. Nên trong nhà thiền nhấn mạnh, mình phải sáng tâm để tu hành là như vậy.

Chính Ngài Tào Sơn - Bổn Tịch có một lần thượng đường nhắc:

- Tiên sư (tức Ngài Động Sơn) có nói rằng, tâm nghĩ là phạm giới, còn nếu được pháp vị là phá trai. Hãy bảo thế nào là được vị. Nếu là pháp vị Phật, pháp vị Tổ thì vừa có tâm vui mừng là phạm giới rồi. Như hiện nay đây nói phá trai, phạm giới là khi làm phép ba phen yết-ma đó là sớm đã phá rồi.

Đây Tào Sơn nói, khởi tâm là phạm giới rồi. Khởi tâm tức đã trái với thể chân như. Cho nên, thấy được pháp vị, có tâm vui mừng tức động tâm, là có sở đắc tức phạm giới. Cho đến thọ giới Tỳ-kheo phải làm phép yết-ma ba lần, làm ba lần là phạm giới rồi. Vì sao? - Vì khởi tâm làm.

Hiểu như vậy để mình thấy rõ chỗ tu hành của mình. Luôn luôn soi sáng lại tâm mình, thấy rõ từng tâm niệm để sống cho chân thật, không phải chỉ trên hình thức bên ngoài.

Vì vậy, ở đây là phá tất cả hình thức để sống trở về với nội tâm chân thật. Đó mới thực sự là biết tu. Tu như vậy mới thật sự là thanh tịnh. Cho nên, Tổ nói tâm thanh tịnh thì cõi Phật thanh tịnh. Ngài dẫn kinh Duy-ma: “Muốn được cõi Phật thì phải sạch tâm mình. Tùy tâm mình sạch thì cõi Phật sạch”. Ba tụ tịnh giới tự nhiên thành tựu. Còn tâm không tịnh mà theo bên ngoài lý luận tu là phải tịnh giới này giới khác, mà thiếu tịnh tâm này thì chưa đầy đủ.

Nhưng nói như vậy không phải là bảo mình bỏ hết, không giữ giới gì. Nghe bảo giữ giới thì mình giữ giới, nghe nói phải phá hình thức bên ngoài giữ nơi tâm thì bỏ hình thức bên ngoài giữ tâm là cũng kẹt trên danh từ luôn. Phải hiểu “bản ý của Phật Tổ nói cái gì” để mà sống, chớ nghe nói bỏ thì bỏ, nghe nói giữ thì giữ, đó là theo ngôn ngữ danh từ. Nên nhiều người nói Tổ bảo bỏ hết hình thức bên ngoài, thôi mình giữ tâm được rồi, hình thức bên ngoài không thành vấn đề, rồi cứ sống thoải mái, oai nghi không cần giữ, thành ra giống như không chấp hình thức mà chấp trở lại cái không chấp đó, thì cũng thành chấp như thường, cũng không ra ngoài cái chấp. Đó là chỗ vi tế phải hiểu.

 

CHÁNH VĂN:

Hỏi:

- Theo như lời kinh nói thì sáu Ba-la-mật đó cũng gọi là sáu độ: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ. Nay nói sáu căn thanh tịnh là sáu Ba-la-mật thế nào được thông hiểu? Lại sáu độ đó nghĩa là thế nào?

Đáp:

- Muốn tu sáu độ phải tịnh sáu căn, trước là hàng phục sáu giặc.

Hay xả giặc mắt, lìa các cảnh sắc gọi là bố thí. Hay ngăn giữ giặc tai, đối với các thanh trần chẳng để cho buông lung gọi là trì giới. Hay khuất phục giặc mũi bình đẳng với các mùi hôi thơm, tự tại điều nhu gọi là nhẫn nhục. Còn hay ngăn dừng giặc miệng, chẳng tham các mùi vị, ca vịnh giảng nói gọi là tinh tiến. Hay hàng phục giặc thân, đối với các thứ ham muốn xúc chạm, trong lặng bất động gọi là thiền định. Còn hay điều hòa giặc ý, chẳng thuận theo vô minh thường tu giác tuệ, gọi là trí tuệ.

Sáu độ chuyên chở sáu Ba-la-mật dụ như thuyền bè hay chuyên chở chúng sanh để đến bờ bên kia, cho nên gọi là sáu độ.

 

Đoạn này Tổ phá cái hiểu Ba-la-mật theo danh từ, theo tướng bên ngoài khiến cho mình phải xoay về tự tánh.

Đây rõ ràng, ngay sáu căn này mình đi trong luân hồi, thì cũng ngay nơi sáu căn này mà giải thoát. Vì sáu căn là chỗ luôn luôn đối tiếp sáu trần, cho nên tu là tu nơi sáu căn này. Ngoài sáu căn này mà tu pháp này pháp kia là quên mất căn bản.

Lục Tổ ngộ cũng từ chỗ này. Khi nghe kinh Kim Cang tới câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Ngài liền ngộ. Nghĩa là ngay nơi sáu căn này đối với sáu trần mà không dừng, không trụ gì hết thì ngay đó chính là bản tâm thanh tịnh.

Tổ giải thích, “độ” nghĩa là chuyên chở, sáu Ba-la-mật dụ cho thuyền bè, tức là sao? Như thuyền bè tạm thời qua sông mà thôi, chưa phải là chỗ thật. Sáu Ba-la-mật chưa phải là chỗ cứu cánh. Mình phải sống trọn vẹn trở lại tự tánh mới là chân thật, bám trên sáu Ba-la-mật sanh hiểu thì cũng còn kẹt trên phương tiện lập ra, chưa phải thật.

 

CHÁNH VĂN:

Hỏi:

- Kinh nói rằng: Đức Thích Ca Như Lai khi làm Bồ-tát, Ngài từng uống ba đấu sáu thăng cháo sữa mới thành Phật đạo. Trước nhân uống sữa, sau mới chứng Phật quả, thì đâu chỉ quán tâm mà được giải thoát?

Đáp:

- Thành Phật như trên, lời nói đâu có hư dối, hẳn là nhân uống sữa, sau mới thành Phật. Nói uống sữa đó là có hai thứ: Món ăn của Phật đó chẳng phải là thứ sữa bất tịnh của thế gian, mà chính là sữa pháp thanh tịnh. Ba đấu là ba tụ tịnh giới, sáu thăng là sáu Ba-la-mật. Tuy thành Phật đạo, do uống sữa pháp thanh tịnh như thế mới chứng Phật quả, nếu nói Như Lai hay uống thứ sữa bò tanh hôi bất tịnh hòa hợp của thế gian đâu chẳng là rất chê bai lầm lẫn? Chân như tự là kim cang bất hoại, là pháp thân vô lậu, lìa hẳn các thứ khổ thế gian thì đâu có cần thứ sữa bất tịnh như thế để làm no được đói khát?

Lời kinh nói là bò đó chẳng có ở cao nguyên, chẳng có ở dưới thấp ướt, chẳng có ăn trấu cám lúa mạch, chẳng có đồng bọn với bò cái, thân của bò đó màu vàng chói. Bò đó tức Phật Tỳ-lô-giá-na, dùng đại từ bi thương xót tất cả nên ở trong pháp thể thanh tịnh mà phát ra sữa pháp vi diệu ba tụ tịnh giới, sáu Ba-la-mật, để nuôi nấng tất cả người cầu giải thoát. Bò chân tịnh như vậy và thứ sữa thanh tịnh đó, chẳng những Như Lai uống đó mà được thành đạo, tất cả chúng sanh nếu hay uống được thì cũng đều thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

 

Đây là phá hiểu lầm trên chữ nghĩa. Nghe nói Phật trước khi thành đạo uống bát cháo sữa của cô gái dâng lên, sau đó mới thành Phật. Người hỏi chấp việc hữu vi đó mà không hiểu ý chân thật nên lầm lẫn mới hỏi Tổ.

Tổ đáp rằng, lời đó không hư dối nhưng phải hiểu uống sữa đó là thứ sữa gì, chứ uống sữa bò mà thành Phật thì chắc là khỏi cần phải tu. Sữa đó chính là sữa pháp thanh tịnh. Ba đấu sáu thăng đó chính là ba tụ tịnh giới và sáu Ba-la-mật.

Tổ dẫn rõ, chân như đó là tự tánh kim cang bất hoại, cũng gọi pháp thân vô lậu, nó lìa hẳn tất cả khổ thế gian. Còn bò đó là Phật Tỳ-lô-giá-na tức pháp thân, từ đó mà phát xuất ra ba tụ tịnh giới và sáu Ba-la-mật. Người sống được trọn vẹn trong đó thì thành đạo Vô thượng Bồ-đề.

Đây ngầm chỉ là phải “đạt ý quên lời”. Đọc kinh nhất là kinh Đại thừa phải đạt ý quên lời là như vậy, nếu hiểu trên chữ nghĩa dễ hiểu lầm.

Cần phải nhận rõ pháp thân chân thật. Sống cho trọn vẹn, viên mãn trong pháp thân đó thì mới thành tựu. Còn nếu theo tướng tạo tác vô thường của thế gian thì trái xa thôi. Dù cho lên Hy-mã-lạp sơn để tìm cho được loại bò thuần này lấy sữa uống, cũng không thể như vậy mà được thành Phật. Phá tướng là thế đó.

 

CHÁNH VĂN:

Hỏi:

- Trong kinh có nói rằng: “Phật khiến chúng sanh phải tu sửa già-lam, đúc tạc hình tượng, thắp hương, rải hoa, đốt đèn, ngày đêm sáu thời nhiễu tháp hành đạo, trì trai, lễ bái, mọi thứ công đức như vậy đều được thành Phật đạo”. Còn nếu chỉ quán tâm thảy nhiếp hết các hạnh, nói việc như thế lý đáng là hư dối?

Đáp:

- Lời Phật nói trong kinh có vô lượng phương tiện. Do tất cả chúng sanh độn căn yếu kém nên chẳng tỏ ngộ được nghĩa sâu xa. Do đó mà mượn hữu vi để dụ cho vô vi. Nếu chẳng tu hạnh ở bên trong, chỉ cầu bên ngoài để mong mỏi được phước thì không có lẽ ấy. Nói già-lam đó là tiếng Ấn Độ, còn Trung Quốc dịch là “thanh tịnh địa” tức là đất thanh tịnh. Nếu trừ hẳn ba độc, thường thanh tịnh sáu căn, thân tâm được trong lặng, trong ngoài được thanh tịnh đó gọi là tu sửa già-lam.

Còn đúc tạc hình tượng tức là tất cả chúng sanh cầu Phật đạo phải tu các giác hạnh phỏng theo chân dung diệu tướng của Như Lai, há khiến mình đúc tạc đồng vàng đó mà thành. Thế nên người cầu giải thoát lấy thân làm đèn, lấy pháp làm lửa, lấy trí tuệ làm thợ khéo, ba tụ tịnh giới, sáu Ba-la-mật lấy làm khuôn đúc, nấu chảy chân như Phật tánh ở trong thân để khắp vào trong khuôn tất cả giới luật đúng như lời dạy mà vâng làm, không để lọt hở một chút thì tự nhiên thành tựu được chân dung.

Nghĩa là sắc thân rốt ráo thường trụ vi diệu đó chẳng phải là pháp hữu vi bại hoại. Nếu người cầu đạo chẳng hiểu được đúc tạc chân dung như thế, y cứ vào đâu liền nói là công đức.

Còn như thắp hương đó chẳng phải là thứ hương hữu tướng của thế gian mà chính là hương chánh pháp vô vi, nó xông ướp các thứ ác nghiệp vô minh hôi nhơ khiến cho tất cả đều tiêu diệt.

Hương chánh pháp đó có năm thứ:

Một là hương giới, nghĩa là nó hay đoạn trừ các điều ác, hay tu các điều lành.

Hai là hương định, nghĩa là tin sâu Đại thừa, tâm không thối chuyển.

Ba là hương tuệ, nghĩa là thường ở nơi thân tâm tự quán sát ở bên trong.

Bốn là hương giải thoát, nghĩa là hay đoạn trừ tất cả các vô minh trói cột.

Năm là hương giải thoát tri kiến, nghĩa là quán chiếu thường sáng tỏ thông suốt không ngại.

Năm thứ hương như thế nghĩa là hương tối thượng, thế gian không gì sánh kịp.

Phật khi còn ở đời khiến các đệ tử dùng lửa trí tuệ đốt hương quý vô giá như thế để cúng dường mười phương chư Phật. Còn chúng sanh thời nay chẳng có hiểu được nghĩa chân thật của Như Lai, chỉ đem những thứ hương vật chất của thế gian như trầm đàn, huân lục v.v... mà hy vọng được phước báo thì làm sao được?

Rải hoa đó nghĩa cũng như thế, nghĩa là thường nói chánh pháp, các thứ hoa công đức làm lợi ích cho loài hữu tình, rải đến tất cả, đối với tánh chân như đó mà thí khắp trang nghiêm. Hoa công đức này là chỗ Phật khen ngợi, rốt ráo thường trụ không có lúc nào héo tàn.

Nếu người rải được hoa như thế thì được phước vô lượng. Còn nếu như nói Như Lai khiến chúng sanh cắt đứt những vẻ đẹp, làm thương tổn đến cỏ cây lấy đó mà rải hoa thì không có lẽ ấy. Bởi vì sao?

Người giữ gìn tịnh giới thì đối với các thứ sum la vạn tượng ở trong trời đất chẳng cho xúc phạm. Lầm phạm còn mắc tội lớn, huống nữa là nay cố hủy phạm tịnh giới làm thương tổn đến vạn vật để cầu phước báo, muốn lợi ích trở lại thành tổn giảm, há có đúng sao?

Còn đèn trường minh đó tức là tâm chánh giác, lấy giác sáng tỏ dụ cái đèn. Cho nên, tất cả người cầu đạo giải thoát lấy thân làm đế đèn, tâm làm tim đèn, thêm các giới hạnh lấy đó làm dầu. Trí tuệ sáng suốt dụ cho lửa đèn. Phải đốt đèn giác chân chánh như thế để chiếu phá tất cả vô minh si ám, hay đem pháp này lần lượt khai thị cho nhau tức là một ngọn đèn mồi cho trăm ngàn ngọn đèn. Do đèn được mồi cháy tiếp luôn mà đèn đèn cháy vô tận cho nên gọi là trường minh.

Ở thời quá khứ có Đức Phật tên là Nhiên Đăng nghĩa cũng như thế.

Chúng sanh ngu si chẳng có hiểu được lời nói phương tiện của Như Lai, cứ một bề lo thực hành cái hư dối, chấp trước hữu vi, bèn đốt đèn dầu của thế gian để chiếu soi nơi phòng trống, bèn gọi là y theo lời dạy, há chẳng lầm ư?

Bởi vì sao? Phật phóng một luồng ánh sáng nơi giữa chặng mày, trên hay chiếu suốt cả một muôn tám ngàn thế giới thì há nhờ cái đèn dầu như thế mà làm lợi ích? Xét rõ kỹ càng lý này thì thật là chẳng đúng.

 

Ở đây người hỏi đem việc làm hữu vi (đúc tạc hình tượng, thắp hương, rải hoa v.v...) ra hỏi.

Tổ đáp ý muốn cho mình từ cái hữu vi đó xoay trở về vô vi. Ngài nói rằng, lời Phật nói đó có muôn ngàn phương tiện để dẫn dắt chúng sanh, nhất là những chúng sanh căn cơ chậm lụt, yếu kém không thể hiểu được nghĩa thâm sâu thì phải mượn những việc hữu vi để dụ cho vô vi.

Cho nên, ở đây già-lam là chỉ cho đất tâm thanh tịnh mới là cái gốc, nếu trừ được ba độc, thanh tịnh sáu căn, trong ngoài thanh tịnh thì gọi là tu sửa già-lam.

Còn đúc tạc hình tượng là chúng sanh cầu Phật đạo phải tu giác hạnh y theo giác của Phật mà tu cho đúng như vậy, không phải chỉ dùng vàng đồng để đúc thành mà thôi. Nói rằng nấu chảy chân như Phật tánh khắp vào khuôn tất cả giới luật, tức là chân như Phật tánh đó làm sao cho nó hiện hết trong tất cả giới luật. Mọi hành động oai nghi đều hiển bày chân như Phật tánh đó. Như vậy mới giống được đức tướng của Phật.

Nếu theo lời dạy mà vâng làm không để lọt hở một chút nào thì thành tựu được tượng chân dung, tức khế hợp pháp thân Như Lai. Cho nên, sắc thân rốt ráo thường trụ vi diệu đó chẳng phải là pháp hữu vi bại hoại. Vì vậy, Ngài Triệu Châu mới nói: “Phật gỗ chẳng độ được lửa. Phật vàng chẳng độ được lò đúc. Phật đất chẳng độ được nước”. Những vật đó là tướng vô thường. Nếu người cầu đạo chẳng hiểu được nghĩa chân thật này, chỉ lo y theo tướng hữu vi vô thường bên ngoài đó thì làm sao thành tựu được chỗ chân thật này? Đó là muốn cho mình phải sống trở về trong tự tánh, nghĩa là từ tướng hữu vi phải soi trở về cái vô vi để quên công phu tạo tác ở bên ngoài.

Thắp hương cũng vậy, phải là thứ hương chánh pháp vô vi, có năm thứ (như kể trong chánh văn), không phải là hương hữu tướng của thế gian. Phật khiến đệ tử dùng trí tuệ đốt hương quý này để cúng dường chư Phật. Chúng sanh thời nay không hiểu, đem hương vật chất của thế gian mà hy vọng cầu phước vô vi làm sao được, dù có cũng là phước hữu vi, không phải phước vô vi chân thật.

Còn tán hoa là thường nói chánh pháp, các thứ hoa công đức lợi ích hữu tình, rải đến tất cả, nghĩa là đối với chân như mà thí khắp trang nghiêm. Rải hoa như thế thì phước vô lượng, còn nếu nói Phật bảo chúng sanh chặt cây mà rải hoa, thương tổn cỏ cây thì không có lẽ ấy. Ở đây Tổ muốn dẫn mình trở về trong vô vi. Ngài dẫn giới luật của Thanh Văn, trong đó người giữ gìn tịnh giới đối với sum la vạn tượng không được xúc phạm, làm phạm thì mắc tội huống là cầu phước. Vì vậy mà trong luật có câu chuyện vị Tỳ-kheo bị ăn cướp lấy cỏ quấn mà vẫn ngồi đó hoài không dám bứt ra.

Đây khiến mình rải hoa là cốt từ tâm chân thật hiện ra. Nếu chỉ mượn hoa bên ngoài để cầu phước thì chưa đủ, nhiều khi còn sanh lỗi lầm. Như mình lựa hoa thật tươi, thật đẹp để đem cúng, tâm đó cũng tốt, nhưng lỡ có ai đó đụng đến thì sanh phiền não, là hết thanh tịnh.

Cũng vậy, đốt đèn trường minh tức là tâm chánh giác thường luôn luôn giác sáng tỏ rõ, rồi đem cái giác của mình khai thị nhắc nhở cho người khác cũng giác được như vậy. Người khác lại đem chỉ dạy nhắc nhở cho người khác nữa. Vậy là tiếp tục sáng mãi, sáng mãi nên mới gọi là trường minh. Còn chỉ đốt đèn thế gian bên ngoài thì nó sáng một lúc rồi cũng tắt, không thể gọi “trường minh”.

Tổ dẫn kinh nói, Phật phóng một luồng ánh sáng nơi giữa chặng mày soi suốt cả một muôn tám ngàn thế giới (trong kinh Pháp Hoa), há đèn dầu mà làm được? Đây muốn nói phải dùng ánh sáng trí tuệ mà soi sáng thì nó mới sáng được. Hiểu như vậy mới thấy được ý Phật dạy chân thật để mình không kẹt trên tướng hữu vi.

Chính chỗ này, nhiều người hiểu trên chữ nghĩa cũng lầm luôn. Kinh nói Phật phóng một luồng ánh sáng mà soi suốt cả một muôn tám ngàn cõi ở phương đông, soi cả địa ngục và cõi trời khiến chúng sanh đều thấy nhau, thì đó là ánh sáng gì? Đó là cái khéo của kinh muốn nhắc mình nhận ra trí tuệ luôn hằng hữu nơi chính mình mà mình quên. Xưa Phật phóng ánh sáng, bây giờ nói theo nhà thiền mình có phóng được hay không? Bây giờ mình giơ ngón tay, giơ ngón chân, có giống như vậy không? Cứ hiểu là phải phóng ánh sáng là chỉ hiểu theo chữ nghĩa thôi. Học thiền là phải thấy được ý linh động, sáng tạo như vậy. Ngày xưa Phật phóng ánh sáng người ta liền cảm nhận được lẽ chân thật. Bây giờ giơ ngón tay lên hay giơ cây búa lên mà cảm nhận được thì đâu khác gì phóng ánh sáng. Thấy được chỗ đó thì mình cũng thấy được suốt cả trên dưới trời đất không ngoài cái đó.

 

CHÁNH VĂN:

Lại sáu thời hành đạo đó, nghĩa là ở trong sáu căn đối trong tất cả thời luôn luôn thực hành Phật đạo, tu các giác hạnh để điều phục sáu căn luôn luôn chẳng bỏ, gọi là sáu thời.

Còn nhiễu tháp hành đạo đó, là thân tâm phải khiến cho giác tuệ vòng quanh luôn ở nơi thân tâm niệm niệm chẳng dừng, gọi là nhiễu tháp.

Bậc Thánh ở thời quá khứ thực hành đạo này mà đến Niết-bàn. Người thế gian thời nay chẳng hiểu được ý này, từng chẳng có thực hành ở bên trong, chỉ chấp ở bên ngoài mà cầu, đem thân vật chất này nhiễu tháp thế gian, ngày đêm luống tự nhọc nhằn, mà đối với chân tánh không có chút lợi ích.

Lại trì trai là phải hiểu được lý. Chẳng đạt được lý này rất là luống uổng. Trai là “tề”, nghĩa là điều chỉnh thân tâm chẳng cho tán loạn. Trì tức là giữ gìn, nghĩa là đối với các giới hạnh đúng như pháp mà giữ gìn, hẳn là phải bên ngoài thì ngăn giữ sáu tình, bên trong là dẹp ba độc, siêng năng tỉnh giác, thanh tịnh thân tâm. Rõ trọn được nghĩa như thế gọi là trì trai.

Lại trì trai là việc ăn có năm thứ:

Một là món ăn “pháp hỷ thực”, nghĩa là giữ theo chánh pháp vui vẻ mà vâng làm.

Hai là món ăn “thiền duyệt thực”, nghĩa là trong ngoài lắng lặng, thân tâm vui thích.

Ba là món ăn của niệm - “niệm thực”, nghĩa là thường nhớ nghĩ chư Phật, tâm và miệng tương ứng tức khế hợp nhau.

Bốn là món ăn của nguyện - “nguyện thực”, nghĩa là đi đứng nằm ngồi thường cầu nguyện lành.

Năm là món ăn “giải thoát thực”, nghĩa là tâm thường thanh tịnh chẳng nhiễm tục trần.

Như vậy năm món ăn này gọi là trai thực.

Nếu có người chẳng ăn năm món ăn thanh tịnh như thế mà tự nói là trì trai thì không có lẽ ấy. Chỉ đoạn món ăn của vô minh, nếu ăn liền xúc chạm đến thì gọi là phá trai. Nếu có phá thì làm sao được phước?

Ở thế gian, người mê chẳng tỏ ngộ được lý này, thân tâm cứ buông lung làm mọi điều ác, buông thả theo tình tham dục chẳng sanh hổ thẹn, chỉ đoạn món ăn ở bên ngoài tự gọi là trì trai ắt không có việc ấy.

Còn lễ bái đúng như pháp cần phải: ở trong lý thể sáng tỏ, sự thì tùy bên ngoài mà quyền biến. Lý có “hành tàng”, hành tàng nghĩa là có khi làm có khi ẩn, không cố định. Lãnh hội được nghĩa này mới gọi là y theo pháp.

Lễ đó tức là kính, bái đó tức là phục, nghĩa là cung kính chân tánh, khuất phục vô minh gọi là lễ bái.

Nếu hay ác tình hằng dứt được, luôn còn niệm thiện tuy chẳng hiện tướng, gọi đó là lễ bái, tướng đó tức là pháp tướng.

Thế Tôn muốn khiến cho người thế tục tỏ bày được lòng khiêm hạ cũng vì lễ bái, nên khom cúi thân bên ngoài để chỉ bày cung kính bên trong, nêu cái bên ngoài để sáng tỏ cái bên trong, tánh tướng khế hợp nhau.

Nếu chẳng thực hành lý pháp, chỉ chấp bên ngoài mà cầu, bên trong cứ buông lung sân si, thường làm ác nghiệp. Thì bên ngoài tức nhiên chỉ làm luống nhọc thân tướng, dối hiện oai nghi, không thẹn với bậc Thánh, lại luống gạt người phàm thì chẳng khỏi luân hồi, há làm thành công đức?

 

Đây là nói về sáu thời hành đạo, Tổ cũng quy về sáu căn. Ở nơi sáu căn luôn luôn thực hành giác tỉnh, không rời không bỏ mới gọi là sáu thời.

Hiểu pháp tức chỉ nơi thân tâm này giác luôn luôn, niệm niệm không dừng. Mình bây giờ không hiểu được lý này, chỉ lo nhiễu tháp bên ngoài mà không thực hành bên trong. Điều đó chỉ làm nhọc nhằn thân tâm vô ích, đôi khi còn thối tâm, (vì có khi đi một hơi mệt đổ mồ hôi, lại thêm phiền não), hoặc khởi kiêu mạn thấy “ta” hành đạo nhiều. Đó là sanh bệnh.

Trì trai ở đây không phải là ăn chay giữ giới thôi, mà phải đạt lý. Nghĩa là phải điều chỉnh thân tâm chẳng cho tán loạn. Tức là phải giữ gìn thân tâm ở bên trong, ngăn lục tình ở bên ngoài, luôn luôn tỉnh giác không gián đoạn, giữ gìn thân tâm đúng pháp luật không lỗi lầm.

Tổ còn dẫn năm thức ăn của trai thực. Để thấy trai thực không phải là ăn những món ăn bên ngoài. Ở đây, Ngài gọi là “dối hiện oai nghi, luống gạt kẻ phàm”. Phải luôn tỉnh biết không mê, vừa có niệm mê là trái. Nên Ngài nói, nếu chẳng ăn năm món ăn thanh tịnh này mà nói là trì trai thì không có lẽ ấy, vừa có xúc là phá trai rồi. Ví như ăn món đậu hủ, vừa có xúc là phá trai, nghĩa là lưỡi xúc với vị trần liền có động niệm, có ngon dở tức là phá trai.

Còn lễ bái cũng phải đúng như pháp mà lễ. Tức là phải sáng tỏ lý thể bên trong, sự bên ngoài thì quyền biến mà không cố chấp, có khi hành có khi ẩn (tàng). Căn bản của lễ bái là kính phục, tức cung kính chân tánh, khuất phục vô minh, thường dứt ác tình, luôn còn thiện niệm. Nếu không, chỉ lễ bái tướng bên ngoài thì không đủ nghĩa.

Tổ lại dẫn, Thế Tôn vì muốn khiến người thế tục bày tỏ lòng khiêm hạ nên khom cúi bên ngoài, tỏ bày cung kính bên trong, tức nêu cái bên ngoài để sáng tỏ cái bên trong, tánh tướng mới khế hợp. Nếu không hiểu được như vậy, chỉ làm bên ngoài, bên trong buông lung sân si, thường làm nghiệp ác, không nhiếp tâm. Đó là giả dối bên ngoài mà trong thì đầy ngã mạn. Như thế là không đúng nghĩa, không đúng lý. Phải biết, lễ là mình phải quên cái ngã này mới thấu được cái chân thật kia. Hiểu như vậy mới thấy ý nghĩa của lễ bái, là nhằm khiến cho mình dẹp trừ tâm ngã mạn.

Chính vì vậy, Lục Tổ mới quở Ngài Pháp Đạt, đến lễ Tổ mà đầu không sát đất. Vì Pháp Đạt nghe danh Lục Tổ mà chưa biết, đến lễ là bắt buộc, gượng làm vậy thôi, nghĩ mình là ông thầy lâu năm rồi, tụng Pháp Hoa đến ba ngàn bộ - là cả một sự nghiệp nên lễ thì lễ mà chưa phục. Tổ thấy biết liền, mới hỏi:

- Ông chắc có chứa sự nghiệp gì?

Ông nghe hỏi đáp liền:

- Con từng tụng ba ngàn bộ pháp hoa.

Lục Tổ biết ngay, Ngài mới quở:

- Ông lễ mà còn ngã mạn, đầu không sát đất, tụng kinh mà còn có ta thì tội liền sanh, quên ta thì phước không sánh.

Như vậy để rõ ý nghĩa lễ là thấp mình, quên cái ngã này mới thấy được cái chân thật kia.

Mình học thiền phải chú ý. Nhiều người nói tu thiền hiểu tâm được rồi, còn hình thức không cần. Đâu biết đã ngầm mang ngã mạn trong đó, mà đã có ngã mạn thì dễ làm chướng đạo. Nên ở đây phải quên tướng hữu vi bên ngoài để sống trở về với vô vi. Mình thấy được lẽ thật thì mọi việc làm đều có ý nghĩa.

 

CHÁNH VĂN:

Hỏi:

- Như trong kinh Ôn thất có nói: “Tắm rửa chúng Tăng thì được phước vô lượng”. Đây là y cứ sự pháp, công đức mới thành. Thế nào là quán tâm mà có thể tương ưng?

Đáp:

- Tắm rửa chúng tăng đó chẳng phải là việc hữu vi của thế gian. Thế Tôn chính vì các đệ tử mà nói kinh Ôn Thất muốn khiến cho thọ trì pháp tắm rửa, cho nên mượn việc của thế gian mà thí dụ cho chân tông, ngầm ẩn bảy việc công đức cúng dường. Bảy việc đó là thế nào?

Một là nước sạch, hai là lửa đốt, ba là chất tẩy, bốn là cành dương, năm là tro sạch, sáu là dầu thoa, bảy là y trong.

Dùng bảy pháp này dụ cho bảy sự. Tất cả chúng sanh do bảy pháp này tắm rửa trang nghiêm mà hay trừ được tâm độc cấu uế vô minh. Bảy việc đó là:

Một tức là tịnh uế, rửa sạch những điều cấu uế nhơ nhớp, giống như là nước sạch rửa những bụi nhơ.

Hai là trí tuệ quán sát trong ngoài, giống như lửa đốt hay làm nóng nước sạch.

Ba là phân biệt lựa bỏ điều ác, giống như chất tẩy hay rửa sạch những bợn nhơ.

Bốn là chân thật đoạn trừ những vọng tưởng, giống như cành dương hay làm sạch miệng.

Năm là chánh tín quyết định không có nghi ngờ, giống như tro sạch xoa thân hay trừ phong.

Sáu là nhu hòa nhẫn nhục, giống như dầu thoa làm trơn láng da dẻ.

Bảy là hổ thẹn ăn năn các nghiệp ác, giống như là y trong ngăn che thân hình xấu xí.

Bảy pháp như trên đó chính là ý nghĩa bí mật ở trong kinh.

Như Lai chính vì các vị Đại thừa lợi căn mà nói, chẳng phải vì hạng phàm phu trí nhỏ kém hèn. Do đó người hiện nay không có thể tỏ ngộ. Còn Ôn Thất tức là thân.

Do đó, lấy lửa trí tuệ mà đốt làm ấm nơi nước ấm tịnh giới để tắm rửa trong thân, thì chân như Phật tánh thọ trì bảy pháp này dùng tự trang nghiêm mình.

Chính các vị Tỳ-kheo thông minh thượng trí đều tỏ ngộ được Thánh ý đúng như lời nói mà tu hành, công đức được thành tựu đều lên được Thánh quả.

Còn chúng sanh thời nay không có lường biết được việc đó, đem nước thế gian mà rửa thân vật chất này tự cho là y theo kinh, há chẳng phải là lầm sao? Hơn nữa, chân như Phật tánh chẳng phải là cái thân phàm, phiền não bụi nhơ xưa nay là không tướng, há có thể đem nước vật chất này mà rửa thân vô vi? Việc chẳng có khế hợp thì làm sao mà ngộ đạo?

Nếu muốn cho thân được sạch thì phải quán thân này vốn nhân nơi tham dục bất tịnh mà sanh, hôi nhơ dẫy đầy, trong ngoài tràn trề. Nếu như rửa thân này để cầu cho nó sạch thì cũng giống như mỗi hào nước đều cạn hết thì nó mới sạch. Lấy đây để nghiệm thì biết rõ, rửa bên ngoài chẳng phải là lời của Phật nói.

 

Đoạn này nói về việc tắm rửa.

Người hỏi dẫn kinh Ôn Thất nói rằng, cúng dường những phương tiện tắm rửa cho chúng Tăng thì được phước vô lượng. Đó là y cứ trên sự pháp thì công đức mới được thành, bây giờ đây chỉ nói là quán tâm thôi làm sao mà hợp được?

Tổ đáp rất rõ ràng. Việc tắm rửa của chúng Tăng không phải là đem việc hữu vi thế gian mà nói. Nhưng Thế Tôn chính vì những vị đệ tử nói kinh này là để khiến thọ trì pháp tắm rửa. Nhưng mình phải biết pháp tắm rửa đó là gì?

Tổ dẫn sự trước, tức dùng bảy việc cúng dường chúng Tăng tắm rửa được phước rất lớn. Nhưng Phật nói đó để ngầm nói lên ý sâu xa ở trong mà người thường thì không hiểu được. Bảy việc đó là: nước sạch, lửa đốt, dầu thoa v.v...

Vì ngày xưa ở Ấn Độ, nước rất hiếm nên dùng nước cúng dường việc tắm rửa thì rất có phước.

Ngài hợp pháp lại, bảy việc đó là phải đem lý ứng dụng nơi chính mình để gạn lọc trừ những tâm vô minh ác độc, đó mới là ý chính của Phật. Bảy việc đó là tịnh uế, trí tuệ v.v... như dẫn trong chánh văn, để nói rằng Phật nói như vậy là những ý nghĩa bí mật trong kinh mà người thường không hiểu được, còn những bậc lợi căn nghe liền cảm ngộ.

Như vậy, đây mượn việc tắm rửa của thế gian nhưng muốn nhắc đến lý là ánh sáng chân thật nơi mình. Tức ngay khi tắm rửa, mình phải biết soi lại chính mình thì ngộ được “diệu xúc trang nghiêm”. Đó mới là khéo.

Như trong kinh Lăng Nghiêm, mười sáu vị khai sĩ vào trong nhà tắm, đang tắm xối nước, nuớc chảy thì các Ngài chứng được viên thông, ngộ được diệu xúc viên minh tức cái xúc vi diệu tỏa sáng. Còn mình thì sao? Vào tắm thì đắm mắc trong xúc trần. Như vậy để thấy rõ, ngay trong nhà tắm cũng sáng ngời Phật pháp, thì đâu đâu cũng là chỗ, là con đường để mình trở về, nhưng chỉ vì mình không khéo thôi. Nghĩa là biến việc tắm rửa cũng thành Phật sự, là việc của Phật. Ngay trong nhà tắm mà mình khéo soi sáng lại chính mình, tỏ ngộ được diệu xúc trang nghiêm thì đó là Phật sự. Trái lại, nếu mình chỉ tạo tình phân biệt lạnh - nóng, thơm - hôi thì chỉ thêm phiền não. Dù có tắm dầu thơm cũng thành nhơ nhớp. Vì sao? Lựa dầu thơm cho thật thơm tức đắm nhiễm xúc trần, là nhơ rồi.

Hiểu như vậy mới thấy được ý của Phật, nếu không thì bám trên tướng hữu vi thành ra đắm nhiễm, trái với lý mà không hay. Nên ở đây, Tổ nói rằng việc tắm rửa đó phải xoay về chính mình. Tức lấy lửa trí tuệ đốt ấm nước tịnh giới mà tắm thì chân như Phật tánh thọ trì bảy pháp lấy đó tự trang nghiêm. Các vị Tỳ-theo thượng trí ngay đó tỏ ngộ lẽ thật, đúng như lời nói mà tu hành, công đức thành tựu lên Thánh quả. Còn chúng sanh hiện nay không hiểu được việc đó, đem nước thế gian mà tắm rửa, kỳ cọ thân vật chất này, cho đó là y theo kinh, Tổ nói là lầm. Vì sao? Vì kẹt trên hình tướng bên ngoài. Chân như Phật tánh đâu phải là thân phàm này, phiền não trần cấu cũng vốn là không tướng, đâu thể đem nước vật chất mà rửa đến nó được?

Cho nên, phải đúng như lời dạy mà tu hành. Không thể chỉ đọc hiểu suông. Phải ngay thân này phát minh trí tuệ sẵn có nơi mình để tự trang nghiêm. Đó mới thật sự trang nghiêm. Đó mới là chỗ sống chân thật, là ý sâu mà Phật muốn chỉ. Để thấy ngay trong kinh đã có ý “giáo ngoại biệt truyền” rồi.

Trong sử có chuyện bà ni Trí Thông. Khi lập nhà tắm cúng dường, trước cửa nhà tắm bà có ghi tấm bảng:

   “Một vật cũng không, rửa cái gì?

   Mảy trần nếu có từ đâu khởi?

   Hãy nói lấy một câu khéo léo thì mới có thể vào phòng tắm.

   Cổ Linh chỉ biết kì lưng. Còn khai sĩ đâu từng sáng tâm?

   Muốn chứng quả “Ly Cấu địa” phải toàn thân toát mồ hôi. Trọn nói nước hay rửa bụi nhơ, đâu biết rằng nước cũng là bụi. Dù cho nước và nhơ chóng trừ, đến đây cũng phải rửa hết”.

Ở đây, Cổ Linh tức là Ngài Cổ Linh Thần Tán kì lưng cho Bổn sư đang tắm. Ông vừa kì lưng vừa vỗ vỗ lưng nói: “Điện Phật đẹp mà Phật không Thánh”. Bổn sư xoay đầu ngó lại, ông lại nói: “Phật tuy không Thánh mà thường hay phóng quang”. Nói vậy mà ông Bổn sư cũng không sáng được. Nên ở đây bà nói Cổ Linh chỉ biết kì lưng thôi, làm sao kì đến chỗ đó được!

Còn khai sĩ tức mười sáu vị khai sĩ trong kinh Lăng Nghiêm, khi vào nhà tắm chứng được viên thông. Nhưng bà nói cũng đâu từng sáng tâm. Nghĩa là sao? Nghĩa là đó cũng là việc của các Ngài thôi, mình làm sao thấy được việc đó thì mình mới chứng.

“Muốn chứng quả “Ly Cấu địa”, phải toàn thân toát mồ hôi”. Phải toát mồ hôi cho ra sạch hết. Mồ hôi này là mồ hôi gì? Phải hiểu ý đó.

Thường mình nói dùng nước để rửa bụi nhơ. Ở đây, bà nói nước cũng là bụi. Vì nước cũng là một trong các trần, thuộc về sắc trần. Như vậy, lấy bụi rửa bụi, cũng là bụi thôi, làm sao mà rửa hết? Bởi vậy, mình tắm hoài từ khi mới sanh ra cho đến già chết cũng chưa sạch. Tắm cái này bụi khác lại có, tắm hoài cũng không hết. Bụi vẫn là bụi. Cho đến nước và nhơ chóng trừ đi, đến đây cũng phải rửa hết. Nghĩa là cái rửa đó cũng phải rửa nữa. Vậy còn lại cái gì? Ngay đó chứng viên thông liền. Ngay đó xối nước đến đâu nghe mát đến đó, vậy không phải là diệu xúc viên minh sao? Xối đến đâu nghe mát đến đó, vậy mà chưa sáng còn tìm gì nữa? Nước trần làm sao rửa đến chỗ này được. Thấy được vậy mới là khéo biết tắm. Tắm như vậy mới gọi là không uổng phí nước của thí chủ.

Tổ sư dạy tiếp, nếu muốn cho thân được sạch phải quán thân này vốn từ nơi tham dục, bất tịnh mà sanh, đầy đủ hôi nhơ, rửa hoài cũng không hết. Nếu muốn rửa thân này cho sạch thì giống như mỗi hào nước đều cạn hết thì nó mới sạch. Nói như vậy để hiểu ý của Phật không phải chỉ rửa sạch bên ngoài.

 

CHÁNH VĂN:

Hỏi:

- Kinh nói rằng chí tâm niệm Phật ắt được vãng sanh về Tây phương Tịnh độ. Lấy một cửa này tức liền thành Phật thì đâu nhờ quán tâm mà cầu giải thoát?

Đáp:

- Xét về niệm Phật đó cần phải chánh niệm, hiểu thấu được nghĩa mới là chánh. Còn chẳng hiểu thấu được nghĩa đó là tà. Chánh niệm thì ắt được vãng sanh, còn tà niệm làm sao đạt đến nơi kia?

Phật là giác, nghĩa là giác rõ nơi thân tâm này chớ có để cho nó khởi điều ác. Còn niệm là nhớ, nghĩa là nhớ giữ giới hạnh chẳng quên, tinh tiến siêng năng. Nghĩa như thế đó gọi là niệm. Cho nên biết niệm ở nơi tâm chớ chẳng ở nơi lời. Nhân nơi nơm mà bắt được cá. Được cá phải quên nơm. Cũng như nhân nơi lời nói mà cầu được ý. Đạt ý phải quên lời.

Đã xưng tên niệm Phật thì phải biết cái đạo của niệm Phật. Nếu tâm mà không thật, miệng tụng tên suông mà ba độc vẫn tụ bên trong thì nhân ngã lấp đầy hông, đem tâm vô minh thì chẳng thấy Phật, luống công vô ích thôi.

Hơn nữa tụng cùng với niệm, nghĩa lý nó khác xa. Ở nơi miệng gọi là tụng. Ở nơi tâm gọi là niệm. Cho nên, niệm từ nơi tâm mà khởi gọi là cái cửa của giác hạnh. Còn tụng là ở trong miệng tức là cái tướng của âm thanh. Chấp tướng mà cầu lý trọn không có lẽ ấy.

Cho nên biết, chỗ tu của các bậc Thánh ở quá khứ đều chẳng phải là lời nói ở bên ngoài mà chỉ là suy cứu ở nơi tâm. Tức tâm là nguồn của mọi điều thiện. Tâm là chủ của muôn đức. Niết-bàn thường vui do dừng tâm mà sanh. Ba cõi luân hồi cũng từ tâm mà khởi. Tâm là cửa ngõ của một đời. Tâm là bến bờ của đạo giải thoát. Biết cái cửa ngõ lo gì mà khó thành? Biết bến bờ trọng yếu, lo chi mà chẳng đạt đến?

Cho nên thầm thấy rõ, thời nay người hiểu biết cạn cợt chỉ biết theo tướng mà làm công phu, rộng phí của báu, phần nhiều làm thương tổn đến những vật trên bờ dưới nước; vọng lo tạo tượng tháp, luống thúc giục người làm, chứa gỗ, chất đất, tô vẽ hết lòng hết sức; làm tổn mình, mê người mà chưa biết hổ thẹn thì đâu từng giác biết.

Thấy hữu vi thì luôn luôn đắm mắc. Còn nói vô tướng thì ngốc ngốc như mê. Hơn nữa tham lòng từ nhỏ ở hiện đời thì đâu có giác biết được khổ to về sau.

Người tu học như trên đây thì luống tự nhọc nhằn, trái với chánh mà theo về với tà, nói dối gạt là được phước.

 

Người hỏi rằng niệm Phật thì được giải thoát, đâu cần quán tâm.

Tổ đáp, niệm Phật là phải chánh niệm, hiểu nghĩa là chánh, còn nếu không là tà.

Phật nghĩa là giác sát nơi tâm không để cho nó khởi điều ác. Vậy mới là khéo niệm.

Niệm là nhớ giữ gìn tịnh giới. Niệm là ở nơi tâm, không phải niệm bằng miệng. Cũng như được cá phải quên nơm. Đạt ý mà quên lời.

Tổ sư nói, đã xưng niệm Phật thì phải biết đạo niệm Phật. Nếu tâm không thật, chỉ miệng tụng suông, ba độc vẫn còn, trong đầy nhân ngã, đem tâm vô minh mà niệm thì không thấy Phật, luống công nhiều.

Tụng là ở miệng, còn niệm là ở nơi tâm. Dùng tâm niệm Phật mới là ý nghĩa chính. Dùng tâm niệm Phật là sao? Ngay nơi niệm đó mà mình giác rõ không mê, tâm luôn luôn nhớ tánh giác của mình, thì tự nhiên khế hợp giác thể không hai. Đó gọi là lý niệm Phật chân thật.

Kinh Tứ Thập Nhị Chương có đoạn: “Cúng dường mười phương chư Phật mà không bằng cúng dường một vị đạo nhân vô tu vô chứng”. Ý muốn nhắc rằng: cúng dường mười phương chư Phật là cúng dường Phật bên ngoài, cũng là có phước. Nhưng cúng dường đạo nhân vô tu vô chứng là sống trở về với ông Phật của mình, ngay nơi mình (nên gọi là vô tu vô chứng), đó là chỗ quý căn bản, là nhân để thành Phật. Khi sống được trọn vẹn thì mình cũng là một vị Phật. Phải hiểu ý này, không phải nói đạo nhân vô tu vô chứng là lớn hơn Phật.

Điều cần chú ý là: “niệm ở tâm” không phải ở lời. Tâm phải thường nhớ không quên, chuyên nhất không xao lãng thì mới đúng nghĩa niệm Phật. Miệng tụng mà tâm nghĩ lung tung là chưa đúng.

Vì vậy, Tổ sư nói: “Chư Thánh tu không phải là lời bên ngoài mà suy cứu ở nơi tâm. Chính tâm là nguồn của mọi điều lành, là chủ muôn đức. Niết-bàn thường vui cũng từ tâm sanh. Luân hồi ba cõi cũng đều do tâm”. Nên phải thấu rõ tâm là cội gốc.

“Tâm là cửa ngõ của một đời. Tâm là bến bờ của đạo giải thoát”.

Sống được tâm, rõ được tâm thì Phật hiện tiền. Đó là lối tắt vào đạo.

“Người thời nay chỉ biết theo sự tướng bên ngoài mà làm công phu, phí của báu, làm thương tổn những vật trên bờ, dưới nước, tu tạo tượng tháp v.v...” Ngài muốn nhắc mình cứ lo tạo tác những hình thức, tượng vẽ bên ngoài mà không tỏ sáng được tâm là tự bỏ mất ánh sáng nơi chính mình nên gọi là tổn mình, mê người. Đây không phải bảo mình đừng làm những việc đó nhưng phải biết, ngay việc đó mà soi trở lại mình thì việc làm đó mới thật sự đầy đủ công đức.

Đây dẫn câu chuyện Lục Tổ và ông Phương Biện. Một hôm Tổ đi giặt y gặp ông, Tổ mới hỏi:

- Ông là người ở đâu?

Ông đáp:

- Con người đất Thục.

Tổ hỏi:

- Ông thường làm nghề gì?

Đáp:

- Con khéo đắp tượng.

Tổ nghiêm sắc mặt lại bảo:

- Ông đắp thử xem!

Ông Phương Biện mờ mịt không biết đắp sao. Về, ông cũng cố gắng nhớ lại đắp một tượng Tổ cao bảy tấc tàu rất khéo, đem đến trình Tổ. Tổ liền cười bảo:

- Ông giỏi tánh đắp mà không giỏi tánh Phật.

Để thấy, đó là theo tướng. Nếu khéo thì ngay khi Tổ nghiêm sắc mặt bảo “Đắp xem” ngay đó thấy được ý Tổ, lễ ba lễ là đắp xong, khỏi về nhà tốn công mấy ngày. Rõ ràng, Tổ nghiêm sắc mặt bảo đắp xem là ý Ngài muốn chỉ cái đó mà ông không thấy. Rất đơn giản. Thấy vậy mới thấy ý ở đây Ngài muốn chỉ. Bởi ở đây là phá tướng, là khiến mình trở về nơi tánh, nghĩa là chuyển tất cả việc làm bên ngoài trở về vô vi để thầm hợp tự tánh.

Tổ sư nói: “Thấy hữu vi thì đắm, nói vô tướng thì ngốc ngốc như mê”. Nghĩa là chỉ lo tìm phước ở trong sanh tử mà không cầu giải thoát. Chính đó là đi trong sanh tử, là khổ to mà Ngài gọi là “tham tiểu từ” mà không giác cái khổ to trong nhà lửa tam giới.

 

CHÁNH VĂN:

Chỉ hay nhiếp tâm mà chiếu soi lại bên trong, giác quán bên ngoài cho sáng tỏ, dứt bặt cả tam độc hằng khiến cho nó được tiêu mất, đóng bít cửa sáu giặc chẳng cho nó quấy rối. Thì tự nhiên hằng sa công đức, mọi thứ trang nghiêm, vô số pháp môn mỗi mỗi đều thành tựu. Siêu phàm, chứng Thánh thấy ngay trước mắt chẳng xa, tỏ ngộ trong khoảnh khắc, đâu phiền tới đầu bạc?

Cửa chân thật sâu kín, đâu có thể trình bày cho được hết. Lược thuật quán tâm nói rõ chút ít phần. Liền nói kệ:

    Ta vốn cầu tâm, tâm tự giữ

    Cầu tâm chẳng biết đợi tâm tri

    Phật tánh chẳng từ ngoài tâm được

    Tâm sanh ngay đó tội liền sanh.

 

    Ta vốn cầu tâm chẳng cầu Phật

    Rõ biết ba cõi (là) không, không vật

    Nếu muốn cầu Phật chỉ cầu tâm

    Chỉ tâm này tâm tâm là Phật.

 

Tới đây là Ngài kết lại, mình chỉ phải nhiếp tâm chiếu soi lại bên trong rõ ràng, giác quán bên ngoài tỏ rõ để trừ sạch ba độc, bít cửa sáu căn không cho nó quấy nhiễu thì tự nhiên công đức đầy đủ. Nghĩa là mình phải chiếu soi trở lại, đó là căn bản xưa nay. Còn ngó ra bên ngoài là đi theo đường tà. Kinh, Thiền đều nhắc mình như vậy. Đi sai là xa đường giác. Soi trở lại thì ngay đó đầy đủ hết.

Ngài Thủy Lạo hỏi Mã Tổ:

- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang?

Ngay đó Tổ tống cho một đạp té nhào. Ngay khi té, Sư liền đại ngộ, đứng dậy cười ha hả nói rằng:

- Thật là lạ! Thật là lạ! Trăm ngàn pháp môn vô lượng diệu nghĩa, đều ở ngay trên đầu một mảy lông thấu tột cội nguồn.

Tức ngay một tâm niệm này đầy đủ hết, khỏi cầu đâu xa.

Do đó Tổ sư nói ngộ trong khoảnh khắc - trong một cái đạp thôi. Sáng được “cái đó” thì “đâu phiền tới đầu bạc”.

Ngài nói cửa chân thật sâu kín không thể nói cho đầy đủ. Vì chỗ đó đâu làm sao nói cho hết được. Mình phải tự sống tự thể nghiệm thôi.

Đây giải thích bài kệ:

Đoạn một, “cầu tâm, tâm tự giữ” là chỉ quay về tâm đó. Người không biết cầu tâm, đợi tâm để biết cũng là lầm. Nghe nói cầu tâm rồi đợi biết là biến mình thành cái bị biết, đem tâm biết tâm thành ra hai tâm. Đó là lầm. “Phật tánh là từ tâm, không từ ngoài được. Tâm sanh thì tội liền sanh” : Một niệm vừa động thì có phải quấy, tội theo đó sanh.

Đoạn hai, “... cầu tâm chẳng cầu Phật,... ba cõi là không, không vật”. Thấu suốt chỗ này là thấy rõ chỗ đi của mình. Rõ suốt ba cõi là rỗng không, không thật tánh thì còn chỗ nào để mình bám, mình hiểu. Còn thấy có một chỗ để hiểu là còn thấy có một pháp thật. Còn ba cõi rỗng không, tức bặt hết mọi chỗ duyên thì ngay đó là gì mà còn chưa sáng? Ngay đó là giải thoát. Ngay lúc mình sắp chết, rõ được chỗ này thì hết sợ đi lầm. Rõ ba cõi rỗng không, không vật, không chỗ nào để duyên hết thì còn chỗ nào để đi? Còn chỗ đi tức còn chỗ sanh. Còn không chỗ để đi thì ngay đó là vô sanh, là giải thoát.

Tóm lại, muốn nhắc mình mọi hình thức bên ngoài đều không phải là thật. Nghĩa là có tạo ra, có phương tiện gì đều là tạm thời. Mình phải vượt qua những phương tiện đó, soi trở về nơi tự tâm chính mình. Đó mới là gốc của tất cả mọi pháp tu.

Xét kỹ lại thì ai không có tâm? Tại sao không sáng? Chỉ có điều quan trọng: phải quên cái ta này thì xong. Chỉ vì lo nhớ cái ta này nên không sáng nổi. Ngồi thiền, tâm sắp sáng tỏ mà chợt nhớ sáng nay có người nói nặng mình thì hết sáng liền. Cho nên, quên được cái ta này thì tu tiến ngay. Còn bám cái ta này nặng chừng nào tu càng khó tiến. Hiểu đạo sâu cách mấy còn lộ bóng dáng cái ta thì phải khéo soi lại.

Đây nhắc lại câu chuyện:

Bà ni hỏi Triệu Châu:

- Thế nào là ý thầm kín?

Sư liền lấy tay véo bà một cái. Bà hỏi:

- Hòa thượng vẫn còn cái ấy à?

Ngay đó Sư bảo:

- Chính ngươi mới còn cái ấy.

Hỏi ý thầm kín, Sư véo một cái. Nếu ngay đó mà thấy thì thấy ý thầm kín rồi. Véo một cái thì cái gì biết ngay chỗ đó? Trái lại, bà còn nghĩ lăng xăng nên không thấy ý thầm kín.

***

 

Để kết thúc Đạt Ma Tổ Sư Luận này, nhắc lại một câu chuyện:

Một hôm, Tổ Bồ-đề Đạt-ma gọi đồ chúng lại bảo:

- Giờ ta trở về sắp đến rồi. Các ngươi mỗi người hãy trình chỗ sở đắc cho ta nghe.

Đạo Phó ra thưa:

- Theo chỗ thấy của con thì chẳng chấp văn tự chẳng lìa văn tự, đây là cái dụng của đạo.

Tổ bảo:

- Ngươi được phần da của ta.

Bà ni Tổng Trì ra thưa:

- Nay chỗ hiểu của con thì cũng như Tôn giả A-nan thấy nước Phật A Súc thì chỉ thấy một lần không còn thấy lại lần thứ hai.

Tổ bảo:

- Ngươi được phần thịt của ta.

Ngài Đạo Dục ra thưa:

- Bốn đại vốn không, năm ấm cũng chẳng có. Chỗ thấy của con là không một pháp có thể được.

Tổ bảo:

- Ngươi được phần xương của ta.

Tổ Huệ Khả bước ra lễ ba lễ, lui về đứng yên, không trình câu nào. Nhưng Tổ bảo:

- Ngươi được phần tủy của ta.

Như vậy kết thúc Đạt Ma Tổ Sư Luận ngang đây là đủ. Da, thịt, xương, tủy tùy theo mỗi người mà nhận. Muốn nhận da cũng được, muốn nhận thịt cũng được, muốn nhận xương cũng được, muốn nhận tủy cũng được, tùy mỗi ngư

Kinh - Luật - Luận

adv3

Video giới thiệu

Tập:
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  • 8
  • 9
  • 10
  • 11
  • 12
  • 13
  • 14
  • 15
  • 16
  • 17
  • 18
  • 19
  • 20
  • 21
  • 22
  • 23
  • 24
  • 25
  • 26
  • 27
  • 28
  • 29
  • 30
  • 31
  • 32
  • 33
  • 34
  • 35

Tìm kiếm

Đọc nhiều

Ảnh đẹp

Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp

Lịch

Thống kê truy cập

  • Lượt truy cập: 35314
  • Đang online: 19