Cùng Tử Nhận Lại Cha
20/06/2026 | Lượt xem: 9
HT.Thích Thông Phương
Hôm nay, Quí Thầy nói về ý nghĩa Cùng Tử Nhận Lại Cha.
1- Cùng Tử Nhận Lại Cha
Phẩm Tín Giải trong kinh Pháp Hoa ghi: “Khi các vị Trưởng lão Tu Bồ Đề, Đại Ca Chiên Diên, Đại Ca Diếp, Đại Mục Kiền Liên... nghe Ngài Xá Lợi Phất được thọ ký thành Phật, thì các Ngài cũng mong được thọ ký”.
Khi ấy, các Ngài mới nói thí dụ trình lên Phật. Tức là có đứa con còn nhỏ dạy bỏ cha là Trưởng giả giàu có đi lang thang. Người ấy lưu lạc đến xứ khác đói khổ rồi xin ăn hoặc làm thuê làm mướn kiếm sống từng ngày.
Trên đường làm mướn kiếm ăn, vô tình trở về quê nhà và đứng ngay nhà của cha, thấy mặt cha nhưng không dám nhận mà bỏ chạy. Người cha thấy biết thương xót rồi khổ nhọc tìm phương tiện để gần gũi khuyên dạy.
Bấy giờ, người cha ấy thuê con làm mướn trả công từng ngày, để cho quen dần. Sau cùng người cha này mới báo cho mọi người biết đây chính là con ta và trao gia tài sự nghiệp.
Kiểm lại, chúng ta ngày nay có giống như vậy không? Mỗi người đều có nguồn gốc ông cha là Trưởng giả giàu có tức Phật tánh sáng suốt, đầy đủ công đức trang nghiêm. Nhưng vì bất giác, nghĩa là nhỏ dại thiếu sáng suốt nên phát sinh động niệm chạy theo trần, do đó mà quên mất nguồn gốc chân thật cao quí của chính mình, vì vậy phải đi xin rồi làm thuê, làm mướn kiếm ăn từng ngày khổ sở.
Tức là tâm bỏ gốc chạy theo ngọn, sống với vọng trần lăng xăng. Do tâm chúng ta luôn duyên theo bóng dáng của sáu trần, tức đi tìm hiểu biết. Đi tìm tức là làm thuê làm mướn kiếm ăn. Khi duyên cũ hết lại không biết đi tìm duyên khác nữa tức là phải có duyên mới biết, mà có duyên mới biết tức là phải tìm hoài hết ngày nay rồi phải kiếm ăn ngày khác.
Con người cũng vậy, hết duyên này rồi phải kiếm duyên khác, luôn phải tìm duyên. Tức tìm mãi tìm mãi cũng không thấy đủ, giống cũng như là cùng tử làm mướn kiếm ăn từng ngày, thật đáng thương!
Đây chính là sống trong hư vọng hay là sống mất gốc, mãi lang thang trong sanh tử luôn bị vô thường chi phối. Có ai thấy đau đớn không?
Nguồn gốc là con Trưởng giả giàu có cao quí, có cả một gia tài sự nghiệp thuộc về mình, phải lang thang làm mướn kiếm ăn từng ngày, vậy mà cũng chưa thấy đau. Nếu tỉnh lại sẽ thấy rất đau!.
Thiền sư Cảnh Thanh bảo: “Chúng sanh điên đảo quên mình theo vật”, quên mình theo vật là nhận cái hư dối làm mình nên cuộc sống điên đảo, bỏ thật nhận giả sống lộn ngược, không còn biết đâu là chân là giả.
Trong khi nguồn gốc của mỗi người là vô sanh, là Phật tánh thường trụ hay Phật pháp thân mà không nhận, lại nhận cái chợt có chợt không, chợt sanh chợt diệt luôn sống trong bất an, mê lầm điên đảo, lúc nào cũng hồi hộp.
Thiền sư Huyền Sa Sư Bị có dạy chúng: “Nay tôi hỏi các ông là các ông đã thừa đương được việc gì rồi? Tại thế giới nào mà an thân lập mạng, là biện biệt được hay chăng! Nếu các ông biện biệt chẳng được in tuồng như ấn mắt mà thấy hoa đóm, thấy việc đã sai biết chăng? Hiện nay thấy núi sông đồng nội sắc không tối sáng, bao nhiêu sự vật đều là tướng hoa đóm cuồng nhọc trên vai. Phàm là người xuất gia phải thức tâm đạt bổn, đó hiệu là Sa-môn”.
Khi chúng ta ấn con mắt thấy có hoa chớp chớp, nó đâu có thật. Tuy cảnh hiện trước mắt nhưng thấy việc đã sai. Cho nên Ngài nhắc phàm là người xuất gia là phải 'Thức Tâm Đạt Bổn' tức là nhận biết được bản tâm, thấu suốt được cái gốc của mình mới được hiệu là Sa-môn. Ngài hỏi người xuất gia chúng ta mang tên Sa-môn có xứng đáng chưa hay cũng vẫn sống mất gốc!
Để thấy hiện tại cuộc sống chúng ta nhận những tri kiến theo duyên theo cảnh, hễ có duyên thì có hiểu biết nên gọi là sống điên đảo mất gốc. Kinh Bát Nhã gọi tất cả pháp đều là tánh không, nhưng chúng ta lại cho đó là thật rồi theo nó nên phải sống trong hư vọng.
Đây nhắc tất cả phải tỉnh trở lại, vì sống như vậy đâu có gì bảo đảm, chính mình còn còn lờ mờ chưa quyết định vậy rồi dạy cho ai? Trách nhiệm của chúng ta là thầy thì phải dạy cho người, nhưng chính mình chưa an thì có đáng lo hay không? Nên đó là điều mỗi người phải thức tỉnh lại.
Nếu vậy thì có ai an tâm để vui sống trong cái giả tạm không? Nếu thức tỉnh kiểm xét lại mới thấy được ý nghĩa bổn phận của mình.
Thiền sư Tử Bá dạy cho Khang Mãnh Tu là: “Cách thời Phật đã xa, Tổ cũng chẳng ra đời, thời kiếp lại càng trược, nên người tu hành tuy buổi đầu lập niệm vì sanh tử nhưng cuối cùng phần nhiều bị thua”.
Ngài nói là buổi đầu người xuất gia lập niệm rất hay, đều vì vấn đề sanh tử giải thoát, nhưng phần nhiều cuối cùng bị thua. Nên cần phải biết bệnh mới điều trị được.
“Đại khái bệnh ở chỗ nào? Chẳng ở thanh sắc tiền của, chẳng ở thất tình lục dục mà chỉ là ở ngay cái túi da thúi của người mà đập chẳng vỡ, một điểm tâm vọng tưởng dòm chẳng thấu.”
Tức là ngay cái túi da thúi này mà dòm nó chẳng vỡ, ngay một điểm tâm vọng tưởng này dòm không thấu nó, liền bị ma sanh tử sai khiến. Bệnh là chỗ đó.
- Từ vô thủy đến nay thân trời, thân người, thân súc sanh, ngạ quỉ, thân lông cánh dảy mai, ở trong biển khổ thay đầu đổi mặt lên xuống không lúc nào tạm dừng. Hãy nói ma sanh tử này và thân trời, thân súc sanh v.v…là người đem đến cho ta chăng hay là tự mình chuốc lấy! Thảy là chẳng ra ngoài một điểm tâm phan duyên.
Tức là những loài có thân có cánh như con chim, dảy mai như con rùa… Ngài hỏi thay đầu đổi mặt lên xuống trong sáu đường là ai đem đến cho mình hay tự mình chuốc lấy. Cho nên mỗi người phải dòm cho vỡ, phá cho thấu điểm tâm phan duyên này thì mới có thể an tâm ăn tết được, nào phải đơn giản!.
Tức là chỗ điểm tâm phan duyên này là chỗ mà chúng ta phải dòm cho thấu, phá cho vỡ, đó là việc trọng đại nhất trong đời của mình. Cũng là chỗ Cùng Tử bỏ cha lang thang cần phải trở lại quê nhà nhận cha, không phải là những việc buồn vui hơn thua yêu ghét không đáng kể.
Nên đối với việc trọng đại phải thấy rõ là trọng đại, việc không đáng kể phải thấy cho ra không đáng kể thì việc tu sẽ nhẹ nhàng không thấy nặng nề, đó là điều mà mỗi người phải nhớ kỹ.
Mỗi năm đến ngày ba mươi tháng chạp, các Thiền sư thường nhắc là: “Không khéo đến ngày ba mươi tháng chạp là tay chân quờ quạng, đau đớn khổ sở như con cua bị lột vỏ sống, đau đớn mờ mịt thật là khổ không biết đi về đâu, trăm bề không thể nói hết”.
Tức là ngày cuối sắp lâm chung giống như là ngày ba mươi cuối năm. Khi ấy tay chân quờ quạng, đau đớn như là con cua bị lột vỏ sống, đó là trạng thái khi thần thức sắp rời khỏi thân này lúc ấy đau khổ trăm bề, vậy mà hiện tại mỗi người vẫn chưa tỉnh ngộ.
Cho nên khi nhớ đến giây phút đó phải lo tu, vì không phải đơn giản. Không chỉ là ngày ăn hai buổi ngồi thiền là xong việc. Phải biết việc bổn phận là chuyện trọng đại cuối đời của mình.
2- Khéo Nhận Lại Cha
Giờ đây phải khéo nhận cha trở lại tức trở về nguồn. Khi đã biết nguồn gốc chân thật của mình là Phật tánh sáng suốt, là ông cha Trưởng giả, không phải là túi da thúi này. Phải khéo soi trở lại tức quay đầu nhận lại cha, bỏ đi kiếp lang thang lưu lạc xứ người. Tức là đem tâm trở lại gốc, phải làm sao phá vỡ một niệm phan duyên này.
Bởi vì niệm vin theo duyên, luôn bám theo duyên cho vậy là sống còn, nếu không thì nó chết, nên mới gọi là sống tạm bợ kiếm ăn từng ngày. Còn cái sẵn có thường trụ thì lại quên bỏ mất, giờ phải làm sao phá vỡ niệm phan duyên này.
Tại sao chúng ta lại phải theo duyên, có duyên mới được? Cần phải đặt vấn đề ngược trở lại, vì không thể đi theo cuộc sống lâu nay là phải có duyên không duyên không được. Thử dứt hết các duyên, buông không có chỗ bám xem có chết chóc gì không!.
Cho nên Ngài Đức Sơn bảo: “Lão Đức Sơn này khuyên các ông chi bằng giữ bổn phận đi! Sớm thôi dứt đi! Chớ học cuồng loạn, mỗi người hãy gánh tử thi một cách linh hoạt đi!”.
Tức là mỗi người hãy buông duyên đi! Hãy gánh cái thây chết này một cách linh hoạt đi, đừng sống theo kiểu như lâu nay nữa.
Vậy mỗi người có sẵn sàng buông hết các duyên, gọi là thôi dứt đi để gánh cái tử thi này một cách linh hoạt sáng suốt, không quá nặng nề. Hiện tại chúng ta mất tự chủ, hoàn toàn lệ thuộc không có linh hoạt.
Có vị Lạt Ma Tây Tạng sang Tây phương, cùng ngồi xe với người bạn, xe chạy qua nghĩa địa, thấy nghĩa địa bên Tây phương làm sang trọng, người bạn nói:
- Ngài xem bên Tây phương này người ta làm những cái nghĩa địa quá sang trọng!
Vị Lạt Ma bắt ngay câu đó nói liền:
- Đúng vậy! Ở bên đây người ta xây những cái nhà thật tốt cho những thây chết, rồi người ta cũng xây những nhà thật tốt cho những thây sống.
Ngài muốn nhắc là cái xác sống chứ không có gì, khi chết sẽ giống như cái xác nằm yên ngoài nghĩa địa.
Hằng ngày, chúng ta gánh cái xác sống này đi lên đi xuống, sáng ngủ dậy gánh nó một vòng ra ngoài vườn, trưa trưa gánh nó lên ngồi quả đường ăn cơm, tối gánh nó lên ngồi thiền một chút, nào có gì đâu! Tuy nhiên gánh có linh hoạt hay không thì đó mới là việc quan trọng.
Đó là những điểm để mỗi người phải thức tỉnh, phải quán kỹ để trở về nhận lại cha, nhờ có quán rồi mới thấy có sự hổ thẹn. Nếu không là sống thiếu trí tuệ, mỗi ngày giống như là sống với cái tử thi không có gì đáng!.
Cho nên phần Bát hoàn (tám thứ trả về) trong kinh Lăng Nghiêm, Phật bảo Ngài A Nan:
“Ông hãy xem tướng biến hóa này nay tôi đều trả về cái bản nhân của nó. Thế nào là bản nhân?".
A Nan: “Cái tướng biến hóa này cái sáng là trả về cho mặt trời. Vì sao? Vì nếu không mặt trời thì không sáng. Nguyên nhân cái sáng là của mặt trời cho nên trả về cho mặt trời. Tối là trả về cho đêm không trăng; thông suốt trả về cho cửa; ngăn bít trả về cho tường vách; sắc duyên là trả về cho phân biệt; rồi cái trống không trả về cho hư không; cái mù mịt là trả về cho bụi; còn trong sáng là trả về cho trời tạnh. Như vậy, tất cả vật có ra trong thế gian đều không ra ngoài các thứ này, còn tánh thấy sáng suốt của ông thấy tám thứ kia ông muốn trả nó về đâu?".
Thí dụ như thấy cái khoảng trống này thì trả về hư không, còn thấy ngăn bít thì trả về cho tường vách, thấy chỗ thông suốt thì trả về cho cửa, còn thấy sáng thì trả về mặt trời hay đèn điện, tối thì trả về cho đêm không trăng... Mỗi cái đó đều có chỗ trả về, còn cái tánh thấy sáng suốt của ông hay của mỗi người thấy được tất cả tám thứ đó, giờ muốn trả về đâu?
Có ai sáng tỏ được điều gì trong đây chưa? Đó là điểm cần phải sáng tỏ. Cái gì có thể trả về thì trả hết, còn cái không thể trả về thì sao? Nếu nhận rồi sống với nó là rất hay nhưng không chịu, mà lo nhận những thứ trả về để hồi hộp sợ mất.
Đó là mê lầm của chúng ta, cần phải quán kỹ quán sâu chỗ này, chính đó là yếu chỉ của thiền, cũng chính là yếu chỉ về nguồn gặp lại cha. Bởi những cái trả về như là làm mướn kiếm ăn từng ngày, có được ngày nào thì ăn ngày đó. Còn cái mà không thể trả về này nó mới chính là gia tài của mình, phải khéo nhận trở lại để sống mới là chỗ sáng suốt. Đây là điểm quan trọng.
Như ngồi thiền tâm được an, khi đó tâm không có duyên gì hết nên trở về yên lặng là gặp lại cha rồi, nhưng lại sợ để cho qua nên kiếm duyên trở lại, như khi gặp cha rồi lại bỏ chạy.
Cho nên, mỗi người phải khéo nghe rồi nhận hiểu trở lại, biết trở về nguồn nhận lại cha; nhận lại gia tài của mình sống đầy đủ đâu còn phải lang thang kiếm ăn từng ngày.
Như bài kệ của Thiền sư Huyền Giác, nguyên văn chữ Hán:
Nhược dĩ tri chi tịch
Thử phi vô duyên tri
Như thủ chấp như ý
Phi vô như ý thủ.
Nhược dĩ tự tri tri
Diệc phi vô duyên tri
Như thủ tự tróc huyền
Phi thị bất huyền thủ.
Diệc bất tri tri tịch
Diệc bất tự tri tri
Bất khả vi vô tri
Dĩ tánh liễu nhiên cố.
Bất đồng ư mộc thạch
Như thủ bất chấp vật
Diệt bất tự tác huyền
Bất khả vi vô thủ
Dĩ thủ an nhiên cố
Bất đồng ư thố giác.
- “Nhược dĩ tri chi tịch, Thử phi vô duyên tri, Như thủ chấp như ý, Phi vô như ý thủ”. Nếu lấy cái biết mà biết lặng, thì không phải là cái biết không duyên. Như cái tay cầm cây như ý, chẳng phải cái tay không như ý.
Đoạn này nói tuy buông được các duyên động nhưng còn nhận cái biết lặng là mình. Hành giả tu đến đây cũng khá rồi, nhưng cũng còn duyên theo cái lặng, là dùng cái biết biết lặng, thì đây không phải là cái biết không duyên. Còn có cái lặng làm duyên để biết, giống như cái tay cầm cây như ý, cũng không gọi là không cái tay như ý. Tức là cái biết lặng rồi lấy cái lặng đó làm duyên để biết là cũng còn lang thang xứ người.
- “Nhược dĩ tự tri tri, Diệc phi vô duyên tri, Như thủ tự tróc huyền, Phi thị bất huyền thủ.” Nếu dùng cái tự biết mà biết thì cũng chẳng phải cái biết không duyên. Như cái tay nắm lại thành một nắm, đâu phải là không cái tay nắm, ý nói buông luôn cái lặng đó chỉ tự biết thôi.
Còn lấy cái biết tự mình làm duyên, giống như cái tay nắm lại thì cũng còn cái tay nắm. Tuy dụng tâm tu không biết bên ngoài nhưng còn lấy tự mình làm duyên để biết, đây cũng chưa dám quên hết để trở về nhà nhận lại cha. Bởi cái tay nắm mãi thì không tự tại, không thể cầm cái ly hay các vật khác được, nên cũng còn vướng.
- “Diệc bất tri tri tịch, Diệc bất tự tri tri, Bất khả vi vô tri, Dĩ tánh liễu nhiên cố.” Đến đây, Ngài nói là cũng chẳng có cái biết biết lặng, cũng chẳng có tự biết cái biết. Tức là buông hết không cái biết biết lặng, cũng không có cái biết, do vì tánh biết rõ ràng nên buông hết đừng sợ mất.
Tức là không có cái biết biết lặng cũng không có cái biết tự biết nữa, nhưng cũng chẳng phải là không có cái biết, bởi tánh nó rõ ràng. Đã là cái thể biết thì làm sao buông nó! Buông cái này buông cái kia được nhưng cái thể biết làm sao buông! Cho nên cái còn có thể buông được thì cái đó còn có chỗ trả về, còn cái không buông được thì không thể trả về đâu, vì tánh nó rõ ràng đâu có sợ mất. Chỉ vì mê nên sợ buông hết không còn biết. Ngài nói rõ là buông hết không cái biết biết lặng, cũng không cái tự biết nhưng chẳng thể không có cái biết. Chính cái tánh rõ ràng đó là chỗ về nguồn để gặp cha.
- “Bất đồng ư mộc thạch, Như thủ bất chấp vật, Diệc bất tự tác huyền, Bất khả vi vô thủ, Dĩ thủ an nhiên cố, Bất đồng ư thố giác.” Tánh đó chẳng đồng với cây đá, như cái tay chẳng cầm lấy vật, cũng chẳng thể nắm lại thành nắm nên cũng chẳng thể nói là không có cái tay. Chính vì không có cầm gì hết, tay cũng không nắm lại nên nó mới tự do tự tại muốn nắm cầm gì cũng được.
Tâm mình cũng vậy, buông hết không còn chỗ nào để duyên thì nó tự tại, rõ ràng thường biết, còn cái này do duyên mới biết thì bị giới hạn. Cho nên nếu không biết cái kia chỉ lo nhớ cái này; không duyên mọi thứ mới rõ ràng sáng tỏ không có gì gạt được. Đó là yếu chỉ để trở về nhận lại cha.
Như vậy, Thiền sư Huyền Giác muốn nhắc những hành giả có thực hành có tu, không phải là nhắc cho những học giả. Người hành giả thấy những chỗ này mới thấm sâu.
Tức đem cái biết trả về nguồn, là buông hết các duyên trở về, cho con gặp lại cha, nhận lại gia sản của mình xưa nay chưa từng mất, nên đừng có sợ buông hết không còn gì.
Đó là tâm tha thiết chân thành của các Ngài, các Ngài thấy được điều đó rồi nhắc nhở, đánh thức cho những người còn lang thang trở về.
Ngài Vân Môn khi tiếp thị giả Viễn, Ngài liền gọi:
- Thị giả Viễn!
Thị giả liền đáp:
- Dạ!
Ngài bảo:
- Ấy là cái gì?
Đến 18 năm như vậy, thị giả Viễn mới ngộ ra.
Đây chính là chỗ Ngài Vân Môn muốn nhắc thị giả. Gọi tới gọi lui ông liền dạ, ngay đó ông có mặt mà không tỉnh ngộ. Nếu ông không có mặt lúc đó thì phải đợi một lúc đâu đó mới chạy lại dạ được.
Thị giả Viễn cũng giống như chúng ta, vẫn còn tiếc những cảnh trên đường, tiếc số tiền làm mướn chưa dám buông, khiến Ngài Vân Môn phải nhọc nhằn gọi đi gọi lại. Nếu dứt khoát buông là nhận ra cha, ngay tiếng gọi ban đầu mà ông nhận ra thì đâu phải gọi mãi như vậy.
Tuy nhiên, nói trở về nhận lại cha cũng là phương tiện, sự thật không có trở về đâu cả, cũng không có cha nào để nhận.
Nếu người nghe rồi chịu buông nhận ra là xong, còn không thì phải chịu mười tám năm. Như hiện tại đang nói tất cả đều nghe hết, không có vắng mặt nên đâu có thiếu, nhưng tại không chịu trở về!
Song, nói trở về nói nhận cha cũng là phương tiện, sự thật thì không có trở về đâu hết, cũng không có cha nào để nhận, như Lục Tổ nói: “Nên biết bao nhiêu của báu đã có là hoàn toàn thuộc về ông, do ông thọ dụng trọn chẳng khởi tưởng là cha, cũng chẳng khởi tưởng là con, không khởi tưởng dùng luôn.”
Đó là thuộc về ông rồi thì ông cứ nhận thôi còn khởi tưởng gì nữa! Cho nên nói trở về tìm cha cũng là phương tiện nhắc cho người còn mê, sự thật nó không có trở về đâu hết.
Giống như cái tay của chúng ta đây, nếu cần cầm cái ly thì cầm thôi; còn khởi niệm tôi dùng cái tay để cầm cái ly, giống như cái tay ở bên ngoài mình nên mới nghĩ là dùng cái tay cầm cái ly, phải qua mấy giai đoạn gián tiếp.
Đây cũng vậy, cái thể biết sáng suốt đó thuộc về mình rồi cần biết thì biết, không phải là tôi phải dùng nó để biết nó, rõ ràng như vậy!.
Giống như là Diễn Nhã Đạt Đa soi gương quên đầu rồi phát cuồng chạy đi tìm đầu, đến khi tỉnh lại thì cái đầu vẫn còn nguyên đâu có mất. Cho nên, cái biết không hề mất, không có người thứ hai nào xen vào trong đó, đâu có thêm cái gì. Do không có ai nhận cũng không có ai thêm cái gì được, sạch hết ý tưởng thì nó nguyên vẹn sáng ngời thôi.
Nếu sống trở về nhận rõ như vậy thì còn cái gì vui hơn! Những chuyện buồn vui giận ghét trên đời này có đáng không? Được vậy mới yên tâm ăn tết, còn chưa thì phải nhiều cái lo.
Đó là những điểm muốn nhắc cho tất cả phải ý thức được lẽ thật, thấy bổn phận của mỗi người phải sống trở về. Tức là phải biết cái gì quan trọng, cái gì tầm thường, nhận rõ không lẫn lộn. Thường chúng ta chỉ quan tâm những thứ không đáng kể, còn những thứ đáng kể lại không quan tâm. Giờ đổi ngược trở lại thì đường đi của chúng ta thông suốt hơn.
3- Kết Luận
Tóm lại, tất cả chúng ta bỏ cha lang thang xứ người làm thuê làm mướn từ vô lượng kiếp, giờ là quá đủ rồi.
Ngay đây biết được nguồn gốc chân thật còn nguyên chưa mất, tức tánh giác thường trụ không biến đổi vẫn sẵn còn nguyên đây. Chỉ cần can đảm bỏ bước lang thang, trở về nhận lại nguồn gốc chính mình là nhận lại cha, nhận lại gia sản để yên tâm ăn tết. Nhờ vậy, cuộc đời chúng ta sẽ tươi sáng như mùa xuân không bao giờ mất
Xin nhắc bài kệ ngày tết của Thiền sư Nhân Dũng để tất cả luôn nhớ rồi cảnh tỉnh lấy mình, nguyên văn chữ Hán:
Tạc nhật khứ niên khứ
Kim nhật kim niên lai
Khứ niên khứ bất khứ
Kim niên lai bất lai.
Biến giả danh xích tuyết
Đại địa vong kim ai
Vô danh vô tự nhân
Cử mục liêu bồi hồi.
Nghĩa:
Hôm qua năm cũ đi
Ngày nay năm mới đến
Năm cũ đi chẳng đi
Năm mới đến chẳng đến.
Khắp đồng đầy tuyết trắng
Cõi đất bặt mảy trần
Người không tên không chữ
Đưa mắt nhìn bồi hồi.
Ý dạy chớ có theo thời gian sanh diệt, giống như là năm cũ đi năm mới đến. Song thời gian đến đi không có thật, không dính dáng gì đến chỗ này hết. Cái người không tên không tuổi này lúc nào cũng có mặt sẵn đây, lúc nào cũng đưa mắt nhìn mọi người bồi hồi, gợi ý cho mình nhớ mà không ai nhớ.
Chúng ta phải làm sao cảm thông được cái người không tên không tuổi này đang nhìn mình bồi hồi, giống như Cùng tử nhận lại cha, như vậy mới an tâm, mới xứng đáng đời tu của mình.
Hôm nay, nhắc cho tất cả phải là Cùng tử nhận lại cha. Chúc tất cả hãy buông hết kiếp cùng tử lang thang, trở về nhận lại cha để thoát kiếp mê lầm, sống với mùa xuân không bao giờ mất, xứng đáng với đời tu giác ngộ giải thoát của mình.
Các bài mới
- Lời khai thị đầu hạ 2026 (Phần 02) - 02/06/2026
- Lời khai thị đầu hạ 2026 (Phần 01) - 30/05/2026
- Yếu chỉ minh tâm - 22/04/2026
- Lời Sách Tấn Tại Lễ Tự Tứ 2025 - 11/09/2025
- Sống Trở Về - 02/09/2025
Các bài đã đăng
- Cửa thiền hé mở - 05/07/2025
- Lời Nhắc Nhở Mùa An Cư - 29/05/2025
- Một cái biết suốt cả xưa nay - 25/07/2022
- Chạy đâu cho khỏi cái biết - 06/07/2022
- Chơn tâm sờ sờ - 09/06/2022
Pháp Thoại
Video giới thiệu
- 1
- 2
- 3
- 4
- 5
- 6
- 7
- 8
- 9
- 10
- 11
- 12
- 13
- 14
- 15
- 16
- 17
- 18
- 19
- 20
- 21
- 22
- 23
- 24
- 25
- 26
- 27
- 28
- 29
- 30
- 31
- 32
- 33
- 34
- 35
Tìm kiếm
Sách mới
- Thanh Từ Toàn Tập Quyển 6: Kinh Bộ Giảng Giải 6 - Kinh Lăng Già Tâm Ấn giảng giải (Phần 01)
- Thanh Từ Toàn Tập Quyển 5: Kinh Bộ Giảng Giải 5 - Kinh Thủ Lăng Nghiêm Giảng Giải
- Thanh Từ Toàn Tập Quyển 4: Kinh Bộ Giảng Giải 4
- Thanh Từ Toàn Tập Quyển 3: Kinh Bộ Giảng Giải 3
- Thanh Từ Toàn Tập - Quyển 2: Kinh Bộ Giảng Giải 2
Tin mới
Đọc nhiều
Ảnh đẹp
Lịch
Thống kê truy cập
- Lượt truy cập: 44764
- Online: 10
