Chấp Bóng Quên Đầu

24/12/2025 | Lượt xem: 209

HT Thích Thanh Từ

Thiền viện Trúc Lâm 29-09-2003

Hôm nay tôi sẽ nói chuyện với Ni chúng về đề tài Chấp bóng quên đầu, cũng là một thí dụ trong kinh Lăng-nghiêm. Tôi đã kể tới kể lui nhiều lần nhưng chưa đi sâu, bây giờ chúng ta sẽ đi từng giai đoạn, giải thích rồi phân tích chia chẻ để thấy rõ pháp tu hành của mình.

Trong kinh Lăng-nghiêm, Phật nói thí dụ chàng Diễn-nhã-đạt-đa soi gương thấy đầu mặt rõ ràng, chợt sanh ưa thích đầu mặt mình. Khi úp gương lại không thấy đầu mặt, anh chàng hoảng hốt ôm đầu chạy kêu: “Tôi mất đầu! Tôi mất đầu!” Như vậy Diễn-nhã-đạt-đa điên hay tỉnh? Nếu cho cái bóng trong gương là đầu mình, quên mất đầu thật thì là người điên, không phải tỉnh.

Bóng trong gương dụ cho vọng tưởng, cái đầu của Diễn-nhã-đạt-đa dụ cho bản tâm chân thật nơi mỗi người. Vì Diễn-nhã-đạt-đa cho tâm vọng tưởng là tâm thật, nên khi không có vọng tưởng liền la “Tôi mất đầu”.

Nhưng cái đầu không mất, dù chạy xa ngàn dặm cũng vẫn còn. Chúng ta có giống Diễn-nhã-đạt-đa không? Nếu cứ nhớ bóng mà quên đầu thì tất nhiên là điên rồi. Đó là vấn đề hết sức quan trọng trong việc tu hành.

Nếu không có đầu thì không thể có bóng trong gương. Sở dĩ có bóng là do có đầu. Cho nên, khi thấy vọng tưởng là biết mình có tâm chân thật. Vậy mà không nhớ tâm chân thật, chỉ nhớ vọng tưởng. Điên đảo chưa? Người tu phải xét kỹ điều này, nếu không thì cả ngày chỉ sống như một người điên.

Chúng ta tu hành là từ bỏ những điều khờ dại lầm lẫn, để nhận ra cái chân thật nơi mình, chứ không phải chạy theo vọng tưởng điên đảo. Thế nhưng trên thực tế, ta lại chạy theo vọng tưởng điên đảo mà quên đi cái chân thật. Vậy thì làm sao nhận biết lại cái chân thật của mình? Dễ nhận ra nhất là khi ngồi thiền. Tôi thường nhắc quý vị vọng tưởng dấy lên liền buông. Thế thì cái gì biết buông? Chính cái thấy vọng tưởng và không theo vọng tưởng mới không phải vọng tưởng. Đó chính là cái chân thật mà chúng ta bỏ quên.

Quý vị thử so sánh hai trường hợp: chạy theo vọng tưởng và cái biết vọng tưởng, trường hợp nào giúp chúng ta hết nghiệp, trường hợp nào tạo thêm nghiệp? Vọng tưởng dấy lên thì có thương ghét, vui buồn. Thương tạo nghiệp tham, ghét tạo nghiệp sân, buồn vui tạo nghiệp si. Khi dấy niệm chạy theo buồn vui thương ghét là lúc chúng ta đang tạo nghiệp. Biết rõ nhưng không khởi niệm thì không tạo nghiệp. Không tạo nghiệp là giải thoát.

Chúng ta chọn quyền được giải thoát hay quyền tạo nghiệp? Tu hành là cầu giải thoát sanh tử, mà lại dùng quyền tạo nghiệp làm chỗ nương tựa cho mình, thì chừng nào mới ra khỏi sanh tử? Đây là vấn đề tối quan trọng mà người tu lại không quan tâm, cứ sống vui đùa trong vọng tưởng, tạo nghiệp buồn vui thương ghét… không có ngày dừng. Chính những điều ấy sẽ dẫn mình đi mãi trong luân hồi sanh tử. Người tu nào cũng quyết tâm cầu giải thoát, nhưng lại tạo nghiệp sanh tử, đó là nói một đàng làm một nẻo, không trung thực với chính mình.

Chẳng những người thế gian mà người xuất gia cũng không chịu trở về với cái chân thật của mình. Cho nên, chúng ta giống như Diễn-nhã-đạt-đa ôm đầu chạy la mất đầu. Chạy một lúc thì nhớ mình có cái đầu, lúc sau lại quên, rồi tiếp tục chạy nữa. Lúc tỉnh thì nhớ, lúc mê thì quên. Tuy chợt tỉnh chợt mê như vậy, nhưng cũng khá hơn những người điên hoàn toàn.

Trên đường tu, hành giả cần xác định rõ mình hy sinh cả cuộc đời vào đạo vì tìm cầu cái gì? Nếu tìm cầu giải thoát thì phải nuôi dưỡng vun bồi nhân giải thoát mới là biết tu. Nếu bỏ quên nhân giải thoát, chạy theo nhân tạo nghiệp sanh tử từ năm này qua tháng nọ thì chưa biết tu. Người không biết tu tức là phí hoài sự cúng dường của đàn-na tín thí, rất đáng hổ thẹn.

Chúng ta phải tỉnh táo lên, đừng mê muội nữa. Cương quyết cạo tóc xuất gia là đã làm được việc khó làm. Nhưng nếu quên đi quyết tâm mãnh liệt thuở ban đầu ấy, sống trở lại với cái tầm thường của người thế tục thì rất đáng buồn. Tôi mong Ni chúng lúc nào cũng nuôi dưỡng nhân giải thoát, gạt bỏ nhân tạo nghiệp sanh tử, để việc tu hành có kết quả tốt.

Khi ngồi thiền, vọng tưởng dấy lên liền buông. Vọng tưởng lặng rồi thì có biết, có thấy, có nghe không? Cái thấy biết chân thật luôn sẵn có, nhưng ta lại bỏ quên, còn vọng tưởng tạm bợ không thật thì lại nhớ. Vọng tưởng là nhân tạo nghiệp nên phải buông bỏ. Sống với cái chân thật là nhân giải thoát mà chúng ta đã chọn.

Diễn-nhã-đạt-đa ôm đầu chạy la mất đầu, gọi là điên. Khi úp gương lại, nếu chỉ nhớ cái đầu, không chú ý tới bóng nữa thì hết điên. Hết điên là giác ngộ. Si mê thì điên, giác ngộ là tỉnh. Quý vị chọn điên hay tỉnh? Đương nhiên ai cũng chọn tỉnh, nhưng phải quyết tâm thực hành, chứ không thể nói suông.

Đa phần đều cho suy nghĩ là mình. Thí như chị B xảy ra việc, một vị hỏi: “Chị nghĩ việc đó thế nào?” Chị trả lời: “Tôi không có suy nghĩ nên không biết.” Lúc nào cũng nói có suy nghĩ mới biết, không suy nghĩ thì không biết. Vậy là phủ nhận cái biết thường trực rồi. Nếu trả lời đúng thực tế thì nói: “Vấn đề đó tôi không theo dõi nên chưa rõ”, chứ nói “không biết” là không được. Bởi vì dù suy nghĩ hay không suy nghĩ thì cái biết vẫn luôn tồn tại.

Nếu không biết thì làm sao thấy, làm sao đi, làm sao nói? Biết thấy, biết đi, biết nói là có biết. Bởi chúng ta nuôi dưỡng sai lầm quá lớn, cho suy nghĩ là mình rồi cả ngày đuổi theo nó. Tới lúc ngồi thiền đuổi vọng tưởng mà cũng nửa đuổi, nửa theo. Nhiều vị theo vọng tưởng hết ba phần tư thời gian ngồi thiền, chỉ đuổi có một phần tư. Vậy mới thấy sự tu hành không phải chuyện đùa.

Người tu tìm cầu giác ngộ trong khi thế gian đang sống trong mê lầm. Có vị đi tu đã được năm mười năm nhưng lại nuôi dưỡng mê lầm. Khi về nhà, cha mẹ anh em hỏi: “Năm nay, cô tu tiến bộ nhiều hay ít?” Dù quý vị kể ngồi thiền được hai giờ thì cũng chỉ là hình thức mà thôi. Tuy ngồi thiền lâu hơn, nhưng trong khi ngồi không biết tỉnh hay mê nên chưa thể gọi là tiến. Nếu vị nào trả lời: “Hồi trước trong tâm nhiều mê lầm, bây giờ đang tập buông bỏ, nhưng chỉ mới bỏ một phần, vẫn chưa trọn được.” Đó mới là người biết tu, biết sống thật.

Trong xử sự với huynh đệ, khi chưa tu thì buồn giận thương ghét một trăm phần trăm (100%), biết tu rồi phải giảm. Quý vị xét lại xem mình đã giảm chưa? Đó là điều thực tế, không thể nói một cách mơ hồ được. Năm đầu, buồn thương giận ghét 100% thì qua năm sau ít nhất còn lại 90%, trải một năm nữa là 80%. Nghĩa là dần dần giảm xuống, cho tới ngày không còn gì cả. Hết sạch buồn thương giận ghét thì mặc tình tự tại. Tu như vậy mới có kết quả.

Tăng ni ở trong chùa năm bảy năm mà vẫn còn buồn thương giận ghét thì chẳng khác người đời. Nếu có khác là về phần hình thức: cạo tóc, ăn chay, tụng kinh, tọa thiền. Thế nhưng bây giờ người ta cũng cạo tóc theo thời trang, cư sĩ vẫn ăn chay trường. Vậy thì phần hình thức đâu còn quan trọng, quan trọng nhất là tâm mình. Chúng ta làm sao để tâm tỉnh sáng, không u mê nữa. Đó là vấn đề thiết yếu trong tu tập.

Sự tu hành không căn cứ trên thời gian năm tháng, mà thể hiện qua từng hành động, lời nói, tâm niệm.

Nếu hành động, lời nói, tâm niệm thay đổi thì sự tu có kết quả. Nếu vẫn y nguyên như lúc ban đầu thì không có kết quả. Những vị chịu trách nhiệm dẫn chúng phải theo dõi thường xuyên, nhắc tới nhắc lui cho đại chúng ghi nhớ mà tinh tấn tu hành. Nhắc nhở không phải là khó khăn, rầy la, mà vì muốn sự hy sinh của quý vị xứng đáng. Chúng ta rời bỏ cha mẹ, vào chùa cạo tóc tu hành thì phải biết chỉnh sửa nội tâm của mình, để trở thành người tỉnh sáng. Tu hành bao nhiêu năm mà vẫn y nguyên như cũ thì vô nghĩa rồi.

Việc tu hành là tự mỗi người lựa chọn, không ai thay mình. Nhiều khi cha mẹ không cho phép, quý vị vẫn cương quyết chọn con đường này. Thế thì phải làm cho tròn trách nhiệm của mình, đi tới nơi tới chốn, cha mẹ mới yên lòng. Nếu đi giữa chừng lại bỏ, hoặc đi một chặng gặp trở ngại liền chán nản, đó là sai lầm không thể chấp nhận trong hàng tu sĩ.

Quý vị có muốn làm Diễn-nhã-đạt-đa không? Chúng ta biết Diễn-nhã-đạt-đa điên mà vẫn muốn làm thì quá si mê. Đã biết là điên thì phải cương quyết bỏ. Lại còn dặn dò huynh đệ chung quanh: “Nếu thấy tôi điên thì tát vài cái cho tỉnh!” Như vậy mới hết điên. Nói bỏ mà không chịu bỏ, huynh đệ nhắc nhở còn hờn giận là không được. Trên đường tu, chúng ta phải cương quyết đi cho tới nơi tới chốn, mới xứng đáng đệ tử Phật.

Nuôi dưỡng cái giả tạm hư dối, khỏa lấp cái chân thật là trái ngược với bản nguyện cầu giác ngộ giải thoát. Nếu không được nhắc nhở, e rằng Ni chúng cứ nghĩ một ngày ngồi thiền ba thời, tụng một thời sám hối là đủ. Tu mà tâm chưa kiên quyết, chưa dẹp những hư dối thì cũng chưa tới đâu. Chỉ khi nào nhận ra cái thật sẵn có nơi mình mới là đến đích.

Khi ngồi một mình không nghĩ tưởng gì, chúng ta vẫn nghe rõ ràng tiếng chim kêu, thấy cảnh trước mặt, biết tâm đang an ổn. Bởi vì cái chân thật chưa từng vắng thiếu. Nhưng khi dấy niệm, chạy theo niệm thì liền quên. Hoặc khi làm việc, chỉ mãi nhớ việc, nên quên đi cái chân thật ấy. Mới nghe qua câu chuyện Diễn-nhã-đạt-đa, ai cũng thấy anh ta thật đáng cười. Nhưng mỗi vị tự xét xem mình có đáng cười không? Chúng ta phải ý thức việc mình đang làm, giờ phút nào cũng nhớ tu, đừng lơ là. Thường nhớ là thường tỉnh, thường tỉnh là thường giác. Được như vậy mới đúng tinh thần của người xuất gia học đạo.

 Quý vị đi tu, cha mẹ luôn hy vọng rằng mai này con cái tỉnh giác, để chỉ dạy và nhắc nhở mình tu. Nhưng đến chùa thăm, toàn nghe quý vị kể chuyện không hay trong chùa. Về thăm nhà lại còn than chuyện ở chùa phiền não quá, càng làm cha mẹ thêm chán nản. Thế thì đâu có làm gì được cho cha mẹ. Nếu chúng ta đã cương quyết tu hành để thức tỉnh mẹ cha, thì phải làm sao nhắc nhở cha mẹ bớt mê, được tỉnh.

Lại nữa, trong chúng có nhiều vị động đến liền nổi sân, thấy gì đẹp cũng thích, nghe ai nói dịu dàng thì thương…