Tây Du Ký qua cách nhìn của người học phật

14/01/2015 | Lượt xem: 31

Tags: tây du ký, học phật

LỜI ĐẦU SÁCH

 

Nhân các cháu gia đình Phật tử đến chơi, đang trò chuyện với nhau, tôi nghe chúng kể lại phim truyện Tây Du Ký có những đoạn như: Hồng Hài Nhi phun lửa Tam muội và đến Tây phương cửa Phật mà vẫn còn ăn hối lộ... Nghe qua, lòng tôi nghi ngờ, không biết trong Tây Du Ký nói những gì mà khi các cháu xem phim lại hiểu như thế, cái hiểu có phần lệch lạc về đạo Phật, cho nên tôi mới tìm mượn bộ Tây Du Ký do Nhà xuất bản Văn học tái bản năm 1997 của Thụy Đình dịch để xem. Khi xem đến lời giới thiệu có đoạn: “Thần, Phật, Sư, Đạo là đối tượng châm biếm của Ngô Thừa Ân”. Lời này càng thôi thúc tôi phải đọc xem trong truyện nói những gì?.

Sau khi xem xong bộ truyện tôi thấy có những điểm rất phù hợp với công phu hành đạo theo giáo lý Phật đà. Trong ấy, Ngô Thừa Ân đã khéo dùng ngòi bút văn chương nói lên được ý nghĩa thâm thúy của Phật pháp, thật đúng như câu “Văn dĩ tải đạo”. Người xem vì chưa hiểu Phật pháp và đa phần chỉ theo dõi sự diễn biến của truyện nên đã hiểu lầm, tưởng chừng như xem thường nhà Phật, và lời nhận xét của Nhà xuất bản Nhân dân Văn học Bắc Kinh cũng chỉ là cái nhìn phiến diện mà thôi. Với lòng mong muốn hóa giải sự ngộ nhận về đạo Phật của người xem Tây Du Ký, tôi đã không ngại sự hiểu biết thiển cận của mình, xin trình bày ra đây những điểm phù hợp với tiến trình chuyển hóa tư tâm của người tu Phật, được Ngô Thừa Ân nhân cách hóa qua các nhân vật, trong từng chương hồi của truyện. Hơn nữa, cũng mong muốn người xem Tây Du Ký hiểu biết chút ít về đạo Phật, vì vậy mà quyển sách này ra đời.

Tuy xét thấy việc làm này không biết có đúng với dụng ý của Ngô Thừa Ân hay không, nhưng tôi cũng viết chút ít về tác phẩm để nói lên sự đồng cảm của mình đối với tác giả. Vì xét nghĩ xem truyện Tây Du Ký như là xem sự diễn biến nội tâm của hành giả trên bước đường giác ngộ giải thoát.

Song, tự xét mình kiến thức hạn hẹp và sự cảm nhận Phật pháp còn nông cạn chưa thấu đáo rốt ráo, vả lại cũng không chuyên viết văn, thành thử quí vị nào đọc để tìm lời văn bóng bẩy chải chuốt chắc sẽ không hài lòng. Vậy mong những ai có duyên được xem hãy đạt ý quên lời mà bỏ qua cho những vụng về trong lời văn và cách diễn đạt.

Trong quyển sách này, chúng tôi chỉ trình bày cho những người mới đang tìm hiểu đạo Phật và để giúp bạn đọc có khái niệm sơ qua duy thức và vài đặc điểm về thiền. Song, khi viết dẫn chắc không sao tránh khỏi những sơ sót lỗi lầm. Vậy kính mong các bậc cao minh lượng thứ và hoan hỷ chỉ giáo những điều sai sót để cho lần tái bản sau được hoàn hảo hơn.

 

Kính ghi.

  • 1. Dẫn nhập

    DẪN NHẬP 

     

    Tây Du Ký là bộ sách thần thoại hóa của Ngô Thừa Ân. Khi đọc ta cảm thấy rất thú vị và hấp dẫn, như việc tả cảnh Long cung, Thiên cung, Địa phủ, Hang quỷ, Động tiên ... Cả việc đánh võ, đấu phép, biến hóa thật tài tình và những nhân vật ma quái diễn tả giống như thật làm cho người đọc cảm thấy ghê rợn, nhưng rất thích thú xem. Vì thế cho đến nay, không chỉ riêng ở Trung Quốc mà các nước Tây Âu và lân cận như nước ta cũng xem Tây Du Ký là một bộ sách có giá trị được nhiều người tìm đọc.

    Cách kết cấu của truyện và tính cách từ những nhân vật đến cảnh trí đều mang tính đặc trưng, cùng với sự mô tả tình tiết thi thố võ nghệ thì Tây Du Ký rất khôi hài lý thú, nên gần đây có nhà đạo diễn ở Trung Quốc dựa vào truyện mà dựng thành phim được chiếu rộng rãi trên màn ảnh nhỏ, thành thử đa số quần chúng từ thành thị đến thôn quê đều biết về truyện này.

     Đọc truyện ta thấy nó vốn đã hư cấu, vậy mà những cảnh trong phim lại thêm một phần hư cấu nữa, do đạo diễn dựng phim và những diễn viên khéo diễn xuất làm cho bộ phim rất sống động, cùng với những kỹ xảo tạo cho hình ảnh thêm phần đặc sắc. Nhưng đối với người xem thì mỗi người cảm nhận mỗi cách và lý giải khác nhau.

    Theo nhận định của các nhà xã hôi học thì Tây Du Ký là một cuộc cách mạng đòi hỏi sự bình quyền ở thời phong kiến, trong đó nhân vật nổi bật nhất là Tôn Ngộ Không.

    Nhưng theo thiển kiến riêng tôi thì Tây Du Ký là một tác phẩm ngụ ý ám chỉ những nghĩa lý sâu xa mầu nhiệm cho hành giả nào đang tiến tu trên bước đường giải thoát. Vì khi đọc tác phẩm nào cũng vậy, tùy theo sự nhận thức của mỗi người mà nhận định ý nghĩa có sai biệt. Thí dụ như truyện “Sự tích quả dưa hấu” (An Tiêm), với người bình dân đọc qua chỉ biết là truyện cổ tích dân gian. Còn người có kiến thức khá hơn thì nhận định truyện nói lên tính cách tự lập cuộc sống từ hai bàn tay và tài trí chính mình, chớ không trông đợi nương nhờ vào sự giúp đỡ của người khác - dù là thân thuộc. Nhưng theo thiển kiến riêng tôi - qua tư tưởng đạo Phật thì truyện nói lên sự giác ngộ giải thoát phải do chính mình tu hành mà được, chớ không nương nhờ vào một thần linh hay đấng tối thượng nào cứu rỗi. Cũng vậy, đối với tinh thần Thiền tông, chúng ta không nên hiểu trên lời nói, văn tự, mà phải nương nơi văn tự lời nói để ngầm hội những ngụ ý thâm thúy trong ấy mới gọi là thể nhận lý thiền. Như trong thiền sử có câu chuyện như sau.

    Một hôm quan Đề Hình đến thăm Tổ Pháp Diễn. Tổ hỏi: Đề Hình lúc còn trẻ có đọc thơ Tiểu Diễm không? Có hai câu thơ ý rất gần:

    “Vừa kêu Tiểu Ngọc nguyên không việc, chỉ cốt anh chàng nhận được thinh”.

    Quan Đề Hình nghe xong liền ứng: Dạ ! Dạ !

    Ngài Pháp Diễn bảo: “Hãy chính chắn”.

    Ngài Khắc Cần đứng hầu nghe đối đáp như thế mà chưa hội, nên hỏi ngài Pháp Diễn: “Quan Đề Hình có hội chăng?”.

    Ngài Pháp Diễn bảo: “Kia nhận được thinh”.

    Sư mới thưa: “Chỉ cốt anh chàng nhận được thinh, quan Đề Hình nhận được thinh, sao chẳng phải?”.

    Ngài Pháp Diễn nhắc lại lời đối đáp của người xưa: “Thế nào là ý Tổ từ Tây sang?. - Cây bá trước sân !”. Khắc Cần nghe chợt có tỉnh. Sư bước ra thấy con gà bay đậu trên lan can vỗ cánh gáy, liền ngộ ý của tổ Pháp Diễn chỉ cho quan Đề Hình. (Hành trạng thiền sư, tập 3).

    Hai câu thơ cô đọng trên xuất xứ từ một câu chuyện tình thế gian: Một thiếu nữ con nhà quyền quí có tình ý với chàng thanh niên gần nhà. Một hôm vào chiều tối chàng lân la đến nhà cô, ý muốn vào mà không biết phòng cô ở đâu. Cô ở trong phòng nhìn thấy chàng đang tới lui ngoài rào thì liền gọi người giúp việc “Tiểu Ngọc ! Đem bình trà lại cho cô”. Tức thì anh chàng ngoài kia nghe tiếng biết chỗ ở của nàng. Như vậy, khi kêu Tiểu Ngọc thực ra không có việc gì quan trọng, nên nói: “Vừa kêu Tiểu Ngọc nguyên không việc”. Tiếng kêu đó chủ yếu cho anh chàng ở ngoài rào nghe, nên nói: “Chỉ cốt anh chàng nhận được thinh”. Tiếng kêu không nhắm vào người giúp việc mà nhằm vào anh chàng ở ngoài rào, tuy kêu đây mà ý ở ngoài kia.

    Vì thế, chúng ta đọc Tây Du Ký cũng với tinh thần đó. Hầu như những tình tiết trong Tây Du là ngụ ý biểu hiện lên nghĩa lý thâm thúy sâu xa trong Phật giáo nhưng ít ai để ý, và những nhân vật chính trong truyện là hình ảnh tượng trưng thể hiện ý nghĩa về tâm linh, do đó khi xem Tây Du Ký hãy phản quan lại cõi lòng mình thì mới thấy cái hay của truyện.

    Nếu cho rằng Tây Du Ký là pháp thế gian thì người học Phật phải biết chuyển hóa từ thế pháp sang Phật pháp, giống như Đức Phật chuyển nghi thức bài  “Lễ bái lục phương” của Bà La Môn thành pháp của Phật (Kinh Thi Ca La Việt) vây. Cũng như người khéo biết sử dụng việc thì biến cái xấu thành tốt, biến dở thành hay, biến cỏ rác, phẩn uế làm thành trái ngọt, hoa thơm để mọi người cùng thưởng thức. Do đó cổ nhân có nói: “Biến nắm đất thành vàng ròng” hay câu “Phật pháp không ngoài thế gian pháp” là ý này vậy. Hơn nữa, người học Phật nếu nhìn tất cả thế pháp bằng cái nhìn Phật pháp thì không có tác ý tạo nhân bất hảo và ác nghiệp.

    Theo lời giới thiệu trong Tây Du Ký thì “Thần, Phật, Sư, Đạo thường là đối tượng châm biếm của Ngô Thừa Ân”, nhưng với cái nhìn riêng tôi Ngô Thừa Ân rất thâm hiểu Phật pháp chớ không như lời nhận xét trên. Những câu trong truyện sau đây sẽ minh chứng cho điều này:

    Khai tâm một chữ theo điều thực

    Chỉ dẫn vô tri rõ lẽ hằng.

          Với bài thơ:

    Mình tròn sắc lại trắng phau,

    Người sau không học phép mầu ấy đi?

    Lửa thiêu cũng chẳng can gì,

    Nước không dìm được, thân kia vẫn còn.

    Ma Ni Ngọc sáng chẳng mòn

    Gươm đao giáo mác không sờn chút da.

    Thiện ác cũng chính tự ta,   

    Nhãn tiền báo ứng thật là hiển nhiên.

    Khi thiện đã thành Phật, Tiên,

    Sừng lông thân ác mọc liền ra ngay……. 

    Bài thơ này giống như bài kệ nói về chữ tâm (心)       như sau:

    Tam điểm như tinh tượng.

    Hoành câu tợ nguyệt tà

    Phi mao tùng thử đắc

    Tố Phật dã do tha.

    Nghĩa là:

    Ba chấm như sao sáng

    Nét cong tợ trăng tà

    Sa đọa từ tâm ra

    Thành Phật cũng do tâm.

    Hoặc đoạn: Ngày đêm không ngủ trông nom ngựa. Ban ngày còn chơi đùa được, ban đêm thì chăm sóc ân cần, ngựa ngủ thì đánh thức dậy cho ăn cỏ, ngựa chạy quanh thì dắt về chuồng (hồi 4).

    Và:

    Phật ở Linh Sơn (chân tâm) lọ phải cầu.

    Linh Sơn trước mắt lại tìm đâu

    Ai ai cũng có Linh Sơn tháp

    Tu ở Linh Sơn đạo rất mầu (h.85)

    Hay ở hồi 93 nói về lý Bát Nhã. Như câu: Văn giải của Ngộ Không là thứ văn không nói ra lời. Đó mới là giải đúng.

    Và:

    Sóng gió mặc dù thường vững chãi

    Trước sau chi kể, cứ thanh bình

    Bụi nhơ, không bợn về riêng lối

    Đời kiếp yên vui mặc thỏa tình

    Không đáy con thuyền qua bể rộng

    Xưa nay tế độ khắp quần sinh.

    Lại có những đoạn ông dựa vào lời các Tổ viết vào truyện để nói lên ý nghĩa Thiền như câu “Linh đài Phương thốn, tà nguyệt tam tinh” (hồi 2), đây ông nói về chữ tâm viết theo chữ Hán (心), giống như chữ Tâm đã nói ở trước.

    - Bật Mã Ôn chăn ngựa (hồi 4). Nhà thiền gọi là chăn trâu. 

    - Vòng kim cương (hồi 6), nuốt hòn sắt nóng uống nước đồng sôi (hồi 7). Nhà thiền có những câu thuật ngữ như: Nhảy qua vòng kim cương, nuốt hạt (trái) có gai.

    Và câu:

    Ai cởi nhạc vàng trên cổ sấu

    Nhạc vàng kẻ cởi hỏi người đeo (hồi 71).

    Ở đây ông dựa vào tích truyện thiền sư Pháp Đăng như sau:

    Một hôm ngài Pháp Nhãn hỏi chúng: “Cổ cọp đeo lục lạc người nào mở được?” Toàn chúng không đáp được. Sư vừa đi đến, ngài Pháp Nhãn hỏi câu ấy. Sư thưa: “Người cột thì mở được”.

    Và hồi 64 có từ Kinh cức lĩnh (núi gai góc). Trong nhà thiền có thuật ngữ Kinh cức  (gai góc), là tượng trưng cho người hành đạo phải vượt qua mọi chướng duyên ngăn ngại mới thể nhận được sự an lạc giải thoát. Tiếp đến hồi 98 nói trao Kinh vô tự, nhà thiền gọi là Kinh tâm v.v...

    Đại lược nêu lên vài mẩu chuyện và những đoạn trong Tây Du Ký đối chiếu như thế, để chúng ta có sự nhận định theo tư tưởng Phật giáo, trước khi xem Tây Du Ký và quyển sách này.

     

  • 2. Huyền sử hay chính sử

    HUYỀN SỬ HAY CHÍNH SỬ

     

    Không biết Tây Du Ký có từ lúc nào, nhưng nghe đâu đã có trước Ngô Thừa Ân lâu lắm do một thiền sư viết (?). Ngô Thừa Ân vì ham đọc truyện (lời đầu của truyện nói) nên có xem qua và lãnh hội thâm ý, mà sau này ông nương vào đó triển khai thêm những nhân vật và dựng nhiều cảnh để cho tình tiết Tây Du Ký được đa dạng phong phú hơn. Hay là ông có đọc hiểu Phật pháp và thực dụng nghiệm biết, rồi dựa vào chuyện ngài Pháp sư Huyền Trang sang Thiên Trúc (Ấn Độ) học đạo mà soạn thành Tây Du Ký để nói lên sự hiểu và hành đạo của mình qua tác phẩm (?).

    Nhưng thiết nghĩ, những nhân vật đi theo Trần Huyền Trang sao ông lại mượn hình ảnh con khỉ làm Tôn Ngộ Không mà không chọn một con vật khác, như con bò, con dê chẳng hạn ! Còn Trư Bát Giới là hình dáng con heo mà không mượn hình dáng con chó, con mèo, sao lạ vậy? Rồi những hình ảnh ma quái ghê sợ, cùng các trận chiến thật rùng rợn như trong truyện diễn tả là ý nói lên điều gì?

    Và nếu chúng ta hiểu theo truyện thì thấy thật là vô lý và mâu thuẫn. Chẳng hạn như Mỹ Hầu vương ở Đông Thắng Thần Châu sang học đạo ở Tây Ngưu Hóa Châu mà lại nói tiếng xứ đó được, hay xuống dưới Long Cung, lên Thiên Đình, rồi gặp Đường Tam Tạng mà nói chuyện y như người trong nước vậy. Giả dụ, chúng ta ở Việt Nam sang bên Anh hay Pháp, nếu không học tiếng nước đó thì làm sao nói chuyện được? Để cho thấy tác giả muốn ngầm nói lên ý nghĩa gì đó qua những hình ảnh biểu trưng như thế.

    Về mặt lịch sử thì Pháp sư Huyền Trang và chuyến Tây du của Ngài là có thật (xem Đường Tam Tạng Thỉnh Kinh tác giả Võ Đình Cường và quyển Huyền Trang Nhà Chiêm Bái Và Học Giả của HT Minh Châu dịch). Còn theo truyện Tây Du Ký thì chuyến đi của Ngài đã được Ngô Thừa Ân thần thoại hóa. Những nhân vật đi theo Ngài chỉ là giả tưởng do tác giả dựng lên, vừa biểu thị những ý nghĩa sâu xa trên tinh thần Duy thức học Phật giáo, vừa làm cho tập truyện sinh động có tính khôi hài để hấp dẫn người xem.

    Là truyện của người xưa để lại, tuy có hư cấu và huyền thoại, nhưng nó là một tác phẩm văn học nói lên một triết lý tâm linh thật sâu sắc, thực tiễn. Thế mà thỉnh thoảng trong xã hội lại có loại ông lên, bà dựa, tự xưng là Tề Thiên Đại Thánh ra vẻ oai phong linh thiêng để dọa dẫm rồi bịp người, thiên hạ thì đâu biết rằng nhân vật đó chỉ là hư cấu. Thật là một trò lừa gạt và mê tín, vậy mà cứ tồn tại mãi trong dân gian!.

     

  • 3. Tất cả là một

    TẤT CẢ LÀ MỘT

     

    Quả thực Ngô Thừa Ân là nhà thâm hiểu Phật pháp. Qua Duy thức học, ông đã dựng những nhân vật trong truyện rất có ý nghĩa nói lên công phu kiên trì của hành giả trên đường hành đạo. Tác giả khéo dựng năm nhân vật chính, mỗi nhân vật biểu hiện ngụ ý sâu xa như:

     

     

    *- Ngài Đường Huyền Trang chỉ cho Tạng thức (thức thứ 8).

    *- Tôn Ngộ Không (Tề Thiên Đại Thánh) chỉ cho Ý thức (thức thứ 6)

    *- Trư Bát Giới chỉ cho năm thức: Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức (Tiền ngũ thức).

    *- Sa Ngộ Tịnh chỉ cho Mạc Na thức (thức thứ 7).

    *- Con ngựa chỉ cho Sắc thân hay Sắc uẩn.

    (Năm nhân vật này sẽ nói sau).

    Tất cả là năm thầy trò tượng trưng cho năm uẩn hay tám thức. Tám thức là nói về phần tinh thần có thể chỉ cho bốn uẩn sau đây: “Thọ, Tưởng, Hành, Thức”. Còn con ngựa là chỉ Sắc uẩn.

    Đây xin đại lược hồi 24, 25, 26 nói về việc này.

    Khi mấy thầy trò đến núi Vạn Thọ, trên núi có quán gọi là Ngũ Trang Quán, chủ là tiên ông tên Trấn Nguyên Tử hổn danh Dữ Thế Đồng Quân. Trong quán có thứ báu lạ là khi hỗn độn vừa phân, hồng mông mới phán, trời đất chưa mở mang đã có cây linh căn ấy tên là Thảo Hoàn Đơn, ăn một quả sống bốn vạn bảy ngàn năm.

    Trước khi tiên ông đi vắng bảo đồ đệ ở nhà “Lát nữa sẽ có bạn cố nhân đến phải tiếp đãi tận tình”. Lúc mấy thầy trò đến, đệ tử tiên ông hái hai quả nhân sâm biếu Đường Tam Tạng làm quà, Tam Tạng sợ quá không nhận vì quả giống đứa trẻ mới sinh... Tôn Hành Giả nghe nói nhân sâm quí hiếm nào giờ chưa biết, mới lén ra sau vườn xem và hái trộm để ăn thử. Vì trái nó xung khắc với Ngũ Hành nên khi rớt xuống đất liền mất, Tôn Hành Giả lấy áo hứng được ba trái đem về chia cho hai sư đệ cùng ăn. Vừa ăn, vừa bàn cãi nên các chú tiểu đồng nghe được liền mắng nhiếc mấy thầy trò thậm tệ, khiến Tôn Hành Giả nổi giận dùng thần thông bay ra sau vườn đánh bật ngã cây nhân sâm, rồi nửa đêm mấy thầy trò lén trốn ra khỏi viện... Tiên ông về hay việc cây nhân sâm bị đồ đệ bạn mình làm hư hại, liền đuổi theo bắt về hạch tội. Sau cùng tiên ông nói nếu cứu được cây nhân sâm sống lại thì cho đi. Tôn Hành Giả liền đồng ý.

    Tôn Hành Giả đến mấy nơi cầu cứu không được nên mới đến Quan Âm Bồ Tát cầu khẩn. Bồ Tát cùng đến Ngũ Trang Quán cứu cây. Bồ Tát dùng nước trong Tịnh bình chế ra chung ngọc và sai Tôn Hành Giả lấy tay thấm nước trong chung áp vào rễ, cây từ từ sống lại. Tiên ông cám ơn Bồ Tát và sai đồ đệ hái nhân sâm đãi Bồ Tát cùng mấy thầy trò Đường Tăng, rồi mới nhận Đường Tăng hai nhà như một.

    Ngô Thừa Ân thật khéo diễn đạt, Ngũ Trang Quán là chỉ cho thân năm uẩn mà chủ là Trấn Nguyên Tử, thế danh Dữ Thế Đồng Quân (uy lực tương đồng tạo hoá, ý ám chỉ tâm chân thật – Bổn tâm). Trong Ngũ trang- quán có báu lạ là cây nhân sâm, trái nó giống hình đứa bé mới sinh, khi ăn vào sống muôn tuổi, lại ở trên núi Vạn Thọ. Đây là hình ảnh tượng trưng cho tâm chân thật phát ra diệu dụng ở sáu căn.

    Cây nhân sâm là của báu ở trên núi vạn thọ tức là ám chỉ cho Bổn tâm thanh tịnh (vô lượng công đức), sáng suốt (vô lượng quang), vĩnh hằng (vô lượng thọ). Đường Tăng không chịu nhận hai củ nhân sâm là nói A lại da (thức thứ tám) cái gốc chính là Như Lai Tạng Tâm (Bổn tâm), mà Bổn tâm thì không có hai có một gì cả, nhưng do vì bất giác nên bảy thức trước đồng thời phát sinh tác động thu thập những chủng tử thiện ác đem vào vồn chứa trong A lại da, thành thử A lại da đầy ấp những chủng tử tạp nhiễm không còn thanh tịnh trong sạch sáng suốt như thuở nguyên sơ (xem mục Đường Tăng).

    Trong nhà thiền có câu “Giống như hạnh anh nhi”. Là nói khi người đã thể nhận Tâm chân thật và hằng sống thì rất hồn nhiên và tự tại, vì vô tư không động niệm trước ngoại duyên chi phối, giống như đứa bé mới sinh ra rất hồn nhiên vô tư, những hiện tượng chung quanh diễn bày nó đều thấy, nghe v.v... mà không phân biệt đẹp xấu, thiện ác, không so sánh được mất, hơn thua... Nó thấy chỉ thấy, nghe chỉ nghe, tay quơ chân chòi v.v... (đây là nói dụ, chứ đứa bé sơ sinh sáu thức vẫn trôi chảy tiềm ẩn bên trong, không phải như các vị thiền sư thấy biết mà không động niệm). Nhưng tâm chân thật không phải là năm uẩn nên nói xung khắc với Ngũ Hành, vì nó quý báu vô lượng nên khi cứu sống cây phải lấy chung bằng ngọc đựng nước trong tịnh bình và phải chính bàn tay của Tôn Hành Giả áp vào rễ thì cây mới sống được.

    Đây nói tâm chân thật ở ngay thân năm uẩn, do vì lãng quên mà không nhận biết được coi như đã mất (cây bị chết). Song muốn nhận lại thì phải ĐỊNH (nước trong tịnh bình), GIỚI (thân tâm trong sạch tượng trưng cho chung bằng ngọc) và TUỆ (Tôn Hành Giả dùng tay thấm nước áp vào rễ cây) thì mới thể nhận tâm chân thật được (cây sống lại).

    Tác giả khéo chỉ bày trong thân năm uẩn có báu lạ đó là tâm chân thật của mỗi người sẵn có, nếu ai nhận và hằng sống thì tuổi thọ đồng với trời đất, nghĩa là tuổi thọ vô lượng, giống như chủ của Ngũ trang quán là Dữ Thế Đồng Quân trên núi Vạn Thọ. Còn mấy thầy trò Đường Tăng ngầm chỉ năm uẩn nên tiên ông nói là bạn cố nhân nay mới gặp. Rồi náo loạn ở Ngũ trang trốn đi mấy lần mà vẫn bị Tiên ông thâu vào tay áo bắt về, rốt cuộc chỉ đòi cứu sống cây nhân sâm. Khi cứu xong thì lại đãi đằng xem như anh em một nhà,  rồi đưa tiễn lên đường.

    Cũng vậy, khi Bổn tâm bị che lấp (cây chết) nên thấy có chủ thể (ngã) và đối tượng (pháp) thì vạn pháp muôn sai ngàn khác (có ông có tôi đánh nhau náo loạn), nhưng lúc chân thể được phục hồi (cây sống lại), thì thấy chủ thể và đối tượng không hai, tâm pháp đồng nguồn vạn pháp nhất như (anh em một nhà).

    Năm thầy trò trên bước đường thỉnh kinh gặp những chướng ngại như: Ma quỷ đón đường bắt ăn thịt, gặp đủ mọi khổ sở gian nan mà vẫn lập chí vững mạnh tiến bước, cuối cùng đến được Tây phương thỉnh kinh.

    Cũng vậy, trên đường hành đạo có những nghịch cảnh cản trở hay gặp thuận cảnh mà dính mắc đó chẳng qua là sự chướng ngại ở nội tâm và ngoại cảnh (sẽ nói ở sau). Nhưng đối với giáo lý Duy thức học, những cái cho là chướng ngăn đó đều từ tâm thức biến hiện. Nếu người thấu đáo được lẽ này và có ý chí nghị lực luôn tiến bước không hề lui sụt thì sẽ đạt đến giác ngộ giải thoát. Bằng ngược lại chưa rõ lý này lại đổ thừa cho ngoại duyên ngăn trở, nghiệp lực lôi kéo thì khó mà tiến được.

    Năm thầy trò đi thỉnh kinh gặp ma quái cản trở, đôi lúc lại có Phật, Bồ Tát ... trợ duyên, tất cả những nhân vật này là hình ảnh biểu trưng cho những trạng thái tâm của con người. Vì sao? Vì trong kinh nói tâm mỗi người có đủ mười cảnh giới: Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn (Tứ thánh), Trời, Người, A Tu La, Súc Sanh, Ngạ Quỷ, Địa Ngục (Lục phàm). Có khi tâm ta thanh tịnh sáng suốt viên mãn, bi trí tròn đầy như Phật. Có lúc tâm tự tại an nhiên trên các pháp, từ bi cứu giúp chúng sinh như Bồ Tát. Khi thấu suốt lẽ thật các pháp do nhân duyên sinh nên không dính mắc, tâm tịch tĩnh như Duyên Giác. Rõ tường tận các pháp vô thường không chủ thể nên tâm an định như Thanh Văn. Lúc thì khiêm cung, hiền thiện như Trời (Ngọc hoàng). Có lúc hiền hậu, thật thà như người hành đạo (Đường Tăng). Khi sáng suốt rõ đâu là thiện ác, tà chánh, hư ngụy không lầm lẫn như người trí (Tôn Hành Giả). Lúc sân hận, ngã mạn tật đố, đấu tranh lăng xăng chính là tác nhân  của  loài A Tu La (thể hiện Tề Thiên lúc còn làm yêu tinh, cùng các yêu tinh khác). Có khi tham đắm, bỏn xẻn, ích kỷ bị ngũ dục lôi kéo đó là nhân sanh cõi Ngạ Quỷ (thể hiện Bát Giới lúc còn làm yêu tinh và yêu quái khác đón bắt Đường Tăng). Có lúc si mê tối tăm không rõ phải trái, chánh tà như Súc-sinh (thể hiện Sa Tăng lúc còn làm yêu tinh). Đôi lúc tâm hồn bị giày vò bức bách, đau khổ cùng cực như ở cõi Địa Ngục. Song xét cho cùng thì những trạng thái đó đều từ Bổn tâm thanh tịnh chính mình mà ra chớ chẳng phải ở đâu khác.

    Thêm một cách hiểu khác nữa là năm nhân vật trong truyện để chỉ cho thân và tâm của con người thường tình. Con ngựa chỉ cho sắc thân mấy chục ký này, còn bốn thầy trò chỉ cho sắc tâm. Bởi vì Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng là sắc, mà sắc ở trong tâm (nội sắc) do chấp ngã và chấp pháp mà có. Vì sao? Vì thọ và tưởng nhận các duyên bên ngoài, do sáu căn tiếp xúc với sáu trần sanh đắm nhiễm dính mắc mà có thọ khổ, thọ vui và thọ không khổ không vui. Lại nhơn lãnh thọ khổ, vui... mà có tưởng, bởi do có cảm thọ mới thu nhận các ấn tượng từ ngoài đem vào rồi sanh ra nghĩ nhớ tưởng tượng, nếu vừa lòng thì vui thích, không vừa lòng sanh buồn ghét ... cho nên thọ và tưởng đi đôi khi tâm hướng ra ngoài duyên theo trần cảnh. Do xúc thọ rồi khởi vọng động, hết niệm này tới niệm nọ nên nói nó là hành (sự vận hành của tâm), giống như cuộn phim khi quay chiếu trở lại, những hình ảnh đó do từng phim từng phim ghép lại thành một chuỗi dài hình ảnh liên tục không gián đoạn. Bởi có dòng tương tục trôi chảy ở tâm, khi gặp duyên đối cảnh thì liền nhớ lại rõ ràng để so sánh phân biệt nên gọi là tâm thức. Hơn nữa cho thấy rằng “Thọ, Tưởng, Hành, Thức” sanh khởi là do có đối tượng làm chỗ duyên (sở duyên). Chẳng hạn như thọ là thọ thức ăn uống nào đó mà thấy có ngon dở... hay tưởng là tưởng tượng về hình ảnh nào đó..., cho đến hành, thức cũng lại như thế. Hễ cái gì nhờ duyên mà có thì không thực vốn hư vọng. Vì vậy, khi xúc mà không ái nhiễm đắm mắc thì thọ, tưởng không khởi, dòng tương tục cũng bị đoạn dứt, tâm sẽ được an định. Đó là cái nhân tiến đến giác ngộ giải thoát.

    Do vì tâm không khởi tưởng duyên theo dính mắc các pháp nói là phá chấp mà nhận được nguồn tâm vốn sẵn an định. Từ đó mới thấy tánh và tướng không ngoài nhau mà đồng một nguồn cội không còn riêng rẽ. Vì sao? Vì các pháp vốn tự như như bất động, mà như như thì bình đẳng không lớn nhỏ, cao thấp. Dù nhỏ cỡ hạt bụi hay lớn như quả núi đều bình đẳng như nhau trên sự rỗng lặng bất động, vì các pháp xưa nay vốn như thế. Nếu thấy có lớn nhỏ, tánh tướng v.v... sai biệt là tại chúng ta khởi vọng động sanh tình thức mà có những cặp đối đãi. Con người sanh tình thức không giống nhau nên mỗi người thấy mỗi cách theo nghiệp cảm, do vậy mà thân tâm mỗi người không ai giống ai, dù là anh em sinh đôi. Bởi do mê lầm nhận tướng của tâm và sắc thân là mình nên bị trôi lăn ba cõi sáu đường. Nay thấu rõ tận gốc rễ của thọ và tưởng đều không thực thể - vì nó lúc có lúc không. Còn cái Rõ Biết được thọ, tưởng khi có khi không thì cái đó (tạm gọi) không hình tướng nên không sanh diệt, không thêm bớt mà luôn hằng còn trùm khắp. Việc này cũng giống như ban đêm ngoài trời không có mây, ta nhìn lên bầu trời đầy sao, nếu không trụ tâm vào một ngôi sao nào thì lúc đó ta thấy mình thênh thang như cả bầu trời. Còn tâm ta trụ vào một ngôi sao nào đó thì sẽ bị hạn cuộc nơi ngôi sao ấy mà không thấy được tất cả ngôi sao trong bầu trời. Cũng vậy, cái chân thật đó không bị hạn cuộc vào nơi nào nên trùm khắp thênh thang, nhưng khi đã có thọ, tưởng thì cái Rõ Biết hiện hữu thênh thang đó bị che khuất không còn sáng suốt như xưa, mà cái biết bị hạn cuộc trong phạm vi tình thức. Do chúng ta lao theo thọ và tưởng mà quên đi chứ nó không thiếu vắng phút giây nào, cũng như ban ngày có mây phũ che án mặt trời, dường như không thấy nó, nhưng thật ra mặt trời vẫn luôn hiện diện tỏa sáng không lúc nào vắng. Nếu không có mặt trời thì không thể nào biết có mây che vậy.

    Khi bám chấp vào sắc uẩn, thọ tưởng tà vạy thúc đẩy, lòng sanh tham sân si nhiều, không sớm thì muộn sẽ bị rơi vào Địa Ngục, giống như Đường Tăng bị các yêu tinh bắt trói bỏ vào động không thể tự thoát ra được, nếu không có Tôn Hành Giả (trí tuệ) tìm cách giải cứu hay đi cầu viện Bồ Tát, Phật (tâm từ bi hỷ xả hay an định sáng suốt) đến giải nạn thì Đường Tăng chẳng thể nào ra khỏi động của yêu tinh được.

    Ở đây nói động yêu tinh là chỉ cho tâm ái nhiễm dính mắc các pháp do tham sân si che lấp bản tánh sáng suốt an định. Vì vậy cổ đức nói: “Ba cõi do tâm tạo”. Nếu không tất cả tâm thì các pháp dù hiện bày trước mắt vẫn thấy là không đối với người có cái nhìn này, họ thấy biết tất cả mà không động niệm.

    Thiết nghĩ, đại lược toàn truyện Tây Du Ký ý nói lên Ý thức từ đâu sanh ra; công năng của nó từ đâu lưu xuất, rồi ứng dụng công phu tu đến giác ngộ (kiến tánh), và khi đã giác ngộ phải công phu thế nào để lúc gặp những chướng duyên ở nội tâm và ngoại cảnh mà vẫn tiến bước không bị ngăn ngại cho đến ngày giải thoát viên mãn (đến Tây phương thỉnh kinh). Và có những hồi tác giả nói về nhân quả nghiệp báo như ở hồi 09, 39, 71, 95, cho thấy một chút nhân nhỏ cũng bị quả báo để chúng ta dè dặt thận trọng trong cuộc sống mà tránh đừng tạo những nhân xấu, ác. Và ông cũng đả phá tà đạo phù phiếm, mê tín như ở hồi 44-46. Từ đây về sau sẽ nói từng nhân vật chính.

     

  • 4. Ý thức từ đâu

    Ý THỨC TỪ ĐÂU?

     

    Mới vào đầu truyện, Ngô Thừa Ân làm một bài thơ thật có ý nghĩa:

    Hỗn độn chưa chia trời đất loạn

    Mờ mờ mịt mịt chẳng ai hay

    Hồng mông từ khi Bàn Cổ mở

    Trong đục phân minh tự thuở này

    Che chở mọi loài nhờ trời đất

    Phát sinh muôn vật tốt lành thay.

    Muốn biết công to của tạo hóa

    Đọc chuyện Tây Du giải ách đây.

    Hình như trong truyện Ngô Thừa Ân mượn những từ bên Lão giáo để nói về tâm linh. Ở đây thiết nghĩ bài thơ trên diễn đạt trạng thái thanh tịnh trong suốt bất động, nhưng do vì sự bất giác ban đầu dẫn đến ý thức phát sinh, rồi từ đấy sanh khởi ra muôn vàn sự vật, sự việc sau đó. Và ông nói rằng đọc Tây Du là để giải ách khổ đau kiếp nhân sinh, chớ không như phần  đông chúng ta xem chỉ chạy theo tình tiết diễn biến ở truyện nên không thấy được cái hay tuyệt vời mà tác giả muốn nói.

    Hai câu đầu nói lúc đất trời hỗn độn mờ mịt ngụ ý nói khi còn phàm phu thì chân giác và bất giác lẫn lộn không phân định được. Bởi chân giác và bất giác giống như sóng với nước vậy, tuy hai mà chẳng phải hai, nhưng không phải một - vì hai trạng thái khác nhau. Bởi chẳng rõ chân giác (Phật) nên gọi là bất giác (chúng sinh). Song, cái tướng của bất giác không thực thể, chỉ nương nơi chân giác mà có nên nó không rời chân giác. Nếu bất giác không còn thì tâm và cảnh cũng theo đó mất, chân giác (Phật tâm) sẽ hiện bày.

    Bất giác do tâm động gọi là vô minh, vì có động mà sanh ra phân biệt (ý thức), do có tâm phân biệt mới vọng hiện ra cảnh giới bị phân biệt, từ đó tâm (năng) và cảnh (sở) không rời nhau. Thể tánh chân thật xưa nay rỗng lặng thanh tịnh bất động (chân giác) không có năng sở, song vì mê lầm nên bất giác vọng động (nghiệp tướng vô minh) sanh ra có cái hay phân biệt (chuyển tướng) và cảnh giới bị phân biệt (hiện tượng). Đây là nói theo tuần tự thứ lớp chớ khi có bất giác vọng động thì tâm và cảnh đồng thời chung khởi. Đã có cảnh giới hiện ra nên sanh tâm phân biệt trời đất, đục trong, nam nữ, thương ghét v.v... từ đó bắt đầu có tham sân; do có tâm phân biệt thương ghét, đục trong mới sanh ra các niệm khổ vui, mừng sợ v.v... không dứt; do có niệm tương tục phân biệt không gián đoạn nên ái nhiễm dính mắc trên các pháp rồi giả đặt ra những danh tự để kêu gọi, từ đó tạo ra các nghiệp lành dữ, bị nghiệp dẫn đi thọ lãnh quả báo tốt xấu ở đời sau. Vì vậy, khi có bất giác vọng động thì phát sinh ra chủ thể và đối tượng mà có những cặp đối đãi, từ đó các pháp sanh (vạn pháp duy thức). Khi tâm vọng động thì sanh ra các pháp tạp nhiễm sai khác, nhưng vọng động bất giác dừng thì có vô lượng diệu dụng công đức thanh tịnh. Cho nên tất cả đều tùy tâm của chúng sinh mà hiện ra các tướng nhiễm tịnh. Thế thì nhiễm, tịnh, giác và bất giác đều như huyễn, như hóa chỉ là danh tự không thật.

    Truyện nói từ khi hỗn độn đã chia, đục trong phân minh có trời đất, ở nước Ngao Lại, trên núi Hoa Quả, có tảng đá tiên nứt ra sinh một trứng đá to bằng quả cầu, gặp gió hóa ra con khỉ đá. (hồi 1)

    Đoạn này cho thấy con khỉ từ trứng đá sinh ra, mà trứng đá từ trời đất có. Vậy trời đất từ đâu sinh? Ở đây phải nói ngược lại là trời đất từ con khỉ sanh. (Trời đất ở đây cũng có thể hiểu là không và sắc). Tại sao? Vì trời không nói đây là trời, đất không nói đây là đất, mà từ khi có con khỉ (ý thức) thì nói cái khoảng trống rỗng không vật đó gọi  là trời; còn chỗ có cây cỏ và muôn vật sinh sống thì gọi là đất. Vậy thì, từ khi có con khỉ sinh ra nên mới gọi đây là trời, kia là đất và có tất cả việc trên đời này.

    Như chúng ta đã biết, Khỉ là một con vật không chịu ở yên, tay chân rất táy máy, hết buông cái này lại nắm bắt cái kia, khi thì cào gãi, lúc thì trèo leo…. Chỗ này Ngô Thừa Ân ẩn dụ rất hay. Như thân thể chúng ta có đầu, mình và tứ chi. Đầu là phần chủ của toàn thân, vì não bộ và hệ thần kinh trung ương ở đó, mà não chỉ bằng quả cầu là tượng trưng cho trứng đá. Nếu trứng đá bằng quả cầu mà không gặp gió thì chắc không sinh ra con khỉ đá, nên trứng đá chỉ là trứng đá.

    Ở đây nói gió là Động, mà Động tâm máy động tức là tâm vọng tưởng (suy tư nghĩ tưởng đâu đâu), là Vọng niệm (nhớ nghĩ hư dối), là Vọng thức (hiểu biết hư vọng, so sánh phân biệt) hay còn gọi là Vọng tâm. Tất cả trạng thái tâm đó đều là động cả. Khi tâm động thì trái với tâm thể thanh tịnh nên gọi là Vọng. Tuy nó có mà không thật nên nói là giả dối. Bởi tâm có khởi động mới nói các sự vật chuyển động, chớ mọi sự vật tự nó không nói là động hay chẳng động. Như câu chuyện trong chùa Pháp Tánh ở Quảng Châu, có hai vị tăng thấy lá phướn treo trước chùa gió thổi phất phơ, một vị nói gió động, vị kia nói phướn động, nên hai người cãi nhau không ra lẽ. Khi ấy có ngài Huệ Năng tiến đến nói: “Không phải gió động, không phải phướn động mà tâm nhơn giả động”. Câu nói này làm hai vị tăng thức tỉnh (kinh Pháp Bảo Đàn).

    Cũng vậy, nếu ta tỉnh táo sáng suốt, não tuy có mà tâm không vọng động thì ý thức không sinh. Tuy không vọng động - suy nghĩ tính toán - nhưng thấy biết rõ ràng mà vẫn sáng suốt an nhiên tự tại, chẳng bị các pháp ràng buộc, giống như có trứng đá mà không gặp gió thì danh từ con khỉ cũng không có. Chính khi ấy nơi sáu căn cái Rõ Biết hằng thấy, hằng nghe ... này, khi có sắc hay không sắc; khi có tiếng hay không tiếng, cái hằng thấy biết đó luôn rỗng lặng sáng suốt. Ở đây nói rỗng lặng sáng suốt có nghĩa là sáu căn đối diện trước muôn pháp hiện bày biết rõ ràng tất cả mà không có ý thức vọng động, chớ chẳng phải sáng suốt là tỏa hào quang cho người ta thấy. Nó rất linh hoạt và an nhiên trước muôn sự muôn vật. Và muôn sự muôn vật cũng bất động như như trước cái linh hoạt rỗng lặng đó. Cả hai đều không dính mắc, không cái nào bám trụ vào cái nào cả. Chính khi ấy mình và muôn sự muôn vật đồng hòa một thể rỗng lặng bất động, không có phân chia đây là mắt thấy (chủ thể), kia là vật bị thấy (đối tượng) gì gì cả. Do vì phàm phu khi đối diện với các pháp bằng cái nhìn vọng kiến, khởi vọng tình, sanh vọng thức, nên mới phân chia chủ thể và đối tượng. Từ đó mới có những cặp đối đãi là buồn thương, giận ghét v.v... nên mới có khổ đau.

    Trong cuộc sống, nếu chúng ta làm tất cả việc mà không đắm nhiễm dính mắc sáu trần, tâm luôn an định thản nhiên (vì vọng động không có) thì đâu cần tu hành làm chi, đâu cần phải giác, phải thành Phật làm gì đúng không? Nhưng chúng ta đâu có chịu vậy, hễ làm tất cả việc là dính mắc, cái gì cũng muốn đem về cho mình, rồi bảo thủ. Ta phải biết, Phật, Tổ dạy không cho khởi nghĩ là chỉ cho chúng ta biết cái nhân để thể nhận ra tâm chân thật không sinh, không diệt hằng hiện diện nơi sáu căn. Và cũng vì người cố chấp dính mắc các pháp, chấp cái hiểu biết Phật pháp cho là mình đã nhận ra Phật pháp, nhưng sự thật đó chỉ là tri giải, nên Phật, Tổ mới lập ra các phương tiện mà dẹp cái tri giải đó của hành giả, rồi dùng phương tiện thiện xảo để chỉ cái linh hoạt an định sáng suốt. Bởi chúng sinh ái chấp thành ra bệnh nên các Ngài vì người mà dẹp phá sự ái chấp đó, nếu người không ái chấp khi nghe những lời này chỉ cười thôi. Thành thử nói đạo là việc sinh hoạt bình thường trong cuộc sống, sinh hoạt giống như mọi người mà không bị phiền não trói buộc. Nên có người hỏi ngài Nam Tuyền:

    - Thế nào là đạo?

    Ngài Nam Tuyền đáp:

    - Tâm bình thường là đạo.

    Bình thường tâm đây là không có tất cả tâm yêu ghét, phải quấy, hơn thua v.v... Trong sinh hoạt hằng ngày đối tất cả cảnh tâm không đắm nhiễm dính mắc, thấy biết rõ ràng mà an định sáng suốt nên gọi là tâm bình thường. Nếu khởi niệm không lợi ích cho người thì đừng khởi, đừng dấy động hãy để nó yên tịnh. Còn những việc thấy có lợi ích cho người thì mình làm, nhưng trong khi làm đừng chấp có ta làm thì mới không bị dính mắc. Trong cuộc sống, tất cả công việc hằng ngày như nấu cơm, giặt giũ, quét nhà v.v... chúng ta làm tất cả việc đó mà đừng lo ra khởi nghĩ gì khác thì công việc rất chu đáo và mau lẹ. Nhưng nếu các công việc ấy lại không khởi nghĩ để làm, thấy sao để vậy thì đúng hay chăng? Hoặc thấy người bị tai nạn, hoặc lối xóm cháy nhà ta không khởi nghĩ đến sự cứu giúp, như vậy có đúng không? Không khéo chúng ta sẽ bị thế nhân chê cười là thụ động, là yếm thế tiêu cực. Nếu người biết ứng dụng tu ngay trong cuộc sống thì hành động nào cũng lợi ích thiết thực, vì làm tất cả việc mà không thấy có ta làm, không thấy đối tượng ta giúp và không thấy công việc giúp ích, nghĩa là trên ba việc đó đều thấy rỗng lặng - “Tam luân không tịch”. Vì mỗi hành động phát xuất từ tâm rỗng lặng sáng suốt nên thấy tất cả pháp đều bình đẳng rỗng lặng. Nếu nghe nói không cho khởi nghĩ, đến khi đói nằm đó chờ chết, gặp người bị nạn trước mắt chẳng giúp đỡ...  không làm việc gì cả, đó là hiểu Phật pháp lệch lạc, là ngộ nhận lời Phật Tổ dạy.

    Còn như nói có suy nghĩ là mình thì khi không khởi động suy nghĩ mình mất rồi sao? Đâu phải vậy ! Khi không khởi động suy nghĩ, mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe v.v... Mắt, tai ... là vật chất sẽ bị hư hoại, tự nó không thể thấy nghe ... được, vậy phải có một cái (tạm gọi) Linh tri thường hằng hiện hữu gá nơi sáu căn, dù không khởi động suy nghĩ, sáu căn vẫn sáng tỏ rõ ràng. Ngay nơi cái hằng tri hằng giác này mà thể nhận thì thảnh thơi an lạc biết bao! Như khi mắt mở thấy cảnh sắc, khi mắt nhắm thấy không cảnh sắc, khi có tiếng nghe có tiếng, khi không tiếng nghe không tiếng, khi vui biết đang vui, khi đau biết đang đau, lạnh biết lạnh, nóng biết nóng; cho đến khi không nghĩ tính mình cũng rõ biết, lúc có nghĩ tính vẫn rõ biết là đang nghĩ tính v.v... Người trí có cái thấy biết này mà người ngu cũng có cái thấy biết này. Cái Thấy Biết này từ xưa đến nay chưa từng bị sanh diệt, luôn hằng hiện diện không lúc nào rời chúng ta, chớ không phải đợi có suy nghĩ, tính toán mới là có thấy biết, mà khi ấy chỉ không có khởi động suy nghĩ tính toán thôi. Nó vốn bình đẳng không phân biệt ngu hay trí gì cả, cho đến các loài động vật khác đều có cái hằng thấy biết trong lặng này. Ngay đó thật là thảnh thơi an lạc lại chẳng chịu, đòi phải có suy tư nghĩ tưởng mới là mình thì thật mê lầm. Cho nên trong kinh Lăng Nghiêm có câu chuyện chàng Diễn Nhã Đạt Đa soi gương, chàng ta thấy bóng đầu mình trong gương, lát sau anh úp gương lại không thấy bóng đầu mình đâu nữa vội la hoảng lên “Tôi mất đầu rồi ! !” Mà đầu thật của anh hiện hữu đâu có mất, vì anh nhận lầm cái bóng đầu ở trong gương cho là mình nên mới la hoảng. Nếu cho có khởi động suy nghĩ là mình thì cũng giống như chàng Diễn Nhã Đạt Đa vậy.

    Đôi khi chúng ta cũng có vài ba giây phút tâm không khởi động mà ít ai chịu vậy, lại cảm thấy như mất mình hay sợ cô đơn lẻ loi, nên tìm việc này chuyện kia khởi nghĩ để khỏa lấp chỗ trống vắng ấy, thật là đáng tiếc! Nếu người biết sống với tâm chân thật thì dù thân có làm việc gì nặng nhọc đi nữa, nhưng tâm không máy động, chỉ biết công việc đang làm thì việc làm mau đạt kết quả và cảm thấy thản nhiên an ổn không uể oải, mệt nhọc, dù người bên ngoài thấy mình cực nhọc, vất vả. Do đó người biết sống đúng là khi cần khởi thì khởi, không cần khởi tâm vẫn an định, người như thế ở đâu cũng cảm thấy thoải mái nhẹ nhàng. Còn không biết thì dù có nằm giường êm nệm ấm mà suy nghĩ lăng xăng mãi vẫn là khổ, càng suy nghĩ thần kinh càng căng thẳng muốn phát điên, mà thời đại bây giờ người ta gọi là bệnh stress.

    Từ chỗ thanh tịnh sáng suốt do bất giác một niệm vọng động mà phát sinh sơn hà đại địa cùng tất cả loài hữu tình, từ đó có nam nữ, được mất, thương ghét, phải quấy v.v... Bởi có ý thức rồi có đủ thứ chuyện. Khi tâm bị vọng động thì hết ý niệm này đến ý nghĩ nọ nối tiếp không mạch lạc, ráp nối việc này qua việc kia không đầu đuôi gì cả. Cho nên một tư tưởng khởi lên là một con khỉ đã sanh. Nhưng nếu chúng ta có nhìn lại từng tâm niệm thì sẽ thấy một việc phải quan tâm. Những ý niệm ta thấy nó cứ tiếp nối nhau, mà trong cái khoảng giữa của ý niệm này và ý niệm kế có một khoảng cách rỗng lặng, chớ không phải liền mạch nhau. Thí dụ như ta đang nói một câu thì từng chữ từng lời nối tiếp liên tục mới thành câu văn, nhưng từ chữ đầu câu đến chữ kế nó có một khoảng trống, chớ những chữ trong câu văn không có dính chùm nhau. Cũng vậy, nếu chúng ta thấy được chỗ rỗng lặng giữa khoảng cách của hai ý niệm thì chúng ta không quan tâm với những vọng niệm nữa, thấy nó giống như cái bóng ẩn ẩn hiện hiện trong cái rỗng lặng sáng suốt vậy. Ở đây nói rỗng lặng mà rõ biết tất cả chớ không phải rỗng trơn không ngơ; khi có niệm rõ biết có niệm, khi niệm lặng mất thì vẫn rõ biết rỗng lặng. Nếu sáng suốt rõ trạng thái đó mọi thời mọi lúc trong cuộc sống thì dù có những cảnh nghịch hay thuận đến, ta vẫn an nhiên không bị chộn rộn, khổ đau. Thế nên Cổ Đức nói: “Tiền niệm bất sanh tức tâm, hậu niệm bất diệt tức Phật” (Trước niệm không sanh tức tâm, sau niệm không diệt tức Phật). Nghĩa là trước khi niệm chưa khởi đó là Tâm chân thật, và khi niệm lỡ đã sanh rồi một lát sau nó lại lặng mất (chưa có niệm kế tiếp), thì chính cái rỗng lặng mà hằng rõ biết sau khi niệm lặng đó là Chân tâm hiện diện, nên nói là “Sau niệm không diệt tức Phật”. Chính cái chỗ rõ biết rỗng lặng khi chưa có niệm và sau khi niệm lặng đó nó luôn an định sáng suốt không sinh diệt, là tâm Phật của mỗi người sẵn có vậy. Song phàm phu mê muội lại cho những ý niệm là mình nên quên đi cái rỗng lặng sáng suốt ấy mà có đủ chuyện khổ đau. Vì thế, trong kinh nói là trùng trùng duyên khởi. Việc này giống như chúng ta đi ra biển thấy những lượn sóng nối tiếp đuổi theo nhau không dừng, hết lượn này đến lượn khác, nhưng những lượn sóng đó từ nơi mặt biển mà có, bởi duyên có gió làm dậy sóng nên mặt biển yên tịnh bị khuất lấp. Muốn thể nhận mặt biển hãy ngay nơi sóng mà nhận, rời sóng không thể có mặt biển.

    Cũng vậy, niệm này tới niệm kia là từ nơi tâm thể thanh tịnh lưu xuất, do khi đối duyên chợt bất giác nên vọng động phát khởi. Đã vọng động thì tâm thể thanh tịnh bị phũ che. Nếu muốn trở lại phải ngay nơi chỗ vọng động đó mà thể nhận, rời chỗ vọng động không thể có tâm thanh tịnh được. Chỉ dừng duyên ngoài không hòa hợp tiếp tục và bất giác lắng lại thì ý niệm tự hóa tán, tâm thể hiện bày. Nên Cổ Đức nói: “Chẳng sợ niệm khởi chỉ sợ giác chậm” hay “Niệm khởi liền giác, giác niệm liền không” là vậy. Nhưng khởi động trong việc chánh đáng, việc lành giúp người là phải làm vì đó là thể hiện lòng từ đối với nhân sinh.

    Có anh bạn kể rằng, anh cùng một đoàn người ra Vũng Tàu tham quan và tắm biển. Hôm đó biển êm nên ai cũng muốn bơi lội thỏa thích, bỗng nhiên có một cô gái đang bơi bị vọp bẻ tay chân không lội được nữa, đành la cầu cứu rồi từ từ chìm. Lúc đó anh lội cách cô khoảng hai mươi mét, nếu anh không bơi lại thì cô sẽ chết chìm, cho nên anh cố lội nhanh lại nắm tóc cô đưa lên khỏi nước và kéo vào bờ làm hô hấp, một lát sau cô mới tỉnh lại. Nếu lúc cứu cô mà anh nghĩ bậy bạ là sai, chỉ nghĩ cứu khỏi chết là đúng.

    Đây giống như ở hồi 17. Tôn Hành Giả đánh yêu gấu không thắng nên đi cầu viện Bồ Tát Quan Âm... Giữa đường Tôn Hành Giả gặp một yêu tinh bạn của yêu gấu đang trên đường đến chúc mừng khánh tuế nó, Tôn Hành Giả liền đánh chết. Lúc gặp Bồ Tát, mới lập kế nói: “Bồ Tát nên biến ra yêu tinh bị đánh chết để đến lừa yêu gấu ...”. Khi Bồ Tát biến giống yêu tinh, Tôn Hành Giả liền nói: “Bồ Tát là yêu tinh hay yêu tinh là Bồ Tát?”. Bồ Tát nói: “Ngộ Không, Bồ Tát, yêu tinh đều là nhất niệm, nếu bàn đến gốc đều là không có”.

    Cũng vậy, như mẩu chuyện cứu người ở trên, khi cứu người chỉ biết cứu người không nghĩ gì khác là Bồ Tát. Còn cứu người mà có niệm vì tự ngã cảm thọ là yêu tinh. Cho nên cũng một việc làm mà Bồ Tát hay yêu tinh cũng chính ta, chỉ khác trên ý niệm, còn bàn đến gốc ý niệm thì không có nơi chốn, vì tất cả đều từ tâm lưu xuất. Như ta đang chạy xe cùng chiều với người, bỗng người chạy trước vấp ổ gà té, ta có lòng từ là phải giúp ngay vì việc đó ở trước mắt, nếu người bị thương nặng phải khởi nghĩ đưa đi bệnh viện và hỏi thăm để báo cho thân nhân họ biết. Cho nên việc trước mắt làm lợi ích người thì phải làm, xong rồi buông xả đừng ái chấp dính mắc.

    Khi có việc cần nhớ mà ta không chịu nhớ, còn có việc không đáng nhớ lại khởi động nhớ, nghĩ thì thật là điên đảo. Nếu khởi động làm với tâm từ bi là vì vị tha chớ không phải vị kỷ. Cổ Đức có nói: “Thật tế lý địa bất thọ nhất trần. Vạn hạnh môn trung bất xả nhất pháp”. Nghĩa là tâm chân thật trong đó không có một mảy bụi (vọng động). Nhưng trong cửa vạn hạnh (đối với tất cả việc lành) thì không bỏ một việc nhỏ. Có số người hành đạo không hiểu cho nên chẳng dám khởi động, thấy mọi việc đều để vậy, nhà dơ không quét, củi hết không lo, gạo hết không dám khởi động v.v... thật là vô trách nhiệm. Như nghe nói tâm mình thanh tịnh không động, rồi cứ kiềm đè cho niệm lắng xuống để được thanh tịnh không dám thấy biết, nhớ nghĩ điều gì cả, trở thành vô tri như gỗ đá thì thật là tai họa cho đạo Phật ngày nay. Nên ngài Lục tổ có nói: “Nếu trăm vật chẳng nghĩ, chính khi đó khiến cho niệm bặt đi ấy là pháp phược, ấy là biên kiến”. Trong đời thường nếu sống đúng với đạo thì không phải như thế. Sáu căn tiếp xúc với sáu trần, chỉ không dính mắc trói buộc, như khi mắt thấy tất cả cảnh vật cái nào ra cái nấy, không xen tạp lẫn lộn, tuy ý thức không máy động nhưng vẫn rõ biết rỗng lặng an nhiên, nên trong kinh nói: “Phân biệt tất cả pháp mà đối với đệ nhất nghĩa chưa hề lay động”. Nghĩa là thấy nghe biết tất cả pháp, không mống niệm khen chê, phải quấy, tốt xấu..

    Nếu người biết tu không phải đợi ngồi một chỗ mới gọi là tu, ở ngay đời sống hằng ngày tuy hoạt động nhưng vẫn tu được, miễn sao sáu căn tiếp xúc sáu trần, cái Biết vẫn hằng hữu nơi sáu căn mà đừng ái chấp dính mắc các pháp thì ngay đó là Phật pháp, là cảnh giới Phật ở trước mắt chớ không đâu xa. Vì làm tất cả việc mà không đắm nhiễm nên tâm không chao động, lại sáng suốt làm lợi ích cho nhân loại vì vậy định và huệ đều đầy đủ. Đó là địa vị Phật. Mà Phật là giác. Giác tức là Biết. Giác ngộ là Nhận Ra hay Rõ Ra cái Biết hiện hữu này để hằng sống. Chính cái Biết hiện hữu này khi có vọng hay không vọng nó luôn trong lặng sáng suốt nơi sáu căn của chúng ta. Dù các căn có đóng đi nữa (câm hoặc điếc) thì vẫn rõ biết hằng hữu biểu hiện qua các căn khác nhạy bén hơn. Ví dụ cái rõ biết linh hoạt trong lặng đó giống như là dòng điện, còn sáu căn thì giống như là bóng đèn, quạt máy, tủ lạnh, bếp điện, truyền hình v.v., khi ta bật công tắc thì các vật dụng trên hoạt động theo công dụng của mỗi thứ, nhưng dòng điện thì chỉ một. Nó có khả năng làm chuyển động các vật dụng trên, chớ các vật dụng không tự chuyển động được. Các vật dụng có hình tướng cho nên bị định luật của vô thường làm hư hoại, còn dòng điện không hình tướng luôn hiện diện không lúc nào thiếu vắng. Cũng thế, trong mỗi chúng ta đều có cái rõ biết trong lặng luôn linh hoạt, do vì chúng ta khi tiếp xúc với sáu trần bất giác vọng động, sinh ra vọng thức rồi lao theo các vọng tình dính mắc các pháp, thâu thập các hiểu biết suy lường, tạo thành kiến chấp đem vào ký ức làm chủng tử cho vị lai, cho đó là mình khôn ngoan, hiểu biết lanh lợi mà quên đi cái rõ biết trong lặng hiện diện. Trong khi ấy, không biết rằng nhờ có cái rõ biết trong lặng này chúng ta mới hoạt động nói năng, tới lui làm mọi việc. Vì vậy, tất cả mọi động dụng đều phát xuất từ tâm rỗng lặng rõ biết. Nếu người sống được với tâm đó thì tất cả chỗ đều là cảnh giới Phật. Người xưa nói: “Căn trần không đến nhau là giải thoát”. Điều này chúng ta nên chiêm nghiệm kỹ sẽ thấy rõ, căn là căn, trần cảnh là trần cảnh không có cái nào đến với cái nào cả. Nếu thấy căn cảnh có đến nhau là tại chúng ta bất giác vọng động, khởi tình thức trên trần cảnh. Khi nhìn sự vật ta liền moi lục trong ký ức những danh tự, khuôn sáo do người xưa đặt ra, rồi gán ép cho sự vật một cái tên để gọi, mà không chịu nhìn nó một cách bình lặng thản nhiên. Thật ra trần cảnh vốn trụ nơi bản vị của nó. Còn sáu căn khi mở là thấy, nghe.... rõ biết tất cả trần cảnh đang hiện diện. Ví như mắt mở là thấy tất cả cảnh sắc ở trước, nếu thấy chỉ là thấy, không một máy động nào thì ngay đó liền giải thoát. Cho nên trong kinh nói: “Tâm sinh thì các pháp sinh, tâm diệt thì các pháp diệt”. Tâm diệt ở đây không phải đợi diệt hết tâm lăng xăng sinh diệt mà chúng ta phải có cái nhìn sâu sắc hơn về chữ “Diệt” này, có nghĩa là “Tịch diệt” (vắng lặng). Thế thì khi tâm vắng lặng nhìn các pháp đều vắng lặng. Thông thường giáo lý căn bản cho rằng muôn pháp có sanh có diệt là vô thường, đó là do nhìn trên mặt sự tướng mà nói; trái lại các kinh Đại thừa cho ta biết các pháp xưa nay vốn tịch diệt và thường hằng bất biến, đó là nhìn trên mặt tự tánh mà nói, nên thấy các pháp chỉ giả dối sinh ra, giả dối diệt đi chớ chẳng phải thật có sinh diệt. Nếu quả có thật sinh thì chẳng bao giờ mất, làm sao mà có diệt được; trái lại nếu có thật diệt thì mất hẳn, làm sao lại có sanh? Sở dĩ các pháp có sanh là vì có tâm, bởi có tâm nên có pháp. Tâm pháp đồng thời tương sanh tương diệt không trước không sau, vì lẽ đó kinh nói: “Nhất tâm sanh vạn pháp, vạn pháp đều do tâm; tâm tức là pháp, pháp tức là tâm; ngoài tâm không có pháp, ngoài pháp không có tâm”. Tỏ ngộ được cái lý đó thì rõ tâm bất nhiễm trước khi niệm khởi, bởi vì tâm bất nhiễm đó xưa vốn chẳng sanh, nay vốn chẳng diệt; chẳng sanh chẳng diệt mới là chân tịch diệt. Vậy thì khi vọng niệm không sanh thì tất cả muôn pháp đều vắng lặng. Thế nên tất cả pháp đều do tâm tạo ra, ba cõi sáu đường từ đây có, cho đến Phật, Thánh cũng từ đây lập. Nên có bài:

    Thật tướng các pháp vốn rỗng lặng.

    Chỉ vì tâm động các pháp sinh

    Tâm Như các pháp đều lặng lẽ.

    Một niệm vừa sanh bị che lòa.

          Rồi một hôm con khỉ đá cùng tất cả loài khỉ lần đến dòng suối đùa giỡn, lũ khỉ nói: “Nếu ai chui vào tìm được đến nguồn mà không bị xây xát mình thì chúng ta sẽ tôn làm vua”. Con khỉ đá vội lên tiếng xin đi. Khỉ đá liền nhắm mắt nhảy vào giữa suối, mở mắt nhìn thì ra suối không có nước mà đó chỉ là một vệt trắng của hơi nước. Định thần lại thấy một cây cầu, trong là hang động, nhìn ngắm chung quanh thấy có đầy đủ tất cả giống như một cơ nghiệp của thế giới riêng biệt và thấy bia đá đề: “Hoa Quả Sơn, Thủy Liêm Động”. Quan sát xong khỉ đá lại nhảy ra, lũ khỉ xúm lại hỏi đủ thứ. Khỉ đá nói: “Trong đó không có nước chỉ là một tòa cầu; bên cầu có hoa cỏ, tòa nhà, bếp, bát, chậu, giường, ghế đầy đủ tất cả như một cơ nghiệp, nơi đó rất rộng rãi. Chúng ta hãy cùng nhau vào ẩn náu ở đấy khỏi chịu trời nóng lạnh ... Rồi tất cả lũ khỉ đều nhảy theo con khỉ đá vào động ... Sau đó lũ khỉ tôn khỉ đá làm vua. Khỉ đá xưng là Mỹ Hầu vương ...”

          Đoạn này cho thấy con khỉ là chỉ cho ý thức, còn một vệt cầu vồng trắng trước hang động chỉ cho dòng tâm thức đang niệm niệm tương tục không gián đoạn. Mà cái hang động là ám chỉ cho cái kho tạng thức. Thế nên trong Duy thức học nói: “Tạng thức hằng chuyển biến luôn, mỗi niệm, mỗi niệm sanh diệt tương tục không gián đoạn. Cũng như dòng thác nước từ trên cao đổ xuống, vì chảy nhanh quá, bởi do liên kết tiếp tục nhiều giọt nên ở xa trông thấy như là một vệt trắng, nó biến chuyển sanh diệt luôn, nên không phải thường nhất mà hằng luôn trôi chảy không ngừng”. Còn lúc khỉ đá nhảy qua khỏi vệt trắng đến một cây cầu thấy có hang động là nói ý thức làm nhân cùng với tạng thức. Khi vào trong động thấy có nào là tòa nhà, hoa cỏ, cây cảnh, hang đá, chén dĩa, giường, ghế v.v... là ý nói khi còn mê lầm thì trong kho tạng thức có đủ tất cả những chủng tử thiện ác để làm nhân tiếp nối sanh tử. Kinh Lăng Già nói: “Tạng thức làm nhân hiện ra sáu trần cảnh giới của tự tâm”. Thành thử tất cả những đồ vật trong động Thủy Liêm là tượng trưng cho những hình ảnh sáu trần ở tự tâm hiện ra, rồi thức thứ sáu nương ý căn duyên theo những hình ảnh hiện ra đó mà khởi niệm phân biệt tương tục, nên có hiện hành sinh diệt, vì vậy trong Duy thức nói: “Chủng tử khởi hiện hành”. Lại ý thức đối với ngoại trần sanh đắm nhiễm, dính mắc vọng khởi phân biệt, từ đó ý căn đưa những bóng dáng ấy vào tạng thức nên nói là “Hiện hành huân vào chủng tử”. Bởi khi ý thức đã có thì các pháp cũng từ đó mà dựng lập vậy.

     

  • 5. Công năng ý thức

    CÔNG NĂNG Ý THỨC

     

    Đọc truyện ta thấy Ngô Thừa Ân khéo vẽ vời mượn chuyện của Tổ sư để nói đến ý thức phát xuất từ đâu và công năng của nó ra sao.

    Truyện nói, khi con khỉ sinh ra biết chạy nhảy sinh sống rồi làm vua các loài khỉ, không chịu sự cai quản của Kỳ lân, Phượng hoàng, Ma chúa nhân gian, nhưng vẫn than van có ngày bị Diêm Vương cai trị nên mới tìm thầy học đạo thoát sự cai quản đó. Một hôm có người chỉ đến núi Linh Đài Phương Thốn, động Tà Nguyệt Tam Tinh học đạo. Khi đến nơi được Tổ sư Bồ Đề nhận chỉ dạy và đặt cho tên là Tôn Ngộ Không. Khi học đạo xong, được tất cả thần thông, rồi đem những gì mình đã học được làm náo động trong chúng, nên bị Tổ đuổi ra khỏi tông môn và nói: “Nếu có ở đâu thì không được nói là đồ đệ của ta….”. (hồi 1 - 2).

    Lược dẫn một đoạn trên ta thấy Ngô Thừa Ân nói công năng của ý thức phát xuất từ tâm.

    Linh Đài (Phật tính thanh tịnh) Phương Thốn (Tâm tính), Tà Nguyệt Tam Tinh là chỉ cho Tâm thanh tịnh sáng suốt. Tôn Ngộ Không được đạo thuật linh thông phát xuất từ núi Linh Đài Phương Thốn, động Tà  Nguyệt Tam Tinh mà ra. Còn Tổ sư Bồ Đề là Ngô Thừa Ân mượn danh hiệu của một vị đệ tử lớn của Đức Phật tên Tu Bồ Đề. Ngài là vị thông suốt về lý Không hơn hết trong chúng. Hay Bồ đề có nghĩa là giác. Giác tức Biết, mà Biết là Tâm. Ngộ Không do làm náo động (vọng động) nên bị đuổi ra khỏi tông môn, là nói ý thức phát xuất từ tâm thanh tịnh sáng suốt. Do không giữ được tự tính nên bất giác vọng động phải lìa nơi thanh tịnh sáng suốt, rồi mang theo một phần công năng của tâm để hoạt động. Bởi ý thức là cái vọng động chợt có chợt không, nếu cho nó là mình thì quên tâm chân thật, trong khi đó tâm chân thật luôn hằng hữu chẳng vắng bao giờ. Cho nên Tổ sư Bồ Đề bảo Ngộ Không ra khỏi tông môn không được nói là đồ đệ của Tổ là vậy. Từ đó về sau Tôn Ngộ Không tung hoành ngang dọc chẳng biết sợ ai.

    Công năng của ý thức rất nhạy bén lanh lợi và biến hóa khôn lường, chúng ta vừa nghĩ về người thì có hình ảnh người, vừa nghĩ về cảnh thì có cảnh hiện, nghĩ về con này con kia thì có hình ảnh con này con kia v.v... hiện ở tâm trí. Như nói một Cân Đẩu Vân đi được mười muôn tám ngàn dặm thì cũng giống như hai mươi năm trước ta đi du lịch một nơi nào đó, bỗng nay nghe ai nhắc kể lại thì liền nhớ tức khắc - những cảnh ấy hiện ra ở tâm. Hay là ngồi nơi này mà nghĩ tưởng ra những cảnh người, vật ở đâu đâu và chưa thấy biết bao giờ nữa. Đó không phải là Cân Đẩu Vân hay sự biến hóa của Tôn Ngộ Không sao? Nhưng nếu chúng ta đã biến ra con này vật nọ (khởi nghĩ) mà không biết gốc để trở về như cũ thì sẽ bị lang thang khắp chốn vậy.

    Trong Duy thức nói rằng: Ý thức gồm có Thể, Tướng, Dụng. Mà Thể của ý thức có đủ ba loại phân biệt.

    1- Tự tánh phân biệt: Nghĩa là ý thức chung khởi cùng năm thức trước với cảm giác thuần túy về thấy, nghe, hiểu biết, chớ không có tính chất hư vọng phân biệt, so đo suy luận, ước đoán của ý thức (phân biệt sự thức). Nếu như năm thức trước có tánh gì thì ý thức có tánh đó.

    Tự tánh năm thức trước là:

    - Tự tánh nhãn thức phân biệt sắc trần.

    - Tự tánh nhĩ thức phân biệt thinh trần.

    - Tự tánh tỹ thức phân biệt hương trần.

    - Tự tánh thiệt thức phân biệt vị trần.

    - Tự tánh thân thức phân biệt xúc trần.

    Lẽ ra chỉ năm thức trước mới có tánh này, nhưng vì ý thức ngũ câu (ý thức đi cặp kè với năm thức) đồng chung khởi với năm thức trước nên ý thức cũng có tự tánh phân biệt. Phân biệt về thấy, nghe, ngửi, nếm và cảm xúc là tánh tự nhiên sẵn có, hễ làm người thì có nó. Nghĩa là phân biệt một cách tự nhiên chẳng phải do vọng niệm mới có sự phân biệt, ví như mắt mở là thấy tất cả mọi cảnh vật, cái nào ra cái nấy không xen tạp lẫn lộn nhau.

    2- Tùy niệm phân biệt: Nghĩa là theo vọng niệm mà phân biệt, có vọng niệm là có phân biệt, có phân biệt tức là vọng niệm. Nên kinh nói: “Phân biệt là vọng, không phân biệt là chân”.

    Năm thức đầu không có tùy niệm phân biệt này, nghĩa là sự phân biệt của năm thức không do vọng tưởng, vọng niệm sanh ra. Chúng chỉ là sự cảm giác thuần túy, chúng không biết vọng tưởng so sánh, không biết suy luận ước đoán, tính toán điều chi như ý thức. Chỗ này Ngô Thừa Ân ẩn dụ cho Bát Giới nuốt nhân sâm mà không biết mùi vị, đó là ngụ ý năm thức chỉ là cảm giác thuần túy ban đầu khi chưa có phân biệt sự thức xen vào. Nhưng trong sự cộng đồng duyên khởi của ý thức ngũ câu nên năm thức trước cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều về tùy niệm phân biệt khi ý thức xé rào cảm giác thuần túy, dẫn dắt năm thức trước chạy theo hư vọng phân biệt của nó. Ví như, khi ta ăn bánh là thiệt thức duyên với vị trần, nó chỉ biết mặn, lạt, hay ngọt, đắng gì đó mà thôi. Trong khi ăn ý thức mới theo đó mà khởi vọng niệm phân biệt chất ngọt miếng bánh này cái hậu của nó hơi đắng, có lẽ là đường hóa học chớ không phải đường làm bằng mía. Nếu đúng là đường hóa học thì ta chớ nên dùng, vì ăn đường hóa học sẽ có hại cho sức khỏe v.v...

    Để thấy nếu không phải là ý thức thì làm gì mà biết suy luận như  vậy? Sự phân biệt của năm thức chỉ thuần túy cảm nhận trên năm giác quan thì làm sao phân tích so sánh nổi đường mía hay đường hóa học? Chỉ có ý thức mới làm được việc đó, nên nó có biệt danh là “phân biệt thù thắng”. Đó là nói một việc nhỏ của căn lưỡi tiếp duyên với vị trần, còn các căn kia cũng thế.

    3- Kế đạt phân biệt: Là sự hiểu biết qua hình thức tính toán đo lường đây là sự phân biệt hư vọng của ý thức, năm thức trước không có cái hư vọng này. Đối với trần cảnh ngoại duyên nếu quá tầm mắt, tầm tai, mũi, lưỡi, thân, thì năm thức trước không duyên tới được. Nhưng khi ý thức đóng vai tuồng ngũ câu, cái gì vừa tầm mắt, tai ... thì ý thức nhường cho năm thức. Song trái lại, khi sự hiểu biết vượt khỏi tầm mắt, tầm tai ... thì có ý thức tác động hướng dẫn năm thức trước chạy theo tùy niệm phân biệt và kế đạt phân biệt. Thế thì kế đạt phân biệt vượt quá tầm hiểu biết của năm thức trước. Cho nên từ cảm giác thuần túy bước sang lãnh vực tri giác phân biệt so sánh, tính toán đo lường, cho đến khái niệm và quan niệm, nói chung tất cả sinh hoạt tâm sinh lý của năm thức trước không bao giờ vắng mặt ý thức. Vì thế trên phương diện năng biến thức, trong tám thức thì sáu thức trước chỉ là một khối được mệnh danh là “Liễu biệt cảnh thức”. Nhưng đứng về phương diện hành tướng năng duyên của các thức, thì năm thức trước chẳng đồng với thức thứ sáu.

    Một khi ý thức vượt khỏi cảm giác thuần túy trong sự hòa đồng tâm sinh lý với năm thức trước trong tư thế ngũ câu thì toàn thể cảnh giới đang duyên đều là một chuỗi hư vọng không thực thể.

    Khi còn phàm phu năm thức trước tuy thuộc thành phần cảm giác, nhưng luôn luôn có tri giác phân biệt, suy luận của ý thức chủ động khi các căn tiếp duyên với trần cảnh. Song có lúc thức thứ sáu tách rời năm thức mà tự độc lập hiện hành khi ta rảnh rỗi hay tọa thiền, hoặc là tưởng tượng, suy tính nghĩ đến việc chi đó, nên nó được gọi là “Độc hành ý thức”. Không những ý thức hoạt động ban ngày mà ban đêm trong giấc ngủ nó cũng có tác động khi chiêm bao mộng mị. Nhưng khi ý thức đã chuyển hoá biết tu đạo thì năm thức trước cũng theo đó chuyển.

    Ý thức có tới năm mươi mốt tâm sở tác động, chúng có nhiều niệm bất thiện nhiễm nhơ hơn là niệm thiện tốt đẹp. Chúng là những món tùy thuộc do ý thức chủ động. Cũng như vua là người lãnh đạo của quan quân văn võ triều thần. Trong hàng triều thần thì có người hiền kẻ ác, người ngay kẻ gian, người trung kẻ nịnh, nhưng đều là bầy tôi của vua. Nếu vua minh chánh và gặp bậc trung thần kề cận thì nước mạnh dân an, vua cũng nhàn. Cũng vậy, khi ý thức gặp tâm sở thiện thúc đẩy sẽ khiến cho ta làm việc lành lánh dữ, có lòng từ với người, vật nên dẫn ta vào con đường chân thiện mỹ hướng đến nơi an lạc. Còn như đương sự được gặp chủng duyên siêu xuất hơn thì tập trung tâm ý vào câu niệm Phật hay tham công án, thiền quán... Nếu thực hành một trong những phương pháp đó được miên mật rốt ráo thì trong tương lai sẽ đạt đến giác ngộ giải thoát.

    Trái lại vua không minh chánh gặp phải bầy tôi nịnh bợ, gian xấu thì vua điêu đứng khốn khổ, có ngày sẽ mất mạng. Cũng vậy, nếu ý thức do các tâm sở bất thiện tác động thì chúng ta dễ gây tạo những điều tội lỗi. Ví như tâm nghĩ và làm toàn những việc làm bất chính - trộm cướp, sát hại, làm khổ người vật v.v… mà không biết cải hoán sửa đổi thì hậu quả không thể nào tránh khỏi khốn khổ đọa lạc. Ở thế gian, ta thấy người đời phần nhiều lòng dạ thường đi vào con đường nhơ nhớp xấu xa nhiều hơn là tốt đẹp cao thượng. Thậm chí cũng đồng là người tu hành, nhưng có mấy ai trừ dẹp được thói hư tật xấu? Có mấy ai từ bi, bác ái? Có mấy ai thanh tịnh giải thoát?

    Cho nên ý thức rất nhạy bén lanh lợi và khi muốn làm việc gì thì cố ý tìm đủ trăm phương ngàn kế để làm cho bằng được, có khi bất kể cả dư luận trong cuộc sống, miễn sao hoàn thành được công việc của mình mà thôi, giống như Mỹ Hầu Vương xuống Long cung hành hung bốn Long vương đòi lấy vũ khí và quần áo, hay kết bè bạn với Ma vương vui chơi hỷ hả, khi lên trời lúc xuống u minh quậy lung tung. 

    Ý thức có tới 51 tâm sở thì có hết 35 tâm sở bất thiện là nói lên những yêu tinh quỷ quái ngăn đường cản lối hãm hại mấy thầy trò Đường Tăng; chỉ có 11 tâm sở thiện (tín, tinh tấn, tàm, quí, vô tham, vô sân, vô si, khinh an, bất phóng dật, hành xả, bất hại) và 5 biệt cảnh (dục – là dục như ý túc trong 37 phẩm trợ đạo, thắng giải, niệm, định, huệ) là lành tốt; những tâm sở này là tượng trưng cho các nhân vật lương thiện chỉ đường hay mách bảo cùng trợ duyên cho mấy thầy trò trên bước đường đến Tây Trúc. Do vậy ở thế gian này tìm một người thân, khẩu, ý làm lành chẳng có được mấy ai, mà người thân, khẩu, ý làm những điều xấu dở ác độc thì rất nhiều. Thành thử ta thấy trong đời những người có tâm tham, sân, si, bất hảo ác độc thường hay tranh giành chiếm đoạt quyền lợi hoặc tài sản của cải kẻ khác thì nhiều chớ chẳng thấy người lành muốn xâm đoạt hay hãm hại gì ai. Cho nên xem truyện ta thấy Thiên binh nhà Trời đánh không lại với Tề Thiên Đại Thánh, mà Tề Thiên Đại Thánh thì lại hay gây sự với nhà Trời là nói lên ý này. Thành thử chỉ có phương pháp tu hành để cải hóa thì ý thức mới chịu quy phục chuyển hướng thánh thiện chớ không có phương cách nào khác hơn. Cho nên người lương thiện hay người hành đạo đều do 11 tâm sở thiện và 5 biệt cảnh chỉ đạo hướng đến Chân, Thiện, Mỹ và giác ngộ giải thoát cũng nhờ những tâm sở này. Vì vậy trong truyện nói Bồ Tát Quan Âm và Thái Thượng Lão Quân xuống trần dùng vòng kim cương đánh Tề Thiên Đại Thánh thì  Đại Thánh mới bại trận chịu hàng. Thật ra tám thức tâm vương cùng các tâm sở chỉ là một mà thôi. Từ Bổn tâm thanh tịnh sáng suốt luôn hiện diện không hình không tướng, nhưng do chẳng giữ được tự tánh tỉnh liền bất giác một niệm ban đầu phát sanh, từ đó có các thức tâm vương và tâm sở. Tuy nhiên Bổn tâm không hình tướng, chẳng thể nói đến, không thể chỉ bày được, nhưng đã để lại vết tích qua 6 căn, cho nên mắt mới biết thấy, tai biết nghe….. Chúng ta muốn trở về cội nguồn thì phải nương vào chỗ tâm phát ra năng dụng đó mà khéo thể nhận lại. Nhưng chúng ta cũng phải biết các thức tâm vương và tâm sở chỉ là những tướng tâm hư vọng (vọng niệm) không thực. Tuy hư vọng nhưng ai có tướng tâm thiện lành thì sau khi mạng chung sẽ có cảnh giới tốt đẹp cho đối tượng đó trú ngụ; ngược lại, có tướng tâm bất thiện ác độc thì có cõi xấu xa đau khổ dành cho họ, tùy theo tướng tâm tốt hoặc xấu nhiều hay ít mà có các cõi tương xứng với tướng tâm đó tạo, hoặc thăng, hoặc trầm. Cho nên, nếu một niệm ban đầu mà chúng ta chưa thấu triệt thì khó thoát khỏi cảnh tử sanh. Còn người dứt hết các tướng tâm thiện ác thì chẳng bị sanh, không sanh thì đâu có khổ về già, bệnh, chết nên gọi là vô sanh, tức an nhiên giải thoát.

    Ngày nay các nhà khoa học, bác học phát minh chế tạo ra những đồ dùng trong đời sống, có cái rất tinh vi mắt thường không thể thấy được như: Điện tử, điện trường, hạt nhân v.v..., họ có thể ở xa mà vẫn điều khiển được những thứ này, cũng giống như Tôn Ngộ Không đằng vân hay hóa phép thành cái này cái nọ, hoặc biến làm con này con kia vậy. Nếu họ làm với tâm Chân, Thiện, Mỹ thì rất hữu ích cho nhân loại, vì họ chế tạo những vật dụng cần thiết trong lao động, người làm việc sẽ ít tốn công sức mà đạt được thành quả cao, xã hội được hưng thịnh tốt đẹp. Còn nếu họ làm với tâm niệm tham, sân, si thì chỉ đem đến cho nhân loại lo âu, sợ hãi, chiến tranh xảy ra và con người sát hại, chia rẽ lẫn nhau để rồi cùng nhau đau khổ. Cho nên công năng của ý thức giống như là Gậy Như Ý (cây thước bảng) của Tôn Ngộ Không vậy.

    Chúng ta thấy công năng ý thức mạnh như thế mà thầy của nó là Tâm. Nếu sống trọn vẹn với Tâm thì công năng sẽ mạnh gấp nhiều lần như vậy. Như cách đây 26 thế kỷ, Đức Phật đã thấy trong bát nước có tám vạn bốn ngàn vi trùng, trong vũ trụ có hằng hà sa số thế giới, và Ngài thấy tất cả sự vật không có sự vật nào tồn tại trường cửu mà luôn biến chuyển thay đổi từng sát na lần đến hoại diệt. Ngài còn nói: “Ta thấy tất cả chúng sinh nhiều đời kiếp làm gì, ở đâu và từ đâu sinh ra đây, chết rồi đi về đâu”, Ngài đều thấy rõ không nghi ngờ mà trong kinh điển còn ghi chép để lại. Ngày nay nhờ khoa học tiến bộ mới biết những lời Phật nói là đúng. Vì Phật đã sống trọn vẹn với tâm thanh tịnh sáng suốt nên mới thấy biết được như thế. Ta thấy công năng ý thức chỉ là một phần nhỏ của tâm mà thôi. Nên tu là chuyển hóa ý thức trở về tự tâm thanh tịnh sáng suốt, mà muốn trở về tự tâm thanh tịnh thì phải phản quan lại chính mình. Một khi đã thấy biết được mình và sống trọn vẹn rồi cũng sẽ thấy biết những vật bên ngoài. Cho nên trong thiền môn có câu “Phản quan tự kỷ bổn phận sự bất tùng tha đắc”. Nghĩa là xoay lại chính mình là việc bổn phận chẳng tìm nơi khác mà được.

    Lúc còn u tối mê lầm thì công năng đó được sử dụng vào những chuyện không đúng chánh đạo, vì không biết được lẽ thật nên tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến v.v... càng ngày càng tăng trưởng, do đó trong cuộc sống không được an ổn thảnh thơi mà phiền não thì liên miên không dừng là vậy. Nhưng khi đã thức tỉnh giác ngộ, cũng chính công năng ý thức chuyển hóa thành trí tuệ, nhân cách sẽ thay đổi thành hiền lương thánh thiện, nên lòng từ chan rải khắp mọi nơi luôn làm lợi ích cho muôn loài.

  • 6. Ý mã

    Ý MÃ

     

    Để biết được ý mã mà Ngô Thừa Ân ẩn dụ, chúng ta hãy đọc qua đoạn:

    Bật Mã Ôn ngày đêm không ngủ trông nom ngựa. Ban ngày còn chơi đùa được, ban đêm thì chăm sóc ân cần, như ngựa ngủ thì đánh thức dậy cho ăn cỏ, ngựa chạy quanh thì bắt đem về chuồng.. . (hồi 4).

    Qua đoạn văn trên ta thấy Ngô Thừa Ân nói chăn ngựa kiểu gì lạ đời vậy? Chăn ngựa gì mà ngày đêm không dám ngủ, ngày thì còn chơi đùa được, đêm lại chăm sóc ân cần, ngựa ngủ đánh thức cho ăn? Vậy mà  Thiên đình khen là chăn ngựa giỏi, ngựa mập khỏe nữa. Những lời như thế cho chúng ta thấy Ngô Thừa Ân rất hiểu Phật pháp.

    Chăn ngựa kiểu lạ đời này là cái lợi, cái đà để cho ta tiến đến giác ngộ giải thoát. Vì người hành đạo là người đi ngược dòng đời nên kiểu chăn ngựa nó cũng ngược đời. Chăn ngựa đây là chăn con ngựa ý của mình. Ý của chúng ta cứ chạy nhảy lung tung không chịu dừng, nên trong Phật pháp có câu: “Tâm viên ý mã”.

    Trong đời sống hằng ngày đa số chúng ta thường rong ruổi theo các pháp bên ngoài, nào là những việc phải quấy, hơn thua được mất, buồn thương, giận ghét v.v... Rồi khi rảnh rỗi không làm việc gì thì những hình ảnh đó khởi hiện lại trong tâm não. Nếu nhớ nghĩ lại bóng hình người mình giận thì lúc đó thêm bực bội oán hờn, nếu là hình ảnh người mình thương thì khởi ý lo lắng giúp đỡ hoặc nghĩ tạo điều kiện gì để gần gũi cho đỡ nhớ... Còn như ai hiếp đáp hay muốn xâm phạm người đó thì tìm cách bênh vực che chở. Rồi được và mất cũng vậy, khi mua sắm hoặc tạo được một món đồ quí giá thì cố gìn giữ bảo thủ, nếu có ai chiếm đoạt hay hư mất liền nuối tiếc buồn khổ......

    Hoặc giả có những việc chưa đến hay không có, mà ý lại nghĩ tưởng ra trước rồi lao theo tô vẽ, thêu dệt đủ điều. Đôi lúc nghĩ vơ, nghĩ vẩn chuyện đâu đâu quanh quẩn cả ngày không yên. Bởi ban ngày năm căn ngoài hoạt động nên đa số chúng ta mở mắt dậy là ý thức dẫn chạy đầu này, phóng nơi kia rồi than khổ. Cho đến lúc nằm nghỉ, ngủ lại không chịu nghỉ, ngủ, cứ nhớ chuyện này nghĩ việc nọ lung tung nghỉ không yên, trăn trở hoài ngủ chẳng được. Đến lúc ngủ rồi cũng không yên, thấy mơ mộng đủ thứ. Khi ngủ mê năm căn ngoài đóng, ý thức không ẩn trong tàng thức thì nó gợi lại những tư tưởng lúc ban ngày bị ức chế, để tạo thành giấc mộng. Hay nó đồng hóa vào những bóng dáng của pháp trần hiện lại, rồi duyên theo đó suy diễn phác họa và tưởng tượng thêm làm thành giấc mộng, nên khi mộng thấy các hình ảnh ghép nối lộn xộn không đầu đuôi mạch lạc gì cả. Có lúc thấy những cảnh và người mà đời này mình chưa hề gặp nữa. Trong giấc mộng đôi lúc cũng có những vị thiện Thần hộ pháp mách bảo việc này chuyện nọ, nên khi mộng thấy như thế nào thì sự việc diễn ra y như vậy, nhưng rất hiếm có. Đó là việc ngoại lệ.

    Trong lúc ngủ không tỉnh sáng như lúc thức nên ý mặc tình rong ruổi ta không tự chủ được, vì ý đã hòa nhập vào giấc mộng, thể xác chẳng còn hay biết gì khi đang mộng cả. Giả như có người dục vọng nhiều, hằng ngày hay nghĩ tưởng người khác phái, nên khi ngủ mộng thấy những đối tượng đó khởi hiện lại và cộng thêm lòng dục vọng tác động mạnh không kiềm chế được đành phải buông xuôi theo bản năng. Nhưng khi giật mình tỉnh giấc thì ôi! bao nhiêu vốn liếng dành dụm để nuôi thân đành trút sông đổ biển một lèo trong vô thức. Lúc mê thì ngày cũng như đêm, tâm ý nghĩ đông nghĩ tây không ở nơi thân, nên nói thân đây mà tâm ở đâu đâu. Điều này thấy rất rõ, ban ngày còn tỉnh táo làm chủ được đôi phần, đến lúc ngủ, ý mê mờ đồng hóa với cảnh trong mộng, rồi tác động theo bản năng nghiệp lực, chỉ có ai tu miên mật lắm mới tự chủ được trong lúc ngủ mộng. Ví như có người trường chay giữ giới đã lâu, khi ngủ nằm chiêm bao thấy bạn bè rủ vào quán ăn thịt uống rượu, nếu người làm chủ được thì liền từ chối hẳn không hòa nhập vào bàn nhậu, còn như không tự chủ liền nhập cuộc. Đó là một việc nhỏ, còn những việc khác cũng thế. Thành thử lúc thức, ngủ mà không bị ý lôi kéo là làm chủ được thân tâm, thì thức, ngủ đều như nhau. Nên Ngô Thừa Ân nói: “Ngày còn chơi đùa được, đêm phải chăm sóc ân cần, ngựa ngủ đánh thức dậy cho ăn cỏ” là vậy.

    Lại nữa, có người đang tụng kinh, thân thì trang nghiêm, miệng đọc tụng lời Phật tổ dạy mà ý thì chạy nơi này nơi nọ, hoặc suy tính những chuyện chưa tới, hay nghĩ lại những việc đã qua cứ thế niệm niệm tiếp nối. Có khi ở ngoài đường ai đánh hay chửi lộn gì đó ý cũng chạy ra, đôi khi còn kéo theo tấm thân mấy chục ký lô này nữa. Phải chi người ta la cầu cứu liền tức tốc chạy ra giúp thì không nói, đằng này không dính dáng tới mình mà cũng chạy ra. Bởi ý tưởng hiếu kỳ của con người khó dừng nên không làm chủ được, do đó quên đi cái chân thật đang hiện diện. Thế nên trong kinh Kim Cang ngài Tu Bồ Đề hỏi Phật:

    - Bạch Thế Tôn ! Người Thiện nam, người Thiện nữ phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác nên làm sao trụ? Làm sao hàng phục tâm ấy? Nghĩa là có người Thiện nam, người Thiện nữ muốn phát tâm cầu làm Phật thì phải làm sao trụ được tâm Phật của họ và làm sao trở về với tâm Phật đó?

    Phật dạy rằng: “Có tất cả loài chúng sinh hoặc loài sanh bằng trứng, sanh bằng thai, sanh chỗ ẩm ướt, hoặc hóa sanh, có hình sắc, không hình sắc, có tưởng, hoặc không tưởng và chẳng có tưởng chẳng không tưởng ta đều khiến đưa vào Vô dư Niết bàn mà được diệt độ. Diệt độ vô lượng vô số chúng sinh như thế mà thật không có chúng sinh được diệt độ”. Tất cả loài chúng sinh ở đây, là chỉ cho những trạng thái tâm lý con người. Nếu người nào muốn trở về tâm Phật của mình và an trụ tâm Phật đó thì hãy đưa những tâm ấy vào nơi rỗng lặng tịch tĩnh mà không thấy có bốn tướng (Ngã, Nhân, Chúng sanh, Thọ giả) thì người đó chính là Phật. Đây xin nói đại cương về chín loài chúng sinh tâm để biết hóa giải đừng ái chấp, mà trở về thể nhận tâm chân thật và hằng sống với nó.

    1- Loài sanh bằng trứng ở tâm (noãn sanh): Là từng mống niệm rời rạc loáng thoáng, những ý niệm vớ vẩn đâu đâu không thực tại. Đúng ra nó là những chủng tử được lưu giữ trong tạng thức, do chúng ta nhớ nghĩ lại hoặc khởi tưởng tượng mà có. Hay nói khác hơn là những ý niệm về tương lai và hồi tưởng lại việc quá khứ, nhưng nó vẫn gây tác động ở hiện tại. Ví như chợt nhớ vài hôm nữa sẽ gặp lại người mình thương nhất mà bấy lâu nay xa cách, liền tưởng tượng phác họa: Chẳng biết sắc diện họ có thay đổi gì không, phải nói những lời gì khi gặp mặt... mời về nhà... đãi đằng v.v..., nên lúc đó cảm thấy vui vui thì miệng mỉm cười. Nếu chợt khởi niệm nhớ về việc đã qua, như buồn bực người nào đó nên gương mặt hiện tại không được tươi vui. Vả lại, đây là những niệm bâng quơ nhưng khi gặp duyên nó liền thực hiện. Như trứng mới sanh ra chưa thành con, đến lúc gặp đủ duyên trứng mới nở thành con. Nghĩa là có mống niệm rồi sau một thời gian gặp duyên mới thực hiện.

    2- Loài sanh bằng thai ở tâm (thai sanh): Nghĩa là có ý niệm phác họa bên trong (thai có hình thù nhưng chưa sanh ra) rồi ôm ấp nuôi dưỡng chờ đủ duyên để tác động theo ý niệm đó (đủ ngày tháng sanh ra con), giống như ôm ấp một hoài bão về tương lai sẽ làm bác sĩ. Từ ý niệm đó mà cố gắng cần mẫn chăm chỉ học chuyên về các môn y khoa, và trông mong đến ngày thi sẽ đạt được kết quả để làm bác sĩ theo như ý trước đã vạch ra. Hay khởi niệm phiền hận với một đối tượng nào đó, rồi ôm ấp nuôi dưỡng để chờ ngày đủ duyên hội ngộ thì liền hành động theo sự ôm ấp hờn trách bấy lâu nay. Ví như, trong kinh A hàm có câu chuyện: Một nhà xem tướng nọ, có đứa con xinh đẹp, cha cô định gả cho Đức Phật, nhưng khi Đức Phật đối diện nói cô là một đãy da hôi thối. Bởi có chút nhan sắc lại bị Phật xem thường nên cô tự ái, rồi căm giận và quyết sẽ trả thù. Từ lúc có ý niệm đó khi vua láng giềng nghe tiếng cô có nhan sắc đến xin hỏi cưới về làm hoàng hậu, cô liền nhận lời. Sau đó nhân duyên đưa đến, cô được tin có Đức Phật và đệ tử Ngài qua vương quốc khất thực, thấy có cơ hội để trả mối hận xưa, nên cô liền sai người tìm mướn những tay anh chị đầu đường bến chợ, khi thấy Đức Phật đi đến thì chửi mắng sỉ nhục. Những người đó y theo lời hành động để lãnh tiền.

    Lại nữa, những niệm khởi có hình thù rõ rệt là ý niệm mang tính hiện tại tạo thành những hành động đương thời. Ví dụ như đang chạy xe, bỗng xe bị sự cố nên dừng lại, rồi suy nghĩ tìm tòi mở cái này, tháo cái nọ để sửa chữa. Hoặc giả khi viết thư cho ai, soạn giáo án hay muốn thuyết trình về vấn đề gì đó phải suy nghĩ để viết, viết xong phải đọc lại, khi xóa đi, khi thêm thắt, hay là cảm thấy đói bụng thì liền đi vào bếp, quán xá tìm thức ăn v.v...

    3. Loài sanh nơi ẩm ướt ở tâm (thấp sanh): Là những ý niệm rọ rạy, âm ỉ nhỏ nhiệm lúc nhúc - giống như những con vi sinh vật sống trong nước - không thấy hình tướng rõ ràng cho lắm, khiến cho người ta ray rứt khó chịu đi đến oằn oại khổ sở. Ví như có ai làm mình buồn giận hoặc là vui, tuy sự việc đã qua nhưng khi nhớ lại thì ấm ức hờn dỗi hoặc là vui thoang thoáng, nó rỉ rả thì thầm trong lòng không rõ rệt. Khi tâm đã đượm thấm dòng nước ái bởi nước mắt, nước mũi, nước dục tình…. rồi thì loài chúng sinh này gặm nhấm làm cho người ta đau đớn không thể chịu thấu -giống như vi trùng độc ở trong ngũ tạng rút rỉa thân mình đau quằn quại ngày đêm. Có khi phải ngất lịm đi hoặc là nghĩ cách tự quyên sinh, hoặc tìm phương cách lãng quên cuộc sống bằng một hình thức nào đó, như trốn tránh không muốn ai biết đến. Hay là tìm đến những cuộc vui ở hý trường để khỏa lấp những cái đang rỉ rả, ray rứt thì thầm đó. Bên cạnh đó, còn một dạng nữa là cuồng dại, nên có hành động hung hăng, man trá, bất kể mọi dư luận hay nhân phẩm của mình, có thể đưa đến tình trạng mất trí và điên loạn (người ghen tuông).

    4- Loài hóa sanh ở tâm: Là những ý niệm bất chợt phát sanh không thấy rõ ràng. Nó theo duyên hóa hiện thành tướng trạng, phát ra hành động rất đa dạng, khi phát khởi không có sự chuẩn bị nào. Nó hay làm đảo lộn tính nết thường tình của con người trong cuộc sống hằng ngày. Ví như ta cùng các bạn đang chơi vui vẻ, mặt mày hớn hở tươi tỉnh, bỗng có người nói nặng lời chạm tự ái, nên niệm sân bộc phát (niệm hóa sanh) làm mình cau có, phiền giận, gương mặt không còn vui tươi nữa. Hoặc trong giao tế, kinh doanh …., đôi khi có người hiểu lầm, họ khinh rẻ nặng lời, mình không tự chủ nên thốt ra những lời hằn học đôi co. Hoặc giả có người hồi nào đến giờ không tham lam của cải ai, nhưng khi túng quẫn lại sanh tâm lén lấy.

    5- Loài chúng sinh có hình sắc ở tâm (pháp trần): Chúng là những hình bóng của quá khứ, do năm căn ngoài duyên theo trần cảnh dính mắc, rồi ghi nhận vào trong tạng thức, khi rảnh rỗi hay ở nơi yên tịnh thì chúng mới sinh khởi. Chúng chập chờn lởn vởn, khi ẩn, khi hiện, khi ráp nối những hình sắc không có đầu đuôi mạch lạc gì cả. Pháp trần là một trong sáu trần mà trong kinh thường nói đến là: Sắc trần, thinh trần, hương trần, vị trần, xúc trần, pháp trần, hoặc ý thức tự khởi tưởng cảnh vật nào đó thì tư tưởng hiện thời duyên theo suy diễn thêu dệt này nọ thành một chuỗi dài niệm với niệm.

    Đó là nói sơ lược về năm loài chúng sinh ở tâm con người thường tình, nó làm cho người ta vui buồn lẫn lộn trong cuộc sống hằng ngày. Bởi con người cho là có sự hiện diện của năm loài chúng sinh này nên mới làm họ có sinh khí sống và cuộc đời mới có ý nghĩa. Nhưng khi chúng đã hiện diện đầy ắp trong tâm, người ta mới than khổ kêu trời, vì chúng không phải xuất hiện từng loài mà ngay cùng lúc có thể đồng thời sinh ra một lượt. Cho nên chúng phát khởi rất đa dạng, nhiều hình thái không thể lường được. Thế mà khổ thay cho con người, khi không có chúng thì họ lại không chịu, bởi có chúng nên mới tạo ra cho người ta một cảm giác để thưởng thức - vui hoặc buồn, nhưng cảm giác đó rất nhất thời, vừa có đó lại mất đó, thì làm sao được như ý mình đây! Vì cái gì mình cũng muốn như ý mà! Nhưng đâu có được như vậy phải không? Bởi con người do mê lầm rồi tùy thuận chấp nhận chúng là mình nên bị chúng sai khiến, suốt cuộc đời than khổ nhiều hơn là thấy an vui hạnh phúc. Tuy năm loài chúng sinh đó có, nhưng may thay chúng không tự tánh cố định, chợt có, chợt không, chợt còn, chợt mất, chúng sinh ra là do bất chợt, nên khi sanh khởi tuy thấy có mà không thật có, do vậy nói là hư vọng. Khi sanh khởi tức động, nên nói là vọng động. Vọng động tức không thực thể, do đó chúng ta mới có thể hóa giải chúng được. Điều thiết yếu phải biết chúng là huyễn vọng không phải thật mình, đừng ái chấp, mà cái mình chân thật là hằng RÕ BIẾT, dù chúng có hiện khởi hay không có thì cái RÕ BIẾT đó luôn hằng hữu. Bởi có tự chủ sáng suốt mới thấy rõ từng hành tướng của chúng đang lưu chuyển, nên không bị chúng sai khiến mà biết sử dụng chúng khi ta cần để làm lợi ích cho cuộc sống và nhân sinh, nhưng phải hợp với lẽ phải chân chính và đừng chấp mắc vì biết bản chất nó vốn hư vọng. Trong kinh có dạy, người mà chấp thân tâm làm mình thật là vô minh; trái lại rõ biết thân tâm là huyễn vọng thì người đó đã giác.

    6- Loài chúng sinh không hình sắc ở tâm: Từ loài chúng sinh này về sau chỉ người tu mới nhận định được. Đây là loài chúng sinh do dụng công tu quán một phương pháp nào đó, chẳng hạn như quán các pháp vô thường mà năm loài chúng sinh vừa kể trên không còn lăng xăng nữa, lại phát sanh ra một trạng thái trống rỗng (chúng sinh không hình sắc) này, thì nó cũng là một dạng chúng sinh được sinh ra. Nên khi có dụng công thì thấy có chúng sinh không hình sắc này, lúc không dụng công thì năm loài chúng sinh trước lại hiện như cũ.

    7- Loài chúng sinh có tưởng ở tâm: Loài chúng sinh này được sinh ra do dụng công tập trung tư tưởng, như là tập trung vào ánh sáng ngọn đèn, khi thấy toàn thân và ngoại cảnh đều sáng như ánh sáng ngọn đèn thì thành công về phương pháp quán tưởng đó. Hay là ngồi tưởng để xuất hồn đi nơi này, nơi kia. Lúc đó, ngay nơi thân người đang quán tưởng họ không biết gì cả, vì họ đang sống với chúng sinh tâm tưởng này.

    8- Loài chúng sinh không có tưởng ở tâm: Loài chúng sinh này có do nghĩ buông hết những tâm tưởng mà được vô tưởng. Bởi không có tưởng nên không biết gì đến thân và ngoại cảnh, không còn cảm giác giống như loài vô tri (gỗ đá). Do chấp ở chỗ không tưởng này mà họ không còn biết khổ đau là gì, chẳng làm lợi ích cho ai cả.

    9- Loài chúng sinh chẳng phải có tưởng, chẳng phải không tưởng ở tâm: Loài chúng sinh này có do được cái vô tưởng trên, lại lắng sâu hơn nữa trong cái vô tưởng đó mà được an định. Họ không còn biết gì ở cuộc sống, nên họ không thấy có khổ đau. Đó cũng là một dạng chúng sinh tâm được sinh ra, do có dụng công thì cái an định đó mới sinh, nên khi được an định họ rất sợ động, cứ an trú trong ấy, ít dám buông xả để vượt qua vươn lên. Có thể nói rằng loài chúng sinh này do bỏ cái tưởng thô mà chấp cái tưởng tế vi hơn. Còn cái định của tâm chân thật không phải vậy, dù các pháp có động hay tịnh vẫn luôn luôn an định, chính cái định này không có xuất nhập, không có sinh ra, hay nói một cách khác là an định tự nhiên không có tác ý dụng pháp để làm cho an. Đây chỉ tạm diễn nói cho người có khái niệm chớ Tâm chân thật xưa nay chưa từng đông huống nữa là tịnh. Nó như vậy chỉ là như vậy – bất tăng, bất giảm, bất cấu, bất tịnh. Nếu ở nơi cảnh động mà sống được với tâm chân thật (tức lòng không bị động) thì ngay đó chính là đại định. Nên có bài:

    Bởi tự tâm vốn an chẳng động

    Ngay động, tịnh vẫn an rõ biết

    Càng muốn an lại càng bị động

    Còn thấy an chẳng phải thật an.

    Bốn loài chúng sinh sau này do dụng công tu mà có những trạng thái khác lạ nơi tâm. Tất cả những gì có sinh ra thì tất phải có diệt, đó là quy luật chung của các pháp không thể tránh khỏi.

    Khi năm loài chúng sinh trước (noãn, thai, ẩm, hóa, có sắc) còn là tạo ra cõi Dục giới; bốn loài chúng sinh sau (không sắc, có tưởng, không tưởng, chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng) ở tâm còn là tạo ra cõi Sắc và Vô Sắc Giới. Hễ tâm sinh là còn những chủng tử về thiện nghiệp, ác nghiệp hay bất định nghiệp. Nếu huân chủng tử thiện thì sau đó chiêu cảm quả báo tốt, sanh nơi lành hưởng sung sướng như các cõi Trời Dục Giới, thấp hơn chút thì sanh ở cõi người (ít bị đau khổ hơn ba cõi dưới). Bằng ngược lại huân những chủng tử ác thì bị chiêu cảm nơi thấp hèn, đọa lạc ba đường khổ (Súc Sanh, Ngạ Quỷ, Địa Ngục). Còn như huân những chủng tử bất động nghiệp (thiền định nghiệp) thì sẽ chiêu cảm về những cõi Trời Sắc Giới và Vô Sắc Giới. Nhưng cũng tùy theo mức dụng công huân tập nhiều hay ít, tâm an định có sâu cạn mà có các cõi sai biệt. Vì thế ba cõi đều do tâm tạo nên. Nếu biết được chúng sinh tâm của chính mình là thấu triệt nguồn gốc sinh diệt vô thường huyễn ảo trên pháp tướng. Còn tỏ ngộ Bổn tâm là thông suốt nguồn gốc muôn pháp thì mới thể nhập “Tự tánh thanh tịnh niết bàn”.

    Hơn nữa, chúng ta cũng phải biết thêm rằng “định” có hai mặt. Một là tướng định; hai là tánh định. Tất cả những phương tiện tu hành làm cho tâm được an định thì cái định đó chỉ là tướng định chớ không phải tự tánh định. Tùy theo sự công phu tu mà định có thứ lớp sâu cạn, cho nên trong Phật pháp có danh từ “Bát định”. Ngoài ra còn có nhiều thứ định khác do dụng công với phương pháp nào đó ngoài giáo lý Phật, Tổ dạy nên đây không tiện bàn đến. Nhưng nếu ai có nhân duyên lớn với đạo giải thoát cứu cánh, khi dụng công đạt được tướng định rồi đừng tự mãn an trú, mà hãy nương tướng định đó tiến sâu hơn nữa để thể nhận ra Bổn tâm sáng suốt, mới hòa nhập tự tánh định, khi ấy dù có nói nín động tịnh gì thì cũng hằng định cả. Cho nên thấu suốt Bổn tâm thì rõ tánh định xưa nay chưa từng động tịnh; hằng sống với tánh định thì chẳng nhiễm, chẳng trụ, chẳng động trước muôn pháp. Còn tướng định là khi có công phu thì tâm không động, dừng công phu thì tướng định không còn cho nên lúc đối diện trước muôn pháp bị động tâm. Và phải biết thêm rằng, tướng định là phương tiện bước đầu để chuyển mê khai ngộ tự tánh.

    Có thể nói rằng, tướng định giống như nước sông đục ngầu được múc lên chứa ở lu để yên cho bùn cặn lắng xuống thì mới có được nước trong, nhưng chưa tẽ lọc bỏ cặn để nước trong sạch riêng biệt ra, cho nên khi gặp duyên bị người làm động thì cặn bùn trong lu nước sẽ trào dậy, làm cho nước vừa mới lắng trong đó bị vẩn đục y như nước dưới sông. Còn tánh định giống như nước đã lắng trong tinh khiết được tẽ sang qua lu sạch khác, cho nên dầu gặp duyên bị khuấy động, lắc đảo nhưng nước vẫn trong sạch không có vẩn đục.

    Tóm lại, tướng định thì lúc được lúc mất nên đòi hỏi phải gia sức công phu; còn tánh định thì luôn hằng hữu bất biến. Giống như ngài Lục Tổ khi nghe giảng kinh Kim Cang đến câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” liền thốt lên năm chỗ đâu ngờ vậy. Nói như thế là để chúng ta có khái niệm trong lúc công phu tu, khi được an định chút ít chớ có tự mãn cho là rốt ráo, mà phải cố gắng tinh tiến thêm, khi nào nhận ra Bổn tâm nhập tự tánh định mới cứu cánh viên mãn.

    Thế nên còn một máy động ý niệm (dù là sự máy động trên công phu) là còn một chúng sinh. Nếu người biết tu hãy trở về sống với cái rõ biết trong lặng là sẽ chuyển hóa niệm; khi ý niệm vừa khởi không hòa nhập lao theo, chỉ tỉnh táo sáng suốt nhìn nó thì tất cả loài chúng sinh trên tự tan biến trong cái rỗng lặng sáng suốt này. Gọi là đưa chúng sinh vào Vô dư Niết bàn mà không thấy chúng sinh được diệt độ, đây mới chính là trở về sống với Tâm chân thật.

    Ta phải biết những ý niệm giống như là mây trong bầu hư không vậy. Dù cho mây có dầy đặc đi nữa, thì nó cũng không phải định vị một chỗ mà luôn luôn thay đổi; khi mây đen, khi mây trắng, lúc thưa thớt từng cụm, lúc tan biến không còn một gợn nào thì thử hỏi nó đi về đâu và trú ẩn nơi nào? Do đó chúng ta không thể xác định được vị trí của mây, mà chỉ thấy mây khi chợt có, chợt không. Do vậy nói mây là hư hư ảo ảo, có mà không phải thật. Còn bầu hư không thì lúc nào cũng luôn hiện diện bất động, không thêm, không bớt, không còn, không mất, không đến cũng không đi. Nó như vậy chỉ là như vậy.

    Cũng tương tự như thế, cái rõ biết trong lặng thênh thang giống như hư không luôn hiện diện không có đến cũng không có đi ..., còn những ý niệm là bóng dáng chập chờn trong cái rõ biết rỗng lặng thênh thang, nó chợt khởi rồi chợt mất, luôn thay hình đổi dạng (giống như mây bềnh bồng tụ tán trong hư không). Bởi do chúng ta mê lầm nhận nó là mình mà phải bị trôi nổi trong ba nẻo sáu đường. Cho nên chúng ta phải có cái nhìn như trên thì sẽ không bị lầm lẫn nữa, mới thể nhận ra cái linh tri hằng hữu không lúc nào thiếu vắng ở ngay thân này. Chính nhờ “Cái đó” mà chúng ta mới có hoạt động tới lui, nói năng luận bàn, làm mọi việc, chớ thân tứ đại này là vật vô tri, và cái suy nghĩ hiểu biết là do sự khởi động của vọng thức mà có. Còn cái chân thật là cái đang rõ biết trong lặng rỗng suốt, dù có vọng thức hay không vọng thức nó vẫn như vậy. Do vì khi chúng ta có vọng niệm lại hòa nhập đồng hóa mình vào vọng niệm, cho vọng niệm là mình mà quên đi cái rõ biết rỗng lặng này, từ đó mới có khổ đau. Nếu thấy được lẽ thật vọng niệm thì chúng ta mới hết mê lầm. Không mê lầm tức là giác. Giác tức là Phật. Lúc mê là mê cái giác này; khi giác là biết được cái mê, thấy đúng lẽ thật ở chính con người mình không còn lầm lẫn, đó là nhân tiến đến giải thoát, còn nếu con người thật của chính mình mà mình không hay biết thì dù có biết nhiều việc bên ngoài cũng không thoát khỏi vòng trói buộc mê lầm. Mê lầm tức là vô minh. Trong sử Tổ có câu chuyện nói ý này:

    Khi ngài Thần Quang được Tổ Bồ Đề Đạt Ma nhận làm đệ tử. Một hôm ngài đến hỏi:

    - Bạch Hòa thượng, tâm con không an, xin dạy cho con phương pháp an tâm.

    Tổ bảo: Đem tâm ra ta an cho.

    Ngài liền nhìn lại tìm xem cái tâm lăng xăng đó để đưa trình cho Tổ, khi nhìn tìm lại thấy nó mất tăm dạng, nên Ngài thưa:

    - Con tìm tâm không thể được.

    Tổ bảo: Ta đã an tâm cho ngươi rồi !

    Ngài Thần Quang liền thầm ngộ sau đó Tổ đặt tên là Huệ Khả.

    Người tu ai cũng muốn tâm mình an tịnh mà ý cứ sinh khởi hết niệm này tới niệm nọ làm cho bất an, nên ngài Thần Quang mới đến cầu Tổ chỉ dạy. Tổ chỉ bảo hãy đem cái tâm lăng xăng đó ra đây ta sẽ an cho. Ngài Thần Quang thật thà nghe Tổ bảo sao thì làm vậy, khi nhìn lại tìm thấy nó mất nói con tìm tâm không thể được. Tổ liền bảo: Ta đã an tâm cho ngươi rồi. Từ đó ngài Huệ Khả mới biết cách dừng con ngựa ý của mình. Khi nhìn lại thấy vọng tưởng lặng mất thì cả cái nhìn tìm lại đó cũng không dùng nữa, như vậy mới hợp ý Tổ. Tâm ý lăng xăng khi có khi không đó là sở, còn cái nhìn tìm lại là phương tiện để thấy lẽ thật của niệm đó là năng. Khi sở dứt, năng không còn thì ngay khi ấy rỡ ràng sáng suốt tức là Huệ; rỗng lặng không vọng động là Định, nên Huệ và Định đồng thời. Vì vậy trong kinh Kim Cang có câu “Pháp còn phải bỏ huống là phi pháp”.

    Chúng ta hãy thử nhìn lại mình xem có giống ngài Huệ Khả trước khi hỏi Tổ không? Đa số tâm ý của chúng ta cứ nghĩ lung tung, hết chuyện này đến chuyện khác không lúc nào được yên. Thành thử muốn nó dừng phải như ngài Huệ Khả nhìn lại xem nó ở đâu? Bởi từ lâu chúng ta lầm nhận cho ý nghĩ là tâm mình nên chẳng an thường bị khổ mãi, nay nhìn lại chẳng thấy mới biết nó không phải là mình, mà mình chính là cái rõ biết sáng suốt thanh tịnh hằng hữu cho nên mới thấy nó khi có khi không. Nó như là những cái bóng lăng xăng hiện trong mặt gương tâm, còn mặt gương tâm thì lúc nào cũng trong suốt bất động. Bởi gương trong suốt nên những hình ảnh bên ngoài mới in vào gương, song ta chỉ biết bóng trong gương lại quên đi mặt gương trong suốt an định. Cũng thế mỗi mỗi pháp đều ở ngôi vị riêng của nó và luôn chiếu rọi vào nhau, nhưng không xen tạp lẫn lộn. Bởi do tâm bất giác, vọng động, đắm nhiễm ái chấp tự trói buộc mà không biết các pháp đều do thức biến hiện nơi mặt gương tâm, vì thế mới có ba cõi sáu đường lên xuống sai biệt không cùng. Nên Đức Phật nói: “Chúng sinh quên mình theo vật” là vậy.

    Ở đây xin nói rộng một chút, tạm gọi là dùng phương tiện để ứng dụng ngay trong cuộc sống hằng ngày đừng cho ý chạy quanh. Nói vậy không phải là không cho nghĩ tính; khi nghĩ tính thì tính, không tính thì dừng đừng để tâm táy máy động đậy. Nếu làm giáo viên hay thư ký, kế toán mà không suy tính thì làm sao soạn giáo án để dạy học, làm sao tính sổ sách? Còn như người làm ở cơ xưởng máy móc qua khâu dây chuyền, mỗi sáng chỉ có ý đến cơ xưởng làm việc, trong khi làm không suy nghĩ tính toán chuyện khác thì công việc sẽ chu tất, hàng không bị tồn đọng. Còn trong thời gian làm mà để cho ý suy tính nghĩ tưởng lan man chuyện khác thì công việc chậm đi, hàng bị dồn lại, việc sẽ đình trệ. Hoặc giả đang làm một việc gì không để tâm ý nghĩ sang chuyện khác thì việc làm ấy rất chu đáo và sẽ đạt kết qua tốt đẹp. Đó là một thực tế.

    Vì thế, người biết tu thì ngay trong cuộc sống lúc nào cũng phải canh chừng ý của mình đừng cho nó chạy quanh, nếu vừa chạy quanh thì phải tỉnh giác, luôn rõ bản chất tâm ý chợt có, chợt không, chẳng lầm mê, được như vậy sẽ thấy tất cả pháp đều là Phật pháp hết. Ví như có người bất chợt khinh khi hay nặng lời với mình, thì hãy nhìn lại mình xem có làm điều gì cho họ giận không? Nếu có thì năn nỉ, xin lỗi để người bớt giận. Còn xét mình không làm gì mà người ta đối xử thậm tệ như thế, nếu có nghĩ thì phải nghĩ tại họ hiểu lầm, hay đây là hậu quả do ta tạo nhân ác cảm với họ thuở quá khứ, nay duyên hội ngộ phải trả nên thông cảm bỏ qua, đừng rầy rà gây gổ thì ngay nơi lời chửi mắng đó là Phật pháp rồi. Khá hơn nữa thì đừng máy động mà hãy thản nhiên bình lặng trước muôn cảnh.

    Bởi ý chúng ta hay chạy nhảy hướng ngoại hoài không chịu nhìn lại chính mình, nếu luôn luôn nhìn lại thì đâu có chuyện phải quấy, hơn thua, đẹp xấu ..... Vì hướng ngoại nên mặt người dính bùn thì mình dễ thấy, mà mặt mình dính bùn gần nhất lại không chịu thấy. Nếu biết phản tỉnh thì nhìn lại lo rửa vết bùn trên mặt mình chớ lo nhìn mặt người. Nếu mặt mình vết bùn còn nguyên không chịu rửa thì cũng như họ vậy thôi, vậy mà cứ nhìn người phê phán không chịu nhìn mình để sửa đổi. Trong cuộc sống nếu có đối tượng nào thân thiết hợp tình, thấy đủ duyên thì có thể giúp đỡ khuyên nhũ họ chỉnh đốn những bất hảo, xấu dở trở nên hoàn thiện, vì không có mấy ai được vẹn toàn. Thành thử nếu có khởi tính việc lợi ích cho người thì ta khởi tính, còn không lợi ích thì hãy để tâm yên lặng đừng khởi động nghĩ tưởng. Nên nói khi cần thì dùng, không cần thì ẩn như câu của ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ trong bài Ngâm Phóng Cuồng:Dùng thì phô ra, bỏ (là không dùng) thì ẩn tàng”.

    Nhưng đôi khi chúng ta không có ý nghĩ gì mà lại thấy hết việc này chuyện nọ cứ hiện lên trong đầu thì trong nhà Phật gọi là pháp trần. Nếu chúng ta không tỉnh giác sẽ bị những bóng dáng này dẫn đi lúc nào không hay. Người biết tu thì đừng hòa nhập lao theo, hãy nhìn nó như bóng trong gương, nó tự đến tự đi, còn gương thì hiện hữu. Nhưng phải luôn sáng suốt, nếu không sẽ bị nó lừa, lôi dắt ta hết niệm này đến niệm khác (đó là khéo biết chăn ngựa). Lại có khi biết là ý khởi mà dừng không được vì nó mạnh quá, sức tỉnh giác yếu nên bị nó dẫn, đó là thói quen của ý nghiệp.

    Trong sinh hoạt hằng ngày, năm căn thô phù hoạt động tiếp duyên với trần cảnh, thực khó thấy ý nghiệp hoạt động. Khi rảnh rỗi hay tọa thiền, năm căn thô ít tiếp duyên ngoài thì mới dễ thấy ý nghiệp hiện hành. Cho nên chúng ta ngồi thiền là tu ở căn ý, vì nó là chủ chốt tạo nghiệp luân chuyển trong Lục đạo.

    Có người hiểu lầm rằng do vì làm ăn để mưu sinh, ý ngựa chạy lung tung không thể tu được nên chẳng muốn làm ăn gì nữa. Không phải vậy ! Nếu có điều kiện làm ăn được thì cứ làm, vì làm ăn phải tính, phải nghĩ, nhưng mà tính nghĩ trong việc chánh đáng lương thiện chứ đừng tính nghĩ mưu mẹo, lường gạt. Nếu làm ăn được có dư dả trong đời sống thì đem cái dư mà giúp đỡ mọi người, đó là đem lòng từ của mình chan rải cho nhân loại, vậy đâu phải có lòng tham chứa chất. Nhưng khi làm biết buông xả đừng dính mắc ái nhiễm thì ngay trong việc làm vẫn tu được.

    Thiển nghĩ, thân tướng và cuộc sống của con người trong thế gian này có chênh lệch chẳng qua do mỗi người đã tích phước hoặc tội sẵn ở quá khứ nên hiện tại thấy có sai biệt. Trên thực tế có những người cùng làm ăn với nhau mà người thì xuôi chèo mát mái, người thì làm đâu trật đó, người bệnh tật, người khỏe mạnh, người đẹp, người xấu, người giàu, kẻ nghèo…. Hoặc có người tu thì được trợ duyên về tinh thần hay vật chất, còn người thì không được trợ duyên. Phải biết phước là sự trợ duyên rất cần thiết để ta tiến trên đường hành đạo. Hơn nữa, người có phước thì tính đâu được đó làm việc gì cũng thành tựu , nói dạy ai cũng nghe theo. Như các vị vua Trần Thái Tông đến Trần Nhân Tông vì có phước nên khi nước nhà bị giặc ngoại xâm thì được nhân dân hưởng ứng, tướng sĩ một lòng nên đánh thắng. Các Ngài nói dạy nhân dân biết nghe theo hành thiện thành thử dân an nước mạnh, do đời nhà Trần Phật giáo rất hưng thịnh nên mới được như thế. Nhưng chúng ta cũng đừng có tâm ham làm phước để mong cầu được quả báo tốt, mà phải biết làm phước là bỏ đi cái tâm bỏn xẻn, tham lam, ích kỷ của ta, như vậy mới có tâm tu thật sự. Bởi vì tu là chuyển hóa hay xả bỏ những vướng bận rối rắm trong tâm, chớ không phải tu là cầu mong thêm, nếu có tâm cầu mong đó là cầu phước lộc tức là tham chớ chẳng phải tu tâm.  Hơn nữa mình làm phước thiện mà muốn người khác biết thì chẳng phải là chân thiện. Nếu ai làm phước mà cầu mong được quả báo thì chẳng khác nào đi buôn kiếm lời hay cho vay lấy lãi vậy thôi. Bởi vì còn có cái ta, thấy ta ban ơn, ta bố thí, ta giúp đỡ mọi việc cho người khác v.v... Chỗ này chúng ta phải khéo đừng để mắc kẹt. Nói vậy không phải là ta sẽ chẳng làm phước hay không giúp người khác nữa mà nên làm tất cả việc lành nhưng đừng mong cầu gì hết, việc gì đến sẽ đến vì đó là việc của nhân quả, tạo nhân lành thì gặp quả báo lành, gây nhân ác thì gặp quả báo xấu, nếu chúng ta nuôi dưỡng thì duyên đưa đến kết quả chứ không mất. Trong kinh Nhân Quả có nói: “Khi nhân duyên hội ngộ, quả báo lại tự nhận”. Nói sâu sắc hơn thì chỉ hướng đến đại từ bi thương chúng sinh, tu các pháp lành mới làm thành chất liệu Bồ đề (giác ngộ).

    Ở đây chúng ta phải có cái nhìn xa một chút về việc tu phước làm thiện, nghĩa là làm tất cả mọi việc lành mà không chấp trên ba sự việc như trước đã nói (Tam luân không tịch), gọi là phá chấp ngã pháp thì mới đúng như tinh thần kinh Kim Cang nói: “Tu nhất thiết thiện pháp, tức đắc A Nậu Đa La Tam Niệu Tam Bồ Đề” (Tu cả thảy pháp lành thì được đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác), hay gọi là vô lậu thiện (phước vô lậu), có chỗ nói là Thanh phước. Nếu người ứng dụng được như thế tức là Bồ Tát lập hạnh để tiến đến quả Phật. Vì vậy Bồ Tát phải hành lục độ, nên việc làm bố thí của Bồ Tát trong ấy đã có trí và định, thành thử phàm phu khó theo hạnh ấy.

    Nếu người mê tâm (chưa rõ Bổn tâm) mà tu thiện làm lành mong cầu quả báo thì được hưởng phước hữu lậu chỉ lẩn quẩn trong ba cõi, sanh ở ba đường lành (Trời, Người, A Tu La). Còn người nhận ra Bổn tâm vẫn luôn hành thiện, nhưng không mong quả báo, rõ các pháp chỉ là huyễn sanh, huyễn diệt, lòng không còn vướng mắc ái chấp trên nhị nguyên nên được an lạc thong dong.

    Làm phước thì sẽ được phước báo đẹp đẽ sang trọng giàu có hưởng những thú vui, nhưng không biết tu hoặc chẳng tạo nhân lành thì khi hết phước sẽ rơi rớt trở lại phải chịu khổ, điều đó không thể tránh khỏi. Nên trong kinh Hoa Nghiêm có câu: “Chẳng thà ở dưới Địa Ngục được nghe tiếng niệm Phật, còn hơn trên cõi trời chỉ lo hưởng thú vui”. Ý nói rằng: Thà ở cảnh khổ nhưng được nghe pháp thấy Phật thì dễ giác ngộ mà tu hơn là ở cõi trời hưởng sung sướng không được thấy nghe Phật pháp. Như trong kinh Phật nói ở cõi Trời Trường Thọ là bị kẹt một trong tám nạn nên không thấy, nghe được Phật pháp. Chúng ta hãy suy ngẫm kỹ chỗ này chớ bỏ qua. Trong cuộc sống chúng ta phải tỉnh táo sáng suốt, nếu không thì dễ bị ý lừa gạt về danh lợi, vì ý cứ chạy lung tung mình không kiềm chế bớt thì khó làm chủ được. Đọc sử ta thấy các vị vua Trần bận rộn mà các Ngài vừa tu, vừa chỉ đạo công việc, nào lo cho dân sống ấm no, nào lo dẹp ngoại xâm để giữ yên đất nước. Nhưng các Ngài làm với tâm rỗng lặng sáng suốt, với tấm lòng vị tha chớ không làm vì lợi ích riêng của các Ngài và cũng không nghĩ người khác trả ơn hay lo giúp gì lại. Cho nên tu là thực tế ngay cuộc sống nhưng phải áp dụng đúng lời Phật, Tổ dạy mới có kết quả thiết thực.

    Xin nói xa hơn một chút là thuở Phật còn tại thế. Một hôm Phật và A Nan qua nước lân cận khất thực, bà Hoàng hậu nước đó trước là con ông thầy tướng số (như đã thuật ở trước) đã sai những người chửi mướn đi sau Phật nhục mạ để trả thù, nhưng Phật không hờn giận mà cảm thấy họ là những người đáng thương, còn ngài A Nan vì chịu không nổi nên thưa với Phật đi qua nước khác khất thực, Phật liền từ tốn dạy ngài A Nan ... Những người đó đã nghe được lời dịu dàng đầy lòng từ của Phật, lòng hối hận của họ trào dâng nên lẳng lặng đến xin lỗi và cầu Phật ở lại chỉ dạy. Sau đó họ đều quy y theo Phật.

    Nếu sáng sớm Phật không có ý khởi tế độ chúng sinh nước đó thì đâu có đến nay để khất thực. Nhưng Phật khởi ý không có lỗi, vì Ngài giống như nước đã được lọc sạch không còn bợn nhơ, dù có lắc đảo nước vẫn trong sạch không cáu bẩn. Nên khi khởi ý là từ tự tánh khởi dụng để làm lợi ích mà không bị ngoại cảnh chi phối, vì tâm đã an định không kẹt trên những đối đãi thương ghét, phải quấy, hơn thua v.v... Thế nên trong kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật nói với ngài A Nan: “Như Lai án túc hải ấn phát quang, nhữ nhược cử tâm trần lao tiên khởi”. Nghĩa là Như Lai chỉ ấn ngón chân xuống thì cả biển phát ra ánh sáng, còn ông vừa dấy niệm thì bụi bay đầy trời. Khi người đã thể nhận tự tánh và hằng sống thì mọi hành động đều phát xuất từ tánh rỗng lặng, nên thấy tất cả ngoại cảnh rỗng lặng như nhiên. Như vậy mới thấy sự khác nhau giữa Phật và chúng sinh. Phật khi đã thanh tịnh rồi thì hành động nào cũng sáng suốt nên khi làm lợi ích cho mọi người mà không thấy cái ta trong đó. Còn chúng sinh bởi mê lầm ái chấp đắm nhiễm nên hành động nào cũng mờ tối, làm việc gì cũng vì mình, luôn ích kỷ hẹp hòi không rộng lượng. Bởi Phật có trí đức đầy đủ nên tâm lượng từ bi trải rộng, dù bị họ chửi mắng nhưng vẫn bình tĩnh thản nhiên, tùy duyên hóa độ với lòng từ tỏa ra nơi thân khẩu. Vì ngài đã vô ngã nên không còn thấy đối đãi, luôn luôn có cái nhìn bình đẳng, lại thông suốt lẽ thật các pháp chẳng còn ngăn ngại nên việc làm của Phật là vì người mà giúp họ thoát khỏi mê lầm. Nói tới đây cũng giống như việc lái xe vậy.

    Sống giữa cuộc đời đầy gió bụi bởi Bát phong chúng ta hãy khéo ứng xử như việc lái xe. Tuy có chiếc xe tốt, người tài xế chủ động khéo léo linh hoạt tay lái thì sẽ thản nhiên an ổn trên lộ trình; bằng ngược lại đang chạy mà tâm lo nghĩ tính suy tưởng đâu đâu, làm mất tự chủ thì sẽ không được an toàn. Hoặc vì những cảnh đẹp, xấu hai bên đường mà dính mắc thì cũng rất nguy hiểm, dễ gây tai nạn. Nếu người lái xe tâm trí bình tĩnh sáng suốt thì khi gặp chướng ngại vật sẽ nhanh trí lách tránh mà thẳng đường tiến tới. Hơn nữa, người điều khiển xe tiến đến trước được là vì bỏ lại những gì đã lướt qua, cảnh vật mỗi lúc một mới, mỗi lần lướt qua một cảnh vật là một cái mới hiện diện, cứ đều đều chạy trong cái hiện thực mới dù đã rời xa nơi khởi hành. Vì vậy lúc khởi hành và đang chạy hay đến nơi đều trong sự an ổn tỉnh táo.

    Trong cuộc sống hằng ngày cũng vậy, nếu chúng ta có cái nhìn hiện thực thì sẽ an lạc giải thoát thật sự. Nghĩa là chúng ta thấy, nghe v.v... chỉ là thấy, nghe v.v... mà không đặt để những danh từ trên các pháp, không đem những hình bóng của quá khứ ra để so sánh với cảnh hiện tại. Ví như trước mặt ta là nhà cửa, cội cây, đường đi v.v... Nhà cửa, cội cây, đường đi là những vật do người xưa đặt tên gọi, khi chúng ta lớn lên cũng theo cách định danh đó mà gọi đây là nhà cửa, là cội cây, đường đi v.v... Bởi chúng ta quen chấp giữ những hình tướng của ngoại trần đem vào ký ức thành thói quen, rồi theo đà thói quen ấy tạo thêm dính mắc ái chấp trói buộc, nên khi nhìn cảnh vật liền phân biệt nói đây là cái này, kia là vật nọ v.v... Lại thêm phân biệt tốt xấu đủ điều mà không chịu nhìn nghe với tâm rỗng lặng rõ biết; thấy chỉ thấy vậy không thêm không bớt, cho đến các căn khác cũng thế. Nếu chúng ta có cái nhìn như thế thì sẽ hết khổ. Vì sao? Vì chúng ta nhìn bằng cái nhìn luôn luôn mới thì lúc nào ta cũng vui, thấy mỗi cảnh vật đều đẹp và rất hồn nhiên. Đó là do không đem những bóng dáng trong ký ức ra so sánh, dù là đang giáp mặt với đối tượng mà ngày hôm qua họ cùng ta có sự hờn giận buồn phiền, ẩu đả với nhau. Đó là một lẽ thật nếu chúng ta có cái nhìn mới mẻ này khi đối diện với các pháp thì bảo đảm trong cuộc sống sẽ hết khổ. Đằng này chúng ta lại trái hẳn, không sống được với thực tại mà ý thức cứ hồi tưởng lại quá khứ hoặc hướng đến tương lai thì sẽ không yên. Ví dụ như, khi ta gặp lại người ngày hôm qua nói nặng lời hay nhục mạ mình, thì ngay khi ấy ý thức gợi lại hình ảnh cử chỉ và âm thanh mà họ đã xử sự với mình hôm trước, cho nên mình dễ bực tức chớ không được bình thản, hoặc ý thức nghĩ cách sau này tìm kế trả đũa, Hơn nữa, có đối tượng làm những việc cách nay năm hay mười năm, mà khi gặp lại ý thức chúng ta cứ gán cho là họ vẫn xấu, ác như cũ chứ không nhìn thấy được hiện tại họ đã cải thiện tốt, hay là nhìn họ một cách thản nhiên hiện thực trước mắt.

    Tu đúng đường lối Phật dạy không phải trơ lì như đất đá, cho rằng lời Phật dạy chẳng cho khởi ý nên không dám khởi động làm gì hết, thấy người hoạn nạn khổ sở trước mặt không cứu giúp, đói khát ở nhà chờ chết không chịu làm gì cả, rồi đau không đi trị bệnh, không tìm thuốc uống để nó tới đâu thì tới, như vậy có đúng hay chăng? Nếu nghĩ như thế thật là cục bộ yếm thế và thụ động. Trong khi đó việc tu tập của mình còn non kém chưa được tự chủ bao nhiêu, cho nên phải biết nương thân giả tạm này ngày nào hành đạo ngày nấy. Thành thử đến với đạo Phật là phải có trí tuệ thấy đúng lẽ thật bản chất thân tâm và các pháp không lầm lẫn, là đạo rất thực tế trong cuộc đời và luôn sống được như bài kệ:

    Chớ làm các điều ác

    Luôn làm các việc lành

    Tâm ý hằng thanh tịnh

    Đó là lời Phật dạy.

    Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta làm tất cả mọi công việc mà đừng nghĩ có cái TA trong đó thì mọi việc ổn thỏa, không vướng bận, chẳng bị phiền não quấy nhiễu nên được nhẹ nhàng an ổn. Ví như lúc ta đang ngủ trong nhà, cách đó vài căn có người la cháy nhà, khi nghe rồi không lẽ ta nằm đó ngủ để lửa cháy lan đến nhà mình à ! Liền bật dậy nghĩ tìm cách hay kiếm cái gì chữa cháy được chạy lại để chữa giúp hàng xóm, khi xong thì trở về nhà ngủ đừng nghĩ gì nữa. Đó là vẫn có ý mà không cho nó chạy quanh.

    Nói dài dòng như vậy để biết ý ngựa rất tinh vi và tế nhị, muốn không nghĩ, tưởng… mà nó cứ vẫn nghĩ, tưởng… đủ thứ, chuyện không đáng nhớ mà lại cứ nhớ lung tung, muốn nó dừng mà nó chẳng chịu dừng, muốn đi thẳng mà nó cứ đi quanh nên phải khéo điều phục cho đi đường thẳng. Vậy bây giờ chúng ta hãy nên làm Bậc Mã Ôn thay cho Mỹ Hầu Vương để chăn con ngựa ý của mình, thấy nó chạy quanh co thì dắt về, còn ban đêm phải chăm sóc ân cần, nếu nó ngủ đánh thức dây cho ăn.

  • 7. Tâm vượn

    TÂM VƯỢN

     

    Như trước đã nói khỉ vượn là con vật hay táy máy, buông cái này, nắm cái nọ ít chịu ở yên một chỗ. Nên truyện  Tây Du Ký đã mượn việc hoạt động của con khỉ để nói lên cái tâm buông lung phóng túng theo dục vọng của chúng sinh và cách điều phục nó.

    Ở đây xin lược dẫn một đoạn để nói ý này.

    Thượng đế nhận được hai tờ biểu do Long vương và Minh vương dâng lên cầu xin nã bắt yêu tinh khỉ đá Mỹ Hầu Vương, vì y đến náo loạn làm hai nơi ấy kinh hoảng nên nhờ đến Thượng đế can thiệp. Thượng đế do dự không biết sai thần tướng nào xuống hàng phục, thì Thái Bạch Kim Tinh nói: “Khỉ đá này do trời sinh, được mặt trời mặt trăng chung đúc lại, tu không biết bao lâu, nay đã thành Tiên nên mới có tài năng như vậy. Xin Thượng đế ban đạo chỉ chiêu an dụ hàng gọi y lên thượng giới trao cho một quan chức gì đó để dễ bề quản lý. Thượng đế đồng ý sai Kim Tinh đi mời... Sau khi Hầu Vương biết chức Bật Mã Ôn không phải là chức quan lớn liền tức giận náo loạn, rồi trở về dựng cờ trước động tự xưng là Tề Thiên Đại Thánh. Thượng đế sai người đến bắt, bị Mỹ Hầu Vương hành hung... Thấy vậy Kim Tinh Thái Bạch nói con khỉ đó lợi hại lắm đừng giao chiến, hãy phong cho y làm Tề Thiên Đại Thánh, chỉ có tên chớ không cho bổng lộc. Thượng đế đồng ý. Kim Tinh đi mời Hầu Vương về nhận chức... Sợ Tề Thiên Đại Thánh ở không nhàn rỗi sanh chuyện nên giao việc giữ vườn đào. Tề Thiên Đại Thánh vào vườn đào thấy có trái chín trộm hái ăn... rồi gạt Đại Tiên đến hội Bàn Đào và lén uống hết rượu tiên, xong sợ Thượng đế hay được liền bỏ trốn về động... Thượng đế hay tin đem Thiên La Địa Võng xuống vây bắt, đánh không lại nên cầu cứu với Bồ Tát Quan Âm. Bồ Tát Quan Âm cử vị thần Hiển Thánh Nhị Lang đến giúp, hai bên đang đánh nhau Bồ Tát ở trên nhìn xuống định giúp một tay nhất định bắt được, thì Lão Quân nói: “Bồ Tát đem binh khí gì giúp bắt?”. Bồ Tát nói: “Tôi đem cái bình nước thanh tịnh ném xuống đầu con khỉ, nếu không đánh nó chết cũng đánh nó ngã”. Lão Quân ngăn lại hãy để Lão Quân ra tay. Bồ Tát nói: “Lão Quân có binh khí gì?”. Lão Quân bảo: ‘Có cái vòng kim cương”. Nói xong Lão Quân ném cái vòng xuống. Tề Thiên Đại Thánh đang giao chiến thì bị chiếc vòng đánh trúng vào đầu té xuống, binh tướng đến vây bắt đem về trời... (h. 5 - 6) 

    Lược dẫn một đoạn trên để biết tâm ý giống như là Tề Thiên Đại Thánh hay náo loạn lung tung, không chịu dừng nghỉ. Bởi tâm của chúng ta ít khi nào chịu dừng, hết nhớ cái này lại tính cái nọ, nên khi ngồi chơi không làm việc gì thì niệm này đến niệm kia tiếp nối, cứ thì thầm trong đầu lảm nhảm hoài ít chịu dừng mà trong nhà thiền gọi là độc thoại (đối đáp thầm một mình), do đó Phật nói chúng sinh điên đảo là vậy. Vì người điên cứ nghĩ và nói chuyện gì đâu đâu không ở thực tại và thân họ cũng không tự chủ. Chúng ta cũng vậy, rảnh rỗi ngồi chơi mà chẳng chịu ngồi chơi hoặc nằm nghỉ mà chẳng chịu nghỉ, cứ suy tính nghĩ tưởng nói chuyện một mình trong lòng, vậy không phải điên là gì? Có khi một mình lại đóng hai, ba vai tự đối đáp nữa. Nhưng chúng ta sáng suốt hơn người điên một chút, tự chủ được hành động và lời nói không thể hiện ra ngoài. Bởi thế, trong Phật giáo có nhiều pháp môn hành trì để cho tâm vượn dừng lại đừng chạy theo sáu trần, như là: Niệm Phật, trì chú, hành thiền, tham công án, tham thoại đầu hay thiền quán v.v… Tuy mỗi phương pháp dạy có khác nhau nhưng mục đích cứu kính thì không khác, miễn làm sao cho tâm khỉ vượn đừng lăng xăng nữa, để thể nhận ra cái linh tri sáng suốt an tịnh và hằng sống. Đó là chỗ gặp nhau ở các pháp môn. Chúng ta đừng đả phá công kích nhau, vì tất cả pháp môn đều là phương tiện, mỗi pháp môn có cái hay riêng, tuy có khác nhau trên mặt hình thức nhưng đạt đến mục đích cứu kính rốt ráo thì không khác.

    Bởi vì chúng sinh quá nhiều bệnh tâm nên Phật, Tổ đưa ra nhiều phương pháp như liều thuốc để đối trị cho mỗi tâm bệnh. Mỗi người có tâm bệnh khác nhau, thành thử đương sự phải chọn một phương pháp phù hợp với trình độ căn cơ của mình mà ứng dụng thì mới đạt kết quả.

    Sở dĩ giáo lý có Tiểu thừa và Đại thừa là vì chúng sinh có hạng cao bậc thấp. Bởi chúng sinh có cao, thấp nên Phật mới tùy theo đó lập bày phương tiện nói giáo lý có cao có thấp để phù hợp với căn cơ, cho chúng sinh nương theo đó ứng dụng hầu đạt kết quả như nguyện. Thế là người sau lại dựa vào đó phân định giáo lý rốt ráo hay chừng mực mà nói có tiểu, có đại chớ chỗ cứu kính Phật pháp không có tiểu có đại. Thành thử nói Tiểu thừa hay Đại thừa là nói về hệ tư tưởng của con người có cao có thấp mà thôi. Nếu người ở trình độ thấp ứng dụng phương pháp đã chọn có kết quả thì phải phát tâm tinh tấn thêm lên để đạt đến mục đích cứu cánh, chớ có tự mãn ở ngôi vị đã chứng mà kẹt giữa đường. Bởi vì chỗ rốt ráo của Phật pháp không ngôi vị thứ lớp. Trong pháp của Phật có chia ngôi vị là vì chúng sinh ái chấp dính mắc nhiều hay ít mà có phương pháp cao hay thấp. Người ở trình độ cao phải biết cảm thông cho người trình độ thấp, để dìu dắt họ từ từ tiến lên, đừng tự cao ngã mạn hoặc chỉ trích. Còn người thấp cũng đừng tự ti mặc cảm mà không dám hướng đến giác ngộ rốt ráo, phải có nghị lực, ý chí và kiên nhẫn trường viễn để tiến lên, vì vậy chúng ta phải biết thông cảm nhau .

    Trong kinh nói tất cả Phật, Thánh và chúng sinh đều bình đẳng trên Phật tánh và nhân quả, nhưng chỉ khác nhau trên mặt hình thức mê hoặc giác. Nếu mê thì thành chúng sinh, khi nào giác thì là Phật. Phật tánh thì ai ai cũng có, bởi còn mê nên bị ẩn khuất, hết mê thì tánh giác hiển lộ như xưa. Giống như mây đen kéo đến che án mặt trăng nên thấy như bị tối chẳng rõ các vật, đến lúc mây bay đi thì trăng bày ra hiện hữu trên dưới đều tỏ sáng. Còn nhân quả thì ai ai cũng phải chịu vì do mình tạo, chỉ có biết chuyển hóa nó hay không chuyển hóa mà kết quả có đau khổ hay an lạc, nên nói có mê và giác. Mê thì đau khổ, giác thì an lạc. Trong lúc chúng ta đang bệnh thì phải dùng thuốc, nhưng lúc hết bệnh rồi thì thuốc cũng không cần dùng nữa. Ngài Lục tổ có nói câu: “Chúng sinh có tất cả tâm cho nên có tất cả pháp. Ta không tất cả tâm thì đâu cần tất cả pháp” là ý này.

    Ở đây Bồ Tát Quan Âm định dùng bình thanh tịnh đựng nước ném xuống để đánh con khỉ là ý nói giữ giới trong sạch sẽ được an định thì tâm khỉ vượn mới dừng, vì bình trong sạch tượng trưng cho giới, bởi bình trong sạch nên mới đựng nước cam lộ được, mà nước cam lộ là tượng trưng cho định, khi nước đó thấm đến đâu thì thấy nhẹ nhàng an lạc đến đó. Nhưng Lão Quân ngăn lại để Ngài ra tay. Thái Thượng Lão Quân là chỉ cho vị thầy đã thấu suốt được tâm chân thật, còn vòng kim cương cũng có tên là khuôn kim cương, là bảo bối ông dùng để chỉ cho phương tiện.

    Cũng vậy, hành giả muốn cho tâm vượn không còn lăng xăng để thể nhận tâm chân thật thì phải vượt qua cái phương tiện mà vị thầy đã đưa ra (hành động hoặc lời dạy). Nếu nhảy không khỏi thì biết chưa nhận thấy, nên trong thiền môn có những thuật ngữ như: “Nuốt hạt có gai, nhảy qua vòng kim cương” là để nói lên việc thấu suốt những cơ ngữ hay công án nhà thiền. Như trong Ngũ Đăng Hội Nguyên quyển 15 ngài Dương Kỳ hỏi tăng: “Gai góc làm sao nuốt được, vòng kim cương làm sao thấu qua?”.

    Ở đây Ngô Thừa Ân mượn thuật ngữ này để đem vào truyện. Vòng kim cương tượng trưng cho một công án do vị thầy đưa ra, khi hành giả tham đến tột sẽ vỡ công án, coi như ngộ đạo hay gọi là nhảy qua vòng kim cương. Vì Tề Thiên Đại Thánh chỉ lo giao chiến nên không nhảy qua khỏi vòng kim cương do Lão Quân ném xuống. Ý nói hành giả không miên mật với công phu vì tâm còn vọng động chưa thuần nhất.

    Tiếp đến, khi Tề Thiên Đại Thánh bị bắt giải về Trời hành quyết đủ cách mà không chết, Thái Thượng Lão Quân nhận lãnh về bỏ vào lò Bát quái dùng lửa đốt cho chết. Nguyên trong lò có tám quẻ: Kiền, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Tề Thiên Đại Thánh nằm ở cung Tốn, mà Tốn là gió, có gió thì không có lửa nên không chết, nhưng vì lửa lò nóng làm hai mắt đỏ, sau gọi là mắt lửa con ngươi vàng.

    Rồi đúng 49 ngày Lão Quân mở lò lấy thuốc coi Tề Thiên Đại Thánh thành tro than chưa. Lò vừa mở miệng, Tề Thiên Đại Thánh hé mắt thấy ánh sáng nhịn không được cất mình nhảy đạp đổ cả lò chạy ra ngoài, bao nhiêu binh tướng nhà Trời không làm gì được. Thượng đế đành phải sai người đi cầu viện Phật Tổ. Phật đến dùng kế bắt Tề Thiên Đại Thánh. Ngài nói: “Nếu ngươi nhảy qua khỏi bàn tay của ta thì cho ngươi tùy ý, còn nhảy không khỏi thì từ đây về sau đừng quấy rầy Thiên đình nữa”. Tề Thiên Đại Thánh đồng ý và dùng hết sức nhảy thật mạnh đến cuối chân trời, thấy năm cây cột màu đỏ sẫm, có ánh sáng xanh xanh thì nghĩ đến đây là cùng đường. Thế là Tề Thiên Đại Thánh nhổ một sợi lông biến thành cây bút đẫm mực, viết hàng chữ to vào cột: “Tề Thiên Đại Thánh đã đến đây chơi một lần”. Viết xong rồi thâu lông lại, do không cẩn thận làm rơi một giọt nước tiểu dưới cây cột. Tề Thiên Đại Thánh liền trở về chỗ cũ và nói: “Ta về đây hãy bảo Thượng đế nhường ngôi lại cho ta”. Như Lai mắng “Ngươi chưa ra khỏi bàn tay của ta, vì ta thấy thứ nước tiểu của ngươi trong tay đây”. Tề Thiên Đại Thánh không tin và nghĩ rằng mình có làm dấu nên nói: “Ông có dám cùng ta đi xem không?”. Phật Tổ nói: “Không cần đi, ngươi thử cúi đầu xuống đây xem”. Tề Thiên Đại Thánh cúi xem thấy ở ngón tay giữa của Phật Tổ có mấy chữ “Tề Thiên Đại Thánh đã đến đây chơi một lần” và ngửi có mùi nước tiểu loài khỉ. Tề Thiên Đại Thánh nghi quá không lẽ cái cột giữa trời lại là ngón tay của Phật Tổ? Tề Thiên Đại Thánh không tin bèn nói: “Đợi ta đi một lần nữa đã!”. Tề Thiên Đại Thánh vừa cất mình nhảy lên liền bị Phật Tổ úp bàn tay của Ngài lại hóa thành năm ngọn núi đè không nhúc nhích (hồi 7).

    Đây nói phải ra sức công phu hành trì cho những vọng niệm dừng lặng thì mới có thể nhận ra tâm chân thật hay gọi là kiến tánh. Tuy có nhiều phương pháp nhưng phải chọn một để ứng dụng cho tâm vượn không còn lăng xăng. Nên Ngô Thừa Ân mượn đoạn thơ này nói đến điều đó.

    Ngăn ngừa tâm ý hai bên

    Phải kìm hãm lại lọ tìm ở đâu

    Quy vào một lý nhiệm mầu

    Như Lai cũng bạn rừng sâu tu hành.

    Người hành đạo muốn cho tâm vượn không còn vọng động trước ngoại cảnh cám dỗ, phải tạo phương tiện tìm nơi vắng vẻ để hạ thủ công phu. Việc này giống như các vị sư nhập thất tịnh tu ở một nơi biệt lập (Tề Thiên Đại Thánh bị bỏ vào trong lò), rồi thực hành phương pháp nào đó của Phật dạy phù hợp thích nghi với căn cơ của mình mới có thể đạt kết quả (như Tề Thiên Đại Thánh trốn ở cung Tốn). Bởi vì tu thì trong bốn oai nghi - đi, đứng, nằm, ngồi đều tu, nhưng tạo phương tiện yên tĩnh vắng vẻ thì dễ điều phục tâm khỉ vượn hơn. Vì không tiếp xúc ngoại duyên tâm vượn dễ lắng động yên tịnh mới có thể nhận ra tâm chân thật chính mình. Nên trong kinh nói: “Dừng tâm một chỗ không việc gì chẳng xong”. Ở đây giống như trong kinh Pháp Hoa phẩm Hiện Bảo Tháp, Phật Thích Ca nói với chúng hội là Phật Đa Bảo có lời nguyện rằng: “Nơi nào có chúng hội nghe kinh Pháp Hoa thì tháp Ngài sẽ hiện giữa hư không nơi ấy. Nếu Phật giảng kinh thời đó muốn cho bốn chúng thấy thân của Ngài thì các hóa thân của Phật đang thuyết pháp giáo hóa khắp mười phương phải tụ hội về một chỗ, thân Ngài mới hiện ra cho hội chúng thấy”. Nghe Phật nói thế, cả đại chúng đều yêu cầu Phật Thích Ca họp các hóa thân của Ngài về để chúng chiêm ngưỡng và được thấy Phật Đa Bảo trong tháp. Do yêu cầu của chúng hội Phật Thích Ca từ giữa chặn mày phóng ra luồng hào quang sáng cả mười phương. Các hóa Phật đang giáo hóa khắp mười phương, khi thấy hào quang của Phật Thích Ca chiếu đến liền biết Phật muốn mình trở về nên các hóa thân Phật đồng rủ nhau về. Khi vô số hóa thân Phật quy tụ về thì cõi Ta bà đều thanh tịnh, không còn các loài: Trời, Người, A Tu La, Súc-sanh, Ngạ Quỷ, Địa Ngục. Các hóa Phật đã an trụ nơi các tòa báu xong và đồng muốn xem Phật Đa Bảo. Phật Thích Ca liền đứng dậy mở cửa tháp cho đại chúng xem Phật Đa Bảo toàn thân không rã đang chánh thiền định. Phật Đa Bảo tán thán Phật Thích Ca nói kinh Pháp Hoa, rồi chia nửa tòa mời cùng ngồi với Ngài.

    Lược dẫn một đoạn kinh ta thấy có nói đến ba Đức Phật. Như trong kinh thường nói Phật có ba thân “Pháp thân, Báo thân, Hóa thân”. Ở đây nói Phật Đa Bảo là chỉ cho Phật pháp thân.

    Pháp thân là cái thể bất sanh bất diệt xưa nay luôn hằng hữu, nhưng vì chúng ta quên lửng chỉ sống với tâm vọng động nên bị ẩn khuất. Nếu muốn thể nhận pháp thân thì tâm vọng động quy tụ về một chỗ - tức an định mới thể nhận được, giống như Phật Đa Bảo đã vào Niết bàn rồi mà khi nơi nào có giảng kinh Pháp Hoa thì Ngài thị hiện đến để nghe kinh, và vì đại chúng mà nguyện những lời như văn trên. Vì kinh Pháp Hoa là kinh nói về Khai Thị chỉ cho chúng sinh Ngộ và Nhập Phật Tri Kiến (Pháp thân).

    Phật báo thân chỉ cho tâm thanh tịnh không vướng mắc lìa chấp hai bên có không, phải quấy, tà chánh, dứt sạch nhị nguyên đối đãi là ý chỉ cho Phật Thích Ca.

    Phật hóa thân là từ pháp thân khởi niệm. Phật thì khởi niệm phân thân (Phật hóa thân) để giáo hóa chúng sinh, còn chúng sinh do không sống được với Pháp thân nên khi khởi niệm toàn là niệm trần tục do tham, sân, si chủ động, mà có vô số phiền não. Muốn thấy Phật pháp thân thì những vọng tưởng (hóa thân) chạy khắp mười phương phải dừng lại trở về tụ hội nơi rỗng lặng - không còn dính mắc ái chấp các pháp (các Phật hóa thân trở về nơi Phật Thích Ca) thì mới thể nhận được Phật pháp thân (thấy Phật Đa Bảo). Nhưng muốn dừng mọi vọng tưởng để không còn chạy đây chạy kia nữa, trước hết phải có trí tuệ thấy lẽ thật các pháp do duyên hợp không thực thể, không tự tánh, bởi nếu các pháp có tự tánh thì đâu cần đợi duyên hội hợp. Có thế mới không bám trụ vào muôn pháp vì biết tất cả đều do thức biến hiện, chúng có như huyễn như hóa. Được như thế là trí không còn kẹt trên đối đãi gọi là bình đẳng tánh trí (Phật báo thân). Cho nên trong kinh tượng trưng bằng hình ảnh Phật Thích Ca phóng hào quang giữa chặn mày là nói lên khi đã có trí tuệ thì sẽ có cái thấy bình đẳng trên các pháp, ngay khi ấy mọi vọng tưởng đều trở về nơi rỗng lặng thì tâm thanh tịnh an nhiên tự tại bất biến hiện bày (thể nhận ra Phật pháp thân). Do đó trong kinh nói lúc vô số hóa thân Phật quy tụ về thì cõi Ta bà thanh tịnh không còn có các loài Trời cho đến Địa Ngục là vậy.

    Kế nữa, Phật Thích Ca được Phật Đa Bảo chia cho nửa tòa ngồi là cho thấy Pháp thân đã có sẵn ở mỗi người. Nếu tất cả vọng tưởng trở về nơi rỗng lặng thì dễ dàng nhận ngay nơi báo thân thất đại có pháp thân sáng suốt thanh tịnh. Khi đã trở về với pháp thân thì thân thất đại trở thành thân bảy báu (tháp bảy báu), nên nhìn nơi nào cũng đẹp, thấy nơi nào cũng thanh tịnh sáng suốt giống như là bảy báu vậy.

    Ở đây Ngô Thừa Ân sắp đặt Tề Thiên Đại Thánh (Ngộ Không) nằm ở cung Tốn là ý nói mượn phương pháp theo hơi thở để điều phục tâm. Khi thở ra tâm duyên theo hơi thở ra, khi thở vào tâm duyên theo hơi thở vào, để tâm ý nương vào hơi thở nên không còn nhớ nghĩ duyên theo chuyện khác, đến khi nào chỉ thấy hơi thở ra, hơi thở vào mà không còn niệm nào khác thì mới thuần thục. Đến rốt cùng tâm trụ nơi hơi thở cũng phải dứt bỏ luôn. Được một thời gian thấy tâm vượn lăng xăng là tạm bợ giả dối, chợt mất dối sanh, mới biết nó không phải mình. Còn Ngộ Không nhảy ra khỏi lò, các binh tướng nhà trời không ngăn cản nổi là ý nói khi dùng một phương pháp để dừng tâm, lòng tạm an ổn nhẹ nhàng. Còn lúc hé mắt thấy ánh sáng là nói khi tâm vượn đã dừng lặng thì có cái nhìn khác hơn thế gian nên cảm thấy không bị ngoại cảnh ràng buộc, tức là có trí tuệ. Vì khi tâm đã an định thì trí tuệ phát sanh, nhưng cũng tùy theo định sâu cạn mà trí tuệ được rốt ráo hay có chừng mực.

    Tuy tạm dùng phương tiện tâm tạm an ổn nhưng chưa nhận ra một cái gì đó vượt ngoài năm uẩn này, nên trong truyện Ngộ Không bị năm ngọn núi do Phật Tổ hóa ra đè là vậy. Trong nhà thiền có câu: “Tuyệt hậu tái tô”, nghĩa là phải một phen chết đi rồi sống lại thì mới tương ưng. CHẾT là VỌNG LẶNG. SỐNG là NHẬN RA Tâm chân thật hằng hữu bất biến nơi mình mà từ lâu quên lãng. Vì thế Ngộ Không bị năm ngọn núi đè giống như chết (ý thức không còn lăng xăng) mà chưa sống lại.

    Ở đây cho thấy tại sao mắt của Ngộ Không là mắt đỏ con ngươi vàng khác hơn người thế gian? Vì Ngộ Không đã một phen nung luyện mà có đôi mắt khác hơn người thường; cũng như người hành đạo tâm được an định sẽ có cái nhìn khác hơn thế tục, nên nói đi ngược dòng sinh tử. Để nói tâm ý đã chuyển hóa thấy đúng lẽ thật các pháp, phân biệt rốt ráo đâu là chân là ngụy, chánh với tà không còn lầm lẫn nữa.

    Mặc dù tâm đã vắng lặng, nhưng nếu chưa nhận ra tánh sáng suốt linh hoạt thì giống như trong nhà thiền nói là “đầu sào trăm trượng” hay “nước chết không chứa được rồng”, phải một phen nhảy qua mới đến cứu cánh, chỗ này kinh Pháp Hoa nói là Hóa Thành chứ chưa đến Bảo sở. Trong thiền sử có câu chuyện nói ý này.

    Ngài Pháp Đăng hỏi một thiền khách:

    - Đầu sào trăm trượng làm sao tiến được?

    Thiền khách trả lời: “Câm”.

    Ngài cứ khán câu đó mãi trong ba năm. Một hôm Ngài cưỡi ngựa đi qua cầu ván, ván mục ngựa sụp chân té nhào quăng Ngài rơi xuống cầu. Vừa rơi xuống Ngài liền ngộ, nói bài kệ:

    Ta có một viên minh châu

    Đã lâu bị bụi vùi sâu

    Hôm nay bụi sạch sáng sanh

    Soi thấu núi sông vạn cảnh.

    Cho thấy ngài Pháp Đăng miên mật trong công phu xuyên suốt ba năm nên thức tình đã dừng mới có cơ hội nhận ra Tâm chân thật mà thốt lên bài kệ trên. Hoặc giả trong nhà thiền, các thiền tăng đi hành cước hay hỏi: “Thế nào là Phật”. Các thiền sư hay đáp: “Ba cân gai. - Nước chảy ở cao nguyên. - Lưng dài chân ngắn v.v.”. Các Ngài đáp thế có lạc đề người hỏi không? Đó là các Ngài thật nhiệt tình chỉ dạy cho người. Nếu hành giả nào công phu đã chín muồi thì ngay đó liền thể nhận, còn chưa thì bị đuổi ra hay bị hét, bị đánh. Nên truyện nói Tề Thiên Đại Thánh đâu có nhảy qua bàn tay của Phật Tổ là ý này vậy.

    Bởi chúng ta sống trong suy tính nghĩ tưởng quen rồi, khi hỏi là muốn được giải thích rõ ràng cặn kẽ để hiểu biết, chớ đáp như thế thì đâu có nhận biết chi! Các Ngài không giải thích mà đáp như thế là chỉ cho hành giả đừng nghĩ tưởng lăng xăng nữa, vì thức máy động là đã cách xa như trời với vực rồi. Cốt yếu các Ngài làm cho đương sự bặt hết tình thức mà nhận ra cái gì đó, không ngoài sự đánh thức chúng ta chuyển mê khai ngộ. Nếu các Ngài giải đáp rành rẽ thì đó là cái ở ngoài của người khác, chớ không phải chính mình. Cái của mình thì phải nhìn lại mình mới thật nhận ra. Đó là thuật của thiền sư. 

    Cũng như chuyện ngài Đức Sơn. Một hôm, sư đứng hầu thiền sư Sùng Tín. Sùng Tín bảo: “Đêm khuya sao chẳng xuống?”. Sư kính chào bước ra rồi lại trở vào thưa: “Dạ bên ngoài tối đen!”. Sùng Tín thắp đèn (lồng) đưa cho sư. Sư toan tiếp lấy, ngài Sùng Tín liền thổi tắt. Ngay đó sư đại ngộ lễ bái. Ngài Sùng Tín hỏi: “Ngươi thấy cái gì?”. Sư thưa: “Từ nay về sau chẳng còn nghi lời nói chư lão Hoà thượng trong thiên hạ”.

    Đây cho thấy ngài Đức Sơn nói tối đen tức là nói tâm con mê tối, nhờ thầy cho con tỏ ngộ sáng ra. Ngài Sùng Tín biết nên đốt đèn trao cho liền thổi tắt, ngài Đức Sơn ngay đó ngộ được ý của thầy chỉ, mới rỏ ra rằng tối, sáng là việc do duyên bên ngoài, đủ duyên (điều kiện) thì sáng hết duyên thì tối, vậy còn AI rõ biết được tối và sáng đó! Biết đưa tay nhận đèn là AI vậy? Cho nên cái rõ biết luôn hiện tiền, chỉ bặt dứt hết thức tình tự cảm nhận lấy. Mình tối thì phải xoay lại chính mình mới thể nhận được, nếu thầy có trao hay chỉ dạy đó là việc của ông thầy chứ không phải ở chính mình (thầy đưa cái sáng là cái sáng của thầy). Cho nên những cái mình vay mượn ở kinh sách, nơi thầy bạn là cái bên ngoài không làm cho mình an ổn giải thoát mà trong kinh nói là trí hữu sư. Còn  nhận ra cái từ trong lòng mình lưu xuất thì mới thật sự an lạc tự tại làm chủ sinh tử, nên nói là trí vô sư (trí không có thầy). Ví như mình nghe thầy bạn giảng dạy một đoạn kinh mà chưa rõ được lý lẽ, bỗng hôm nào đó đột nhiên tự thấu rõ không còn nghi ngờ thì đó mới là cái của chính mình tự ngộ hiểu chớ không phải do thầy bạn mà hiểu. Khi ngài Đức Sơn ngộ thì từ đó mới là cái sáng của chính Ngài, nên Ngài nói từ đây về sau không còn nghi lời nói các lão Hòa thượng nữa. Vì các Hòa thượng cũng chỉ dạy làm cho mình bặt hết tình thức để tự nhận ra một cái gì đó sẵn hằng hữu nơi mình chớ không có dạy khác. Các Ngài dùng phương tiện chỉ cho ta lột sạch những chấp giữ đã thâu thập vào ký ức, dù đó là lời của Phật, Tổ nói dạy và cả các khái niệm về giác ngộ giải thoát. Có như thế mới thể nhận cái rõ biết rỗng lặng xưa nay chưa từng sanh diệt, chưa từng dao động.

    Tiếp đến đoạn “Ngộ Không bị Phật Tổ hóa bàn tay thành năm ngọn núi đè và dán lá bùa trên đỉnh nên không nhúc nhích gì được. Lại khi đói Phật bảo Thần giữ núi cho ăn hòn sắt nóng, khát cho uống nước đồng sôi (h.7)”.

    Đọc truyện ta thấy Ngộ Không chỉ cần nhảy một Cân Đẩu Vân là qua được mười muôn tám ngàn dặm, thế mà tại sao không nhảy qua khỏi bàn tay của Phật Tổ? Thử nghiệm xem bàn tay Phật tổ hình dáng bao lớn mà Ngộ Không nhảy không khỏi? Vả lại, cũng không phải Phật Tổ dùng thần thông để thi thố với Ngộ Không. Nếu cho rằng Phật Tổ có hình tướng thì không thế nào hiểu nổi. Phật Tổ đây chính là Phật tâm của mỗi người sẵn có mà trong kinh thường gọi những danh từ nào là: Chân tâm, Phật tánh, Như Lai v.v... để diễn đạt cái trạng thái tâm rỗng lặng thanh tịnh trùm khắp. Và diễn đạt Ngộ Không là ý thức đã dừng lặng không còn lăng xăng, là chừng mực giới hạn so với tâm rỗng lặng sáng suốt.

    Ngộ Không nhảy không khỏi bàn tay của Phật Tổ vì còn thấy có chân trời, còn thấy có điểm tựa để đánh dấu, và Ngộ Không tưởng mình đến chỗ đó là cuối cùng của chân trời. Ý nói rằng, ý thức đã dừng nhưng chưa thấy thực thể năm uẩn là không vì còn có chỗ tựa, tức còn kẹt pháp. Cũng như vị A La Hán khi ý thức dừng, tâm đã an định nhưng chưa thể nhận ra cái linh tri trong suốt ở ngay thân năm uẩn này.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Nếu nói ý thức dừng là đạo thì chưa phải. Trong Duy thức có nói năm trường hợp ý thức không sanh như sau:

    1- Ngủ mê không chiêm bao.

    2- Người chết giả (bất tỉnh).

    3- Ở cõi trời Vô tưởng (cõi trời thuần không có tư tưởng).

    4- Nhập định Vô tưởng (do tu định diệt trừ tưởng thì vô tưởng được sanh ra, không còn biết cảm giác tất cả ngoại cảnh, do sợ khổ đau mà  trụ định này).

    5- Nhập định Diệt tận (lắng sâu vào định vô tưởng, dứt hết các thọ và tưởng tâm được vắng lặng).

    Nếu cho ý thức dừng lặng là đạo thì người có một trong năm trường hợp trên là đạo rồi ! Nhưng thật sự không phải là đạo. Vì vậy, khi ý thức dừng lặng chớ dừng trụ, phải biết vươn lên vượt khỏi nơi ấy, vì đó không phải là chỗ sống, hành giả hãy vượt qua mà thể nhận cái sáng suốt trong lặng (đạo), đừng chết chìm nơi ấy. Vả lại, nếu đến trạng thái đó mà còn thấy có ta đến và có chỗ để đến tức là cái chướng đối với đạo (sở tri chướng). Cũng giống như Tề Thiên Đại Thánh nhảy đến cuối chân trời và còn làm dấu nói Ta đã đến đây chơi một lần vậy. Vì thấy có chỗ trụ tức còn kẹt Pháp, thấy có ta trụ tức là còn Ngã. Ngã Pháp còn thì không thể nào vào Diệu giác. Thế nên nói là Tề Thiên Đại Thánh nhảy không qua khỏi bàn tay của Phật Tổ vậy.

    Còn lá bùa gì mà linh nghiệm thế? Lá bùa này là bùa thọ mạng (cái chân thật) của mỗi người chúng ta, chớ không phải lá bùa chỉ có sáu chữ “Úm Ma Ni Bát Mê Hồng”.

    Đọc truyện ta còn thấy có chi tiết là “…đói cho ăn hòn sắt nóng, khát cho uống nước đồng sôi…”, làm sao ăn, làm sao uống cho được?

    Hình như từ đầu đến cuối truyện Ngô Thừa Ân đều dùng những chuyện dí dỏm là để ngụ ngôn, ngụ ý nói lên những nghĩa huyền diệu mà thật khó hiểu.

    Như trong nhà thiền có thuật ngữ: “Nuốt hạt (trái) có gai”. Hạt giống như hạt thì làm sao ai nuốt cho được? Bởi vì từ này chỉ cho công án hay cơ ngữ nhà thiền, nếu hành giả nào tham thấu suốt sẽ ngộ đạo. Đây ý nói việc khó làm, nếu ai làm được sẽ là người xuất chúng.

    Ngộ Không đói ăn hòn sắt nóng, khát uống nước đồng sôi giống như người nuốt được hạt có gai vậy. Khi ăn được sắt nóng, uống nước đồng sôi rồi, nhân duyên đã chín muồi liền được Đường Tam Tạng đến gỡ lá bùa và Ngộ Không vươn mình một cái năm ngọn núi liền tan biến.

    Đây giống như dồn ép cho hành giả tự thể nhận lấy chớ vị thầy không thể nào chỉ bày hay làm giúp được. Như thiền sư Trí Nhàn, một hôm ngài Qui Sơn hỏi: “Ta nghe ngươi ở chỗ Bá Trượng hỏi một đáp mười, hỏi mười đáp trăm, đó là thông minh lanh lợi, ý hiểu thức tưởng là cội gốc sanh tử. Giờ thử nói một câu khi cha mẹ chưa sanh xem?”. Sư bị hỏi một câu liền mờ mịt không đáp được. Trở về liêu soạn hết sách vở đã học qua tìm một câu đáp cũng không có. Sư than: “Bánh vẽ chẳng no bụng đói”. Đến cầu xin ngài Qui Sơn nói phá. Qui Sơn bảo: “Nếu ta nói cho ngươi về sau ngươi sẽ chửi ta, ta nói là việc của ta đâu can hệ gì đến ngươi !”

    Sư bèn đem những sách vở đã thu thập được đồng thời đốt hết nói: “Đời này chẳng học Phật pháp nữa, chỉ làm tăng thường lo việc cơm cháo, khỏi nhọc tâm thần”. Sư khóc từ biệt Qui Sơn ra đi đến Nam Dương trụ lại đây. Một hôm nhơn cuốc cỏ trên núi, lượm hòn đá ném trúng cây tre vang tiếng. Sư chợt tỉnh ngộ phá lên cười, liền trở về tắm gội thắp hương nhắm hướng Qui Sơn đảnh lễ, ca tụng rằng: “Hòa thượng từ bi ơn như cha mẹ, khi trước nếu vì con nói thì làm gì có ngày nay”.

    Cho nên khi hỏi đến chỗ này các vị thầy không đáp mà chỉ nói đông, nói tây hay dùng những thủ thuật dồn hành giả vào ngõ cụt, để hành giả tự thầm ngộ, hay gọi là nhận ra ông Phật chính mình.

    Khi tâm đã hết vọng động lăng xăng rồi đừng tự mãn mà phải vượt qua để thầm nhận ra cái linh tri sáng suốt. Vì thế khi ngài Huệ Năng canh ba vào thất Ngũ Tổ được nghe giảng kinh Kim Cang đến câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Ngài liền nhận cái linh tri bất động mà thốt lên năm chỗ đâu ngờ thì mới rốt ráo, chớ lúc Ngài làm bài kệ:

    Bồ đề vốn không cây

    Gương sáng cũng chẳng đài

    Xưa nay không một vật

    Chỗ nào dính bụi bặm?

    Là chỉ mới hết vọng động giống như tới đầu sào (mới bước vào cửa), đến khi Ngài thốt lên năm chỗ đâu ngờ đó mới là lúc nhảy qua khỏi đầu sào trăm trượng.

    Lá bùa này (cái chân thật) là thọ mạng của chúng ta do vì lâu đời lâu kiếp lãng quên nên bị trôi lăn trong ba nẻo, sáu đường. Nhưng chỉ có Đường Tăng (tạng thức đã chuyển hóa) mới gỡ được (thể nhận) chớ không ai khác, mà đạo bùa đó do Phật Tổ dán. Một khi đạo bùa được gỡ rồi thì thật là:

    Không gian lắng đọng

    Thời gian ngừng lại

    Trời đất một màu

    Tâm biến thân tan

    Tịch lặng rỡ ràng

    An nhiên thênh thang 

    Có sạch trọi trơn

    Mới bày trơ trơ.

    Cái gì đây !

    Ngọc biếc xưa nay vốn sáng tròn

    Lung linh huyền diệu khắp nơi nơi

    Người người sẵn có đâu thiếu thốn

    Khéo biết luôn dùng sống thích nhàn.

    Khi hành giả đã thể nhận lại cái linh tri bất động ngay thân năm uẩn mà từ lâu bị lãng quên do tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, chấp ngã... che lấp, đôi lúc các Ngài lại có những hành động lạ thường, như ngài Hoài Hải thì khóc, ngài Lâm Tế thì đánh v.v... Tại sao các Ngài có những hành động lạ thường như vậy? Tạm nói là các Ngài đã cảm nhận một trạng thái bình an sáng suốt ngay thân năm uẩn này. Nếu có ai hỏi được cái gì mà làm thế, hay trạng thái đó như thế nào? Các Ngài không thể mở lời diễn tả được, nên có Ngài ngậm miệng không nói, Ngài thì hét, Ngài lại đánh hoặc có Ngài từ bi hơn nói một câu chẳng dính dáng như: “Mây tan trăng hiện”. Tại sao vậy? Vì cái chân thật không thể dùng ngôn ngữ trình bày cho người thấy hay biết rõ ràng được, mà chỉ tạm dùng những phương tiện trên cho đương sự có khái niệm để tự cảm nhận thôi. Nếu giảng trạch rõ ràng thì đương sự sanh hiểu biết trên ngôn ngữ không chịu nhìn lại chính mình để thể nhận. Có câu chuyện nói ý này:

    Rùa và Cá là bạn với nhau. Một hôm Rùa lên bờ đi dạo chơi thấy cảnh đẹp quá, nào là khóm trúc, bụi hoa, nào là đất cày, đồi núi v.v... nên say mê ngắm cảnh đến chiều mới về. Hôm sau gặp Cá. Cá liền hỏi: “Anh Rùa, hôm qua anh đi đâu cả buổi mà không thấy?” Rùa đáp: “Tôi đi lên bờ thấy cảnh đẹp quá, nào là...”. Rùa kể một hơi. Cá lại hỏi: “Vậy chớ khóm trúc, đất cày có giống đám rong và mấy cây san hô này không?” Cá hỏi gì Rùa đáp cũng không phải. Cá mới nói: “Vậy là anh nói dối, tôi không tin”. Rùa nói: “Chỉ khi nào anh lên trên đó thì mới thấy lời tôi nói là đúng, anh chỉ nghe nói thôi thì không thể biết được cảnh trên ấy đâu !”.

    Vì vậy, người chưa ở trạng thái ấy dù có chỉ bày diễn tả cho họ thì họ cũng không thể biết được, chỉ khi nào họ đang trong trạng thái đó thì mới thông cảm. Nên nói: “uống nước nóng lạnh tự biết” là vậy.

    Bởi vì chúng ta mê lầm quên lửng cái chân thật, mà chẳng biết nó đang gá ngay thân năm uẩn này chớ không ở đâu xa. Đó là lá bùa trên đầu núi Ngũ Hành. Đây ta hãy xem thiền sư ni Liễu Nhiên có làm bài kệ nói ý này:

    Trên đầu núi năm uẩn là ngôi nhà Phật xưa.

    Phật pháp thân đêm ngày hằng phóng hào quang ra sáu cửa.

    Nếu người khéo ở nơi đây không khởi tâm phân biệt.

    Tức là Hoa Nghiêm (Pháp thân) khắp cả mười phương.         

    Khi thể nhận cái chân thật rồi ngay lúc đó năm uẩn liền hóa tán, nghĩa là lúc đó tâm đã vượt ra khỏi phạm vi của căn và thức, ngay khi ấy thật là an lạc tự tại. Tổ Bá Trượng có nói: “Linh quang chói sáng vượt khỏi căn trần, thể bày chân thường không cuộc văn tự, tâm tánh không nhiễm vốn tự nhiên thành, chỉ lìa vọng duyên tức như như Phật”. Được như vậy thì ý thức sẽ chuyển hóa không bị mê lầm nữa và từ đó bắt đầu khởi tu, mới có niềm tin chân thật nơi lời Phật, Tổ, vì đã được chứng nghiệm, rồi từ đó sẽ vững lòng tiến bước trên đường hành đạo. Lúc thể nhận tâm chân thật rồi mới biết mình không phải là năm uẩn, mà lại không rời thân năm uẩn này. Cho nên phải một phen thấy năm uẩn hóa tán thì giống như Ngộ Không rùng mình một cái núi Ngũ Hành liền ngã đổ, sau đó Ngộ Không mới phũ phục cầu Đường Tăng làm thầy và hộ tống trên đường thỉnh kinh, tức là chọn cái giác ngộ (kiến tánh) làm thầy trên đường hành đạo.

    Sau khi đã nhận ra tâm chân thật và sống được ít hay nhiều gì thì ta cũng thấy rõ những tập nghiệp từ đâu phát xuất, nên không bận lòng lo sợ và không hòa nhập theo vì thấy được tận gốc của nó.

    Xin nói một thí dụ cho dễ hiểu để biết được tập nghiệp của mình. Như một hôm nào đó, chúng ta có dịp đến nơi xa lạ, bất thình lình gặp người quen thân, ý liền mống khởi về người ấy là có niệm, mở miệng gọi tức là khẩu động, nếu người không nghe thì thân đi lại, tay bắt mặt mừng hoặc hỏi thăm chuyện, đó là thân động. Khi chưa gặp người thân quen thì ta an nhiên sáng suốt thấy tất cả người và cảnh vật mà tâm không khởi động. Rồi lúc thấy người quen lại khởi niệm kêu gọi hoặc nói chuyện v.v... thì đó là thói quen của ba nghiệp khó bình thản như nhiên được. Hoặc là khi trực diện tiếp xúc một trong sáu trần mà mình có niệm cảm thích thì đó chính là tập nghiệp sẵn có ở tiềm thức.

    Cũng vậy, lúc chưa gặp những cảnh đúng với nghiệp tập (thói quen) ta thấy, biết rõ ràng mà lòng vẫn rỗng lặng an nhiên. Nhưng khi trực diện trần cảnh hợp với thói quen, nếu không tỉnh giác thì ý thân khẩu tác động đồng hóa hòa vào những cảnh đó, nên bị chúng dẫn đi hết niệm này đến niệm nọ. Lát sau sực tỉnh, nhìn lại thấy hồi nãy rỗng rang không động niệm, bây giờ lại có, mới biết mình hướng ngoại quên đi nguồn chân rỗng lặng. Thành thử chỗ này có người hỏi ngài Lâm Tế: “Khi giặc đến nhà thì sao?” Ngài đáp: “Biết chẳng phải oan gia”. Giặc đây là chỉ cho vọng động hay vọng tưởng đến thì sao? Ngài nói biết nó không hòa hợp lao theo thì nó chẳng phải là thù oán. Hay Ngài nói: “Đã khởi niệm rồi chớ nối tiếp, chưa khởi niệm thì chẳng nên khởi, còn quý hơn mười năm hành cước”.

    Có người đòi hỏi tu phải cho mau hết vọng nên dùng mọi phương pháp đè nén, ức chế để nó yên. Khi có dụng công thì thấy có kết quả, còn hơi lơ là nó bật khởi mạnh hơn, do đó tu một thời gian dễ bị đau đầu hay bụng lình bình ăn không tiêu, do kiềm nén ức chế nên máu lên đầu nhiều, bao tử làm việc yếu. Vì vậy đừng mong cầu cho mau hết vọng niệm, chỉ cần rõ lẽ thật nó là hư dối đừng ái chấp, chỉ luôn tỉnh giác thì sẽ không bị lôi dẫn. Nếu có tâm mong cầu tức là khởi nhân bằng lòng tham để tu thì không thể nào đạt được kết quả giải thoát, mà giải thoát cứu cánh là trong đó không còn bóng dáng của tham, sân, si. Quan trọng là phải nhận ra nơi mình có cái sáng suốt an định không sinh diệt, và thấy cái nào vọng động dối sinh, chợt mất thì không đồng hóa theo, từ từ chúng lặng dần, chợt phút giây nào đó ý niệm lăng xăng mất dạng thì tâm thanh tịnh sáng suốt  hiện bày.

    Thấy được lẽ thật rồi thì ý thức sẽ chuyển hóa sáng suốt hơn trước đó, giống như con khỉ Tôn Ngộ Không lúc này đã thay đổi hẳn. Thay vì trước đó kết bè bạn với sáu anh em Ma vương làm những việc long trời lở đất, như náo loạn từ Long cung, quậy phá chốn U minh chí đến Thiên đình thành nổi danh với tên gọi Tề Thiên Đại Thánh. Nay lại giác ngộ sáng suốt thấy rõ đâu là tà ma quỷ quái, đâu là Bồ Tát, Phật hộ trì mấy thầy trò trên đường thỉnh kinh. Cho nên từ khi Ngộ Không ra khỏi núi theo Đường Tăng đến Tây phương thỉnh kinh thì Ngộ Không là người đi trước để dẫn đường mở lối.

    Ngộ Không lúc này như thoải mái lắm, dù bị yêu ma bắt vẫn tìm cách thoát ra chớ không sợ chết. Nếu đánh yêu tinh không thắng thì truy tìm gốc gác rồi cũng qua. Vì vậy Đường Tăng đổi tên Tôn Ngộ Không là Tôn Hành Giả.

    Đây chỉ mới nhận ra cái nhân Phật chứ chưa đến quả Phật. Đã nhận cái nhân Phật thì thấy lẽ thật các pháp không bị lầm lẫn nữa, giống như con khỉ được mắt lửa con ngươi vàng thấy ma là ma (tà), Phật là Phật (chánh) rõ ràng, y như lời ngài Lâm Tế nói: “Phàm là người hành đạo phải phân biệt cho được kiến giải chân chánh bình thường, phân biệt được Phật, ma, chân, ngụy, phàm, thánh. Nếu biện được như thế mới đáng gọi là người chân thật xuất gia”.

    Khi được như thế rồi người xưa vào núi ẩn tu gọi là nuôi dưỡng thánh thai (dưỡng cái nhân Phật), đến khi nào thuần thục thì mới ra giáo hóa, như ngài Huệ Trung ở Trung Hoa vào núi ẩn hơn bốn mươi năm mới ra giáo hóa. Hoặc có Ngài ở trong chúng như ngài Triệu Châu phải mất ba mươi năm mới thành một khối. Hay là ngài Lâm Tế sống tùy theo duyên, nên Ngài nói: “Tùy duyên tiêu nghiệp cũ. Hồn nhiên mặc áo xiêm”.

    Tùy theo duyên nghiệp dầy mỏng cùng sự hành đạo riêng của mỗi người nên thấy cách sống và thời gian nhanh hoặc chậm khác nhau ở mỗi vị, nhưng vẫn chung mục đích tiến đến chứng ngộ. Tuy nhiên trên đường hành đạo còn gặp nhiều chướng ngại ở nội tâm và ngoại cảnh do huân tập nhiều đời kiếp thành tập nghiệp chi phối ngăn trở, nhưng vẫn quyết an nhiên giữ vững ý chí dũng mãnh tiến bước.

    Một khi đã nhận ra nhân Phật rồi thì từ đây mới khởi công hành đạo, nghĩa là đi đúng đường đến quả Phật. Trong kinh Pháp Hoa nói: “Khai, Thị, Ngộ, Nhập Phật tri kiến”, thì từ trước tới đây chỉ mới Khai, Thị và Ngộ, còn Nhập phải do huân tu sạch hết tập nghiệp quá khứ, luôn sống trọn vẹn với cái mình đã ngộ. Nên nói tu mà xem như không thấy tu gì hết, không tu mà tu rất kỹ. Vì luôn luôn nhìn lại mình thấy tận gốc rễ phát xuất của từng tâm niệm, liền chuyển hóa nó, giống như dập tắt ngay từ khi mới thấy ngún khói chứ đừng để phát lửa cháy lan ra rồi mới chữa thì thật là tốn công, vì vậy trong lúc tu thấy rất nhẹ nhàng. Tuy rằng còn niệm nhưng thấy nó như huyễn như hóa, chợt còn, chợt mất không đồng hóa hòa nhập theo thế là niệm tự dừng. Ví như lúc còn bé ta chơi trò đuổi bắt, nếu người bắt cứ đuổi thì người chạy cứ chạy mãi, nếu người đuổi đứng lại thì người chạy cũng dừng theo. Cũng vậy, sóng niệm dừng thì biển tâm lặng, ý lắng lặng thì sanh tử dứt. Còn như chưa hết niệm nhưng làm chủ được niệm thì sẽ không bị nghiệp lôi dẫn. Bởi vì còn niệm là còn nghiệp, nên chuyển hóa nó về chỗ lặng lẽ, khi bỏ thân này sẽ có lực tỉnh sáng lựa chọn nơi nào hợp duyên để tái sanh tiếp tục việc tu hành đến ngày viên mãn.

    Vì thế, các vị thiền sư khi đã thể nhận ra cái chân thật và sống được hoặc ít, hoặc nhiều thì các Ngài cũng xem việc sanh tử như mộng huyễn không thật có, giống như ngài Từ Minh nói: “Sanh như đắp chăn đông, tử như cởi áo hạ”. Vì các Ngài thấy những vọng niệm không thực thể và cuộc đời này là huyễn vọng nên không có gì chướng ngại, như thiền sư Đạo Giai nói: “Muốn biết khi chết được tự tại hay không tự tại, chỉ xem hiện tiền tự do hay chẳng tự do”. Hơn nữa, khi đã rõ bổn tâm, thấu bản tánh muôn pháp thì các Ngài vì nhân loại mà phát bi nguyện thị hiện trở lại cõi ô trược để tế độ họ ra khỏi bể khổ. Các Ngài thì như thế, còn chúng ta thì sao? Nếu hằng ngày không chịu huân tập ứng dụng theo nhân giác ngộ an lạc giải thoát thì khi bỏ thân này làm gì được tự tại thảnh thơi mà ra đi? Điều này mỗi người phải quan tâm để khỏi phải khổ lụy sau này.

    Lúc chưa giác ngộ, ý thức chúng ta chỉ huân tập (xông ướp chứa nhóm) những việc mê mờ nên phân biệt so đo được, mất, phải, quấy v.v… do tham, sân, si chủ động qua thân khẩu ý thành nghiệp lực che lấp trí tuệ. Nhưng khi đã thức tỉnh giác ngộ rõ lẽ thật thì cải tà qui chánh, tránh ác hành thiện, giúp đỡ nhân sinh bằng mọi hình thức tuỳ theo khả năng hiện có, làm một cách hồn nhiên vô tư bất vụ lợi. Nói cách khác là ý thức huân tập thân khẩu ý đều Chân,Thiện, Mỹ hợp với Chân như bản tánh.

    Tuy đã có trí tuệ nhưng phải luôn luôn sáng suốt nhận định lẽ thật các pháp để không bị dính mắc, nếu lơ là xem thường những tập nghiệp cũ thì sẽ bị chúng lôi dẫn. Giả như khi rảnh rỗi nằm nghỉ hay tọa thiền, bất chợt thường nhớ tưởng về một trong năm dục (không ngoài tham, sân, si) thì biết ta có chủng nghiệp đó nặng. Hoặc giả trước đây ta thuộc bản nhạc nào đó, vì bỏ lâu nên không nhớ, rồi một hôm đi đâu đó bỗng nghe được bản nhạc ấy thì liền nhớ lại, nếu không định tâm sẽ hòa hát thầm theo. Đó là tập nghiệp nhỏ, từ đây ta suy ra các tập nghiệp khác cũng thế. Việc này hãy nhìn lại lòng mình sẽ rõ, đôi khi ngồi thiền hoặc ngồi chơi có một vài phút không vọng niệm, lúc đó cảm thấy nhẹ nhàng an ổn thảnh thơi, nhưng khi duyên đến những trần cảnh bên ngoài gợi lại thì tập nghiệp chợt phát khởi, liền thấy rõ chúng đừng đồng hóa hòa hợp, hãy để chúng tự đến tự đi chớ có lưu luyến. Nếu thiếu tỉnh giác và tịnh tâm, chúng sẽ lừa lôi ta đi hết niệm này tới niệm khác. Thế nên Cổ đức nói:

    Đốn ngộ tuy đồng Phật

    Nhiều đời tập khí sâu

    Gió dừng sóng vẫn vỗ

    Lý hiện niệm còn xâm.

    Và ngài Trần Tôn Túc cũng nói: “Việc lớn chưa sáng như đưa ma mẹ, việc lớn đã sáng như đưa ma mẹ”. Nghĩa là khi chưa giải ngộ (kiến tánh) phải hết sức nghiên cứu tham vấn, tu hành cho giải ngộ, khi đã giải ngộ rồi phải nỗ lực tinh tiến loại bỏ những tập nghiệp cho sạch trong để được chứng ngộ. Thiền sư Hân ở Dũng Tuyền tuy đã ngộ rồi vẫn còn nói: “Ta 49 năm ở chỗ này còn có tẩu tác (tâm còn những niệm nhỏ nhiệm), bọn các ông chớ mở miệng to...”. Cho nên có trí tuệ phải có định thì giới đã kèm theo.

    Chúng ta đừng giống như những đứa bé mới tập học chữ cứ tô đi, tô lại mẩu chữ, càng tô thì nét chữ càng đậm to thêm, mẩu chữ viết sẵn cho đứa bé tập viết tô theo chẳng khác nào là những tập nghiệp (thói quen) vậy. Người thật hành đạo thì hãy để tập nghiệp phai dần theo thời gian công phu, chứ đừng khơi nhớ lại làm đậm nét thêm khó mà dứt được. Nếu có làm đậm thêm thì hãy làm đậm sâu sự định tĩnh sáng suốt để tham, sân, si phai dần đến mất dạng, đó là việc cần làm hằng phút, hằng giờ chớ lơi lỏng. Chừng nào nội tâm sạch những chủng tử cấu nhiễm, đối trước ngoại duyên mà vẫn thản nhiên bình lặng, chừng ấy mới thật sự tự do tự tại. Khi mê thì huân vô minh che khuất Chân tâm; còn lúc tỏ ngộ thì huân Chân tâm - người xưa gọi là trưởng dưỡng thánh thai để vô minh tan sạch.

    Khi Tôn Hành Giả giết sáu đứa giặc bị thầy la mắng, y không chịu nổi bỏ đi. Sau nhờ Long vương khích lệ nên trở lại. Đường Tăng nhớ lại chiếc vòng và bài chú lúc Bồ Tát trao cho, khuyến dụ Tôn Hành Giả đội lên đầu tức thời đọc câu thần chú, chiếc vòng liền xiết chặt vào đầu làm Tôn Hành Giả đau đớn và không gỡ ra được (hồi 14).

    Đây nói chiếc vòng là giới, câu thần chú là định (thần chú đọc mà không biết nghĩa lý của nó, ý nói không cho suy nghĩ để hiểu nên tượng trưng cho định). Còn Tôn Hành Giả là Tuệ. Tuệ, giới, định có cả ba trên đường hành đạo. Nếu không có giới và định thì dễ làm theo bản năng nghiệp lực sẽ không được bình an. Cho nên ở hồi 15, khi Bồ Tát đến khe Ưng Sầu để bắt con rồng bị đọa hóa làm con Long Mã trả cho Đường Tăng, thì Tôn Hành Giả làm nũng nói với Bồ Tát rằng: “Bồ Tát đã thương cứu mạng thì thương cho trót cớ sao lại đưa cho Đường Tăng một cái mũ hoa, lừa cho tôi đội lên đầu, rồi dạy cho Đường Tăng niệm chú “Khẩn cô nhi” đọc đi đọc lại làm cho đầu tôi đau ê ẩm thật là khổ sở thì không phải hại tôi là gì?”. Bồ Tát cười nói: “Mầy rõ đồ khỉ ! Không theo lời dạy bảo, không chịu chính quả. Nếu không làm như thế để câu thúc, mầy lại lừa trên dối trời thì còn tốt gì ! Mầy lại gây ra tai vạ như trước, lấy ai mà cai quản thu phục mầy? Phải có cách trị mầy như thế thì mầy mới chịu theo đường lối Du già (thiền định) !”.

    Do Tôn Hành Giả bướng bỉnh không nghe lời liền bị Đường Tăng đọc bài chú làm đau đầu nên phải nghe theo. Song lúc đến Linh Sơn gặp Phật thỉnh kinh, Tôn Hành Giả liền nói với Đường Tăng nhờ Phật gỡ giùm cái vòng trên đầu thì lúc đó cái vòng đã biến mất. Bởi vì có tâm buông lung tạo tội nên phải có tâm giữ giới để ngăn ngừa không cho phạm lỗi lầm, nhưng khi đã sống trọn vẹn với tâm chân thật rồi thì giới cũng bằng thừa, vì đâu còn tác ý tạo lỗi lầm nữa mà giữ giới, nên nói nó mất. Song khi đã sống trọn vẹn với cái không dính mắc thì giới, định và tuệ cũng chẳng lập, khi đã giác ngộ thì từ đây về sau trên đường hành đạo rất là phóng khoáng, một mạch thẳng tiến đến ngày hạnh quả tròn đầy. Đây là giai đoạn chân tu, dùng tuệ giác dẫn đạo cho sự tu hành.

    Tôn Ngộ Không rất lanh lợi, khi còn u tối mê lầm thì mưu mô xảo quyệt, dối trên gạt dưới, kết bè đảng với Ma vương làm những điều, hung ác. Nhưng lúc tôn Đường Tăng làm sư phụ thì chuyển hóa thành những khéo léo khôn ngoan, túc trí đa dụng diệt trừ ma quái để đưa Đường Tăng đến Tây Thiên thỉnh kinh.

    Cũng vậy, lúc chưa giác ngộ sống theo bản năng chúng sinh nên tính toán suy lường đủ cách để đem quyền lợi về cho bản ngã này mà chẳng nghĩ lợi hại gì đến ai và hậu quả về sau. Nhưng khi đã giác ngộ, ý thức chuyển hoá thì có công năng sáng suốt khéo léo dẹp trừ mọi ích kỷ hẹp hòi của bản năng tự ngã, phá tiêu thành trì tham sân si và san bằng tất cả đối đãi để tiến đến an vui giải thoát. Trước sau ý thức chỉ là một, còn làm lợi hay hại, công hay tội là do tác dụng của ý thức khi còn mê lầm hay lúc đã giác ngộ, giống như một bàn tay úp là mê mà ngửa là ngộ vậy. Được cái thấy như thế rồi thì chỉ một bàn tay chớ không có úp hay ngửa gì cả. Trong kinh có câu nói lên diệu dụng của ý thức thế này: “Công vi thủ, tội vi khôi”. Nghĩa là công của nó đứng đầu, mà tội cũng là số một. Ta thấy tại sao Ngô Thừa Ân lại đặt tên Ngộ Không mà không đặt tên khác? Vì khi giác ngộ ý thức chuyển hóa nên sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà ý thức không tham gia hòa hợp thì căn là căn, trần là trần, cái nào ra cái nấy. Ví như, thấy trước mắt một chậu hoa là căn trần tiếp xúc mà chưa khởi niệm chậu hoa này đẹp hay xấu, hoa này là hoa gì…, chỉ thấy vậy biết vậy. Ta đừng gán cho sự vật một danh từ nào và cũng không thêm, không bớt gì trong cái thấy biết đó, nên nói ngay SẮC TỨC KHÔNG. Vì chậu hoa là chậu hoa, còn ta nhìn thì chỉ nhìn thấy biết rõ ràng thức không khởi động, ngay lúc đó thấy chậu hoa mà cũng như không thấy, nhưng chậu hoa vẫn hiện hữu. Nếu nhìn tất cả sự vật với cái rõ biết trong lặng không máy động như thế nói là KHÔNG, nhưng có phải thật không có các sự vật chăng? Đâu phải là không có gì ! Mà trước mặt muôn vật hiện bày rõ ràng. Ngay nơi cái Rõ Biết chưa khởi niệm nhưng sắc vẫn hiện hữu mà nói là KHÔNG TỨC SẮC. Cho nên nói KHÔNG mà không loại bỏ các sự vật, cũng không phải là không ngơ, không trơn. Không đây tức là tâm rỗng lặng, nên khi nhìn mọi sự vật thì mọi sự vật cũng đều rỗng lặng. Thế mới phù hợp câu “Chư pháp tùng bản lai, thường tự tịch diệt tướng” (Các pháp từ xưa đến nay, tướng thường tự vắng lặng), hay như câu trong kinh Duy Ma Cật nói: “Tâm tịnh thì quốc độ tịnh”.

    Nếu thấy các pháp từ Không do duyên hợp có, duyên tan thành Không, đó là còn thấy các pháp trên mặt sinh diệt vô thường huyễn có, huyễn không chớ chưa thấy như bài kệ:

    Tất cả pháp không sanh

    Tất cả pháp không diệt

    Nếu ai thấy như thế

    Chư Phật thường hiện tiền.

    Nói về trí tuệ thì có nhiều hạn như: Thấy các pháp vô thường; các pháp do nhân duyên sinh; các pháp có như huyễn. Cả ba cái thấy này là trí tuệ còn chừng mực chưa rốt ráo, mà thấy rốt ráo là phải thấy các pháp đều rỗng lặng tịch tịnh. Vì bài kinh Bát Nhã là bài kinh nói về trí tuệ cứu kính, tức nói về Tâm nên gọi là Tâm Kinh.

    Có giai thoại nói về ý này:

    Một hôm Tu Bồ Đề ngồi thiền trong động đá Kỳ Xà Quật nhập Không Tam muội, công hạnh ấy làm cảm động đến Chư Thiên, nhiều vị Trời xuất hiện rải hoa cúng dường và chắp tay đảnh lễ. Hoa trời rơi làm kinh động, Tu Bồ Đề xuất định hỏi:

    - Các ông là ai? Vì sao đến đây mưa hoa và đảnh lễ ta?

    - Chúng tôi là Chư Thiên cõi Đế Thích, bởi kính trọng Ngài nhập Không Tam muội, khéo thuyết Bát Nhã, nên xuống đảnh lễ khen ngợi cúng dường.

    - Tôi chưa từng nói một chữ Bát Nhã cớ sao các ông khen ngợi?

    - Ngài không nói, chúng tôi không nghe. Không nói, không nghe là chân Bát Nhã.

    Tu Bồ Đề nghe xong mỉm cười khen ngợi chư  thiên..... (Thập Đại đệ tử truyện).

    Qua sự đối đáp câu chuyện trên ta thấy Bát Nhã chính là Chân tâm thường hằng sáng suốt rỗng lặng, tức là tâm không dính mắc vào muôn sự muôn vật. Nhận biết mọi sự vật hiện tượng thực tại bằng trực giác không qua trung gian suy luận phân biệt nhị nguyên, đó là cái thấy, cái biết như thật mà Đức Phật gọi là: “Như thị Tri, như thị Kiến”. Hay trong Kinh nói: “Bát Nhã vô Tri, vô sở bất Tri”, nghĩa là Bát Nhã thì không biết, nhưng không chỗ nào là chẳng biết. Bởi tâm rỗng lặng an nhiên thì nhìn nơi nào cũng rỗng lặng, dù nơi đó có ồn náo như bến xe,  phố thị cũng vẫn thản nhiên bình lặng, như vậy mới hợp với câu “Chân như bình đẳng”. Chân như nghĩa là như như bất động trước muôn sự muôn vật, nên Tổ sư nói: “Người chỉ nơi tâm vô sự, ở nơi sự vô tâm thì tự nhiên rỗng mà mầu, tịnh mà diệu. Đấy là yếu chỉ của Tâm vậy”. Vậy thì, thấy các pháp là KHÔNG khi cái hằng biết luôn hiện diện nhưng không vọng động. Đó là nói Sắc - Không khi ta đối diện trần cảnh.

    Tế nhị hơn nữa là phần nội tâm, khi vọng niệm khởi tức là Sắc, mà vọng niệm từ rỗng lặng bất chợt phát sinh nên nó chẳng thật có (do vậy nói là Không). Và khi vọng niệm dừng là trở về (tạm nói) nơi rỗng lặng nên nói là “Sắc tức Không”. Rồi từ tâm rỗng lặng phát sanh muôn vàn diệu dụng ra sáu căn (đi đứng, nói năng v.v… trong sinh hoạt) nên nói là “Không tức Sắc”. Vậy thì, Không đây là tâm rỗng lặng bất động tức “Chân Không”. Sắc tức là diệu hữu từ chân không lưu xuất. Chân không thì bất biến; diệu hữu là tùy duyên. Nếu rõ lý này thì tuy bất biến mà tùy duyên, nhưng khi tùy duyên mà bất biến. Thế thì Sắc - Không chẳng phải một, chẳng phải khác, vốn đồng nguồn tâm mà thôi. Vả lại, các pháp vốn tự trong lặng không có ràng buộc gì đến chúng ta. Ví như khi ta nhìn các pháp với cái nhìn thản nhiên, rõ biết tất cả mà không vướng mắc ái nhiễm thì mọi sự vật hiện diện luôn an tịnh, với cái nhìn đó thì giữa mình và các pháp cả hai đều là vắng lặng, ngay khi ấy không có chủ thể và đối tượng, dứt sạch năng sở, chính lúc đó là Niết bàn hiện tại. Vì vậy Ngô Thừa Ân chọn con khỉ làm họ Tôn và đặt tên Ngộ Không. Tôn tức là Tông - chỉ cho Tâm; Ngộ Không tức là ngộ được cái KHÔNG chân thật (chân không) rồi chuyển hóa làm hành giả để đi đến quả Phật. Nên đây nói ngộ rồi khởi tu mới không sợ lầm lạc. Cho nên kinh nói: “Dĩ tâm vi tông, dĩ vô môn vi pháp môn”. (Lấy tâm làm tông, lấy cửa không làm cửa pháp).

    Nếu chưa được như thế thì phải học hỏi để có trí (trí hữu sư) thấy lẽ thật các pháp là KHÔNG. Ví như bàn tay, khi co lại thành nắm tay, cho nên nắm tay có là do hội đủ năm ngón co lại, chứ nắm tay không có cái thể thực. Vì sao? Vì khi năm ngón tách rời riêng rẽ thì nắm tay không có. Vả lại, nếu phân tích thêm thì từng ngón tay cũng do hội đủ các yếu tố mới thành hình gồm: da, thịt, gân, xương v.v..., nếu phân tích đến cuối cùng của nắm tay thì nó chỉ là giả danh để tạm gọi, chứ thực sự không có nắm tay thật. Như vậy khi nhìn nắm tay biết bản chất của nó không tự thể mà nói là KHÔNG chứ không phải không nắm tay. Không ở đây chẳng phải không có gì hết, mà không là tánh của các pháp vốn Không, cái Không đó dù các pháp đang hiện diện cũng vẫn là Không. Không ở đây có nghĩa là không trường tồn, không thực thể, không tự tánh, chớ chẳng phải diệt mất thành trống không (không đối với có). Nếu các pháp có tự tánh thì tự nó sanh ra chứ khỏi phải đợi duyên (các yếu tố, điều kiện) hội hợp. Còn nếu có thực thể, trường tồn thì không bao giờ hoại diệt; song bản chất chúng vốn không thật, không thường hằng mà luôn biến chuyển thay đổi. Chúng có là do duyên hợp huyễn sanh, không là vì duyên tan huyễn diệt. Hễ là các pháp thì chúng từ cái thế đối đãi mà hiện ra, chúng ở trong cái luật tương sanh tương diệt lẫn nhau, như sắc thì đối với không, thương đối với ghét v.v… Cho đến, hễ có pháp tướng thì lẽ tự nhiên có pháp tánh đối lại, pháp này nương pháp kia mà lập, pháp kia nương pháp này mà hiện hữu. Nếu một tướng có thì cả hai đều có. Ngược lại, nếu một tướng không thì cả hai đều không. Bất luận là thế pháp hay pháp xuất thế cũng vậy, nếu còn trong vòng tương đãi đều là huyễn có, là không, dù đó là Niết bàn (cũng là pháp) đi nữa thảy đều do vọng niệm dấy khởi mà thấy có, thấy không. Nếu rời vọng niệm ra thì chẳng có pháp nào đáng gọi là có là không là huyễn cả. Thế thì do có tâm bám chấp mà có Ngã Pháp, lìa vọng niệm phân biệt thì Ngã Pháp đều không, song cái không đó cũng không chấp luôn mới không kẹt vào đối đãi. Thế mới không bị tất cả pháp trói buộc (do tâm không dính mắc), lâu ngày thuần thục thì trí vô sư sẽ hiển hiện. Tóm lại cái không ở đây nói là khi sắc pháp chưa hình thành vốn đã không, mà ngay sắc pháp hiện hữu vẫn là không (vì sắc nương nơi không mà có nên nó không tự tánh) chỉ có trên giả danh, và khi gặp duyên tan thì trở về bản vị trước đó; cho thấy sắc pháp cả ba thời thảy đều không. Vậy thì cái Không của sắc pháp (tánh không) là cái sẵn có chứ chẳng phải đợi hoại diệt mới nói là không. Do đó Phật nói:

                  Các pháp do duyên sanh

                            Ta nói tức là không

                 Cũng gọi là giả danh

                 Cũng gọi nghĩa trung đạo.

    Cho nên đòi hỏi phải có sự huân tu, nghĩa là phải biết huân cái thấy biết đó lâu dài thì mới thành tựu.

    Từ khi con khỉ đá gặp lũ khỉ được tôn là Mỹ Hầu vương, sau học đạo lên  Thiên đình náo loạn có tên là Bật Mã Ôn và Tề Thiên Đại Thánh. Sau đó bị Phật Tổ hóa năm ngọn núi đè và được duyên gặp Bồ Tát Quán Thế Âm khuyến hóa mới nhận là Tôn Ngộ Không, sau được Đường Tăng cứu, thu phục làm đệ tử đặt pháp hiệu là Tôn Hành Giả, chỉ cho ý thức từ một phàm phu chuyển hóa thành thánh nhân. Đến chỗ rốt ráo của Phật pháp là chuyển hóa ý thức trở thành Trí tuệ Bát Nhã chớ chẳng phải diệt mất ý thức giống như cây đá không biết chi.

    Ở đây dứt phần ý thức từ khi biết thức tỉnh đến giác ngộ thể nhận ra cái chân thật. Từ đây về sau sẽ nói công hạnh để đạt chứng nhập, nhưng phải trải qua gian nan trở ngại vì những tập nghiệp đã huân từ lâu chi phối cản trở bước tiến trong lúc hành đạo (ma ngăn đường chặn lối). Khi nói xong phần tiến trình sự chứng nhập sẽ nói tiếp từng nhân vật chính.

    Song vì sắp xếp theo đề mục ngoại chướng và nội chướng, tuy có hồi ở sau lại trùng ý các mục nhỏ trong phần ngoại hay nội chướng nên cũng đem ra trước để ghép vào, vì vậy thấy không có thứ lớp theo chương hồi ở hai mục này. Xin nói phần ngoại chướng trước.

     

  • 8. Ngoại chướng

    NGOẠI CHƯỚNG

             

            Ngoại chướng là những cảnh duyên bên ngoài quyến rũ làm cản trở bước tiến trên đường hành đạo mà trong nhà Phật gọi là Ngũ dục - tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ; có chỗ nói là: Sắc, tài, danh, lợi, tình; đó là nói 5 dục thô, còn nói tinh tế hơn là năm trần cảnh - sắc, thinh, hương, vị, xúc, hoặc là bị bát phong thổi. Ngũ dục được rõ nét nhất qua ở hồi  54 - 55 như sau:

    Mấy thầy trò đi ngang qua Tây Lương Nữ  Quốc, dừng chân vào xin đóng dấu ấn trong văn điệp thông hành để tiếp tục hành trình đến Tây Trúc.  Nước này toàn là người nữ rất đẹp, khi gặp phái nam nhất là thấy Đường Tăng tướng mạo phương phi họ nhìn không biết chán, reo mừng vui vẻ tươi cười vây chặt mấy thầy trò không lối đi.

    Ba đệ tử Đường Tăng thấy thế đưa những hình dung xấu xí ra để mở lối, nhất là Trư Bát Giới làm cho đám con gái hoảng sợ ngã lăn tránh đường. Sau đó họ báo đến vua. Nữ vương ra diện kiến gặp Đường Tăng liền say mê muốn kết duyên bắt ép làm vua nước họ và để có giống truyền nối. Bát Giới khi thấy Nữ vương thì nhìn mê mệt rỏ dãi. Cho nên nói “Trai mê gái sắc. Gái đắm hình trai” thật chẳng ngoa vậy. Còn Đường Tăng thì bối rối sợ quýnh không biết xử trí thế nào, nhưng may nhờ có Tôn Hành Giả khôn khéo nên tương kế tựu kế bàn nói với Đường Tăng phải chịu hành lễ cưới cùng Nữ vương thì họ mới đóng dấu giấy thông hành, có thế mới thoát nạn được. Đường Tăng chấp thuận theo kế của Tôn Hành Giả.

    Khi đóng dấu ấn xong, Đường Tăng giả đò nói với Nữ vương là đưa tiễn các đệ tử đến biên giới rồi sẽ trở về cùng Nữ vương vui loan phượng được. Mọi người nghe đều cho là hợp lý.

    Nữ vương không biết là mưu mẹo nên truyền lịnh xa giá cùng Đường Tăng đến biên giới. Đường Tăng xuống xe, rồi mấy thầy trò xin bái biệt, chừng ấy Nữ vương mới biết mình lầm kế.

    Sa Tăng bảo vệ Đường Tăng lên ngựa, còn Tôn Hành Giả định làm phép “định thân” giữ đám phụ nữ lại thì chợt có người con gái (yêu tinh hóa ra) ở mé đường ra đón, biến làm cơn gió lốc cuốn bắt Đường Tăng mất tích. Thật là: “Vừa thoát lưới yêu hoa, lại gặp ma trăng gió”.

    Yêu tinh bắt Đường Tăng về động khuyến dụ ép giao hoan, nhưng Đường Tăng một mực định thần mong các đệ tử đến cứu. Yêu tinh giở trò đủ cách mà Đường Tăng không động lòng.

    Yêu tinh tức giận trói Đường Tăng giam lại. Sau đó các đệ tử đến cứu, nhưng đánh không lại nó. Tôn Hành Giả đến gặp Bồ Tát Quan Âm, Bồ Tát chỉ lên Đông Thiên đến cung Quang Minh thỉnh Mão Nhật Tinh Quân mới hàng phục được nó.

    Khi yêu tinh gặp Tinh Quân thì nó hiện nguyên bản tướng là con Rết tu thành tinh ngã lăn ra chết. Tôn Hành Giả đến động cứu Đường Tăng ra.

    Ở hồi Tây Lương Nữ Quốc là hình ảnh tượng trưng cho ngũ dục đang dàn trải quyến rũ chúng ta trong cuộc sống; còn Đường Tăng là cái kho dung chứa tất cả chủng tử thiện ác, vậy thì chủng tử ái dục không sao tránh khỏi là phần chắc. Cho nên người hành đạo nếu không có trí tuệ sáng suốt nhận định lẽ thật về chúng thì sẽ dễ bị chúng trói chân vấp ngã. Nhân vật Mão Nhật Tinh Quân ở cung Quang Minh là hình ảnh tượng trưng cho trí tuệ sáng suốt hiện hữu. Nếu trí tuệ hiện hữu thì niệm ái dục (yêu tinh) liền tan hoại, giống như mặt trời (Tinh Quân – vua ánh sáng) lên cao khoảng bảy giờ sáng (Mão Nhật) tỏa chiếu ánh sáng (Quang Minh) thì bóng đêm u tối _ tâm trí mê mờ (yêu tinh) không còn nữa.

    Tuy nói chướng chứ ngoại cảnh là cảnh đâu có ràng buộc gì đến mình, nhưng từ lâu chúng ta sống theo bản năng thường tình nên lúc năm căn tiếp xúc với năm trần ái nhiễm đắm mắc, bị ngoại cảnh xoay chuyển thành thói quen đành phải lệ thuộc nó. Hay có thể nói đúng hơn là chúng ta nhìn mọi sự vật bằng nghiệp cảm nên mỗi người hay mỗi loài có cái nhìn sai biệt.  Ví như những món sơn hào hải vị ở thế gian chúng ta cho là ngon bổ quý giá, nhưng ở cõi trời nhìn thấy là nhơ nhớp, hay những gì trong thân ta bỏ ra mà có loài cho là thức ăn ngon, hoặc thấy người nào đó hợp nhãn vừa ý cho là đẹp, là tốt, dễ thương, còn người khác nhìn không hợp, không vừa ý cho là xấu, là không thích khó ưa. Nhưng đối với người trí như Phật và Bồ Tát thì sắc thân nào cũng là một đãy da hôi thối. Cũng một đối tượng mà do nhìn bằng nghiệp cảm hay trí tuệ nên thấy có khác hẳn một trời một vực.

    Thật vậy, thân thể này dù có đẹp mấy đi nữa mà một, hai ngày không vệ sinh tắm rửa thì thật nhơ nhớp đáng gớm do thập khiếu thải ra (hai lỗ tai, hai lỗ ở mắt, hai lỗ mũi, một lỗ miệng, một lỗ tiêu, một lỗ tiểu và lỗ chân lông thải mồ hôi). Thế mà có người lại cho là đẹp, là dễ thương, tại do nhìn bằng nghiệp cảm nên không thấy được lẽ thật của nó. Con người tham đắm dính mắc năm trần vì không biết chúng là những ảo cảnh do tâm hiện, lại mê lầm mờ mắt tâm khiến chúng ta say đắm chìm ngấm vào dòng nước xoáy đó khó thoát ra được. Vả lại, không biết nó là những cạm bẫy lừa gạt bởi những cái hào nhoáng bên ngoài, và cũng do lòng còn tham, sân, si nên lầm lẫn lún sâu vào vũng bùn của dục lạc.

    Năm trần không phải chỉ đến với chúng ta từng cái một mà có thể chúng đến cùng một lúc. Ví như, khi ta vào nhà hàng cao cấp thấy các chiêu đãi viên có dung mạo sắc diện đẹp đẽ (sắc); miệng nói những lời trong trẻo êm ái, dịu dàng lịch sự mời khách (thanh); mùi thơm nước hoa toát ra từ người chiêu đãi (hương); họ đang phục vụ các món cao lương mĩ vị cho mình thưởng thức (vị); nếu gặp phải chiêu đãi viên nào có tình ý thì họ tỏ lộ những cử chỉ cợt nhả lả lơi như đụng chạm để gợi cảm (xúc). Hoặc giả khi có việc ta đi xe hay tàu gặp người khác phái đón xe để đi cùng chuyến, khi họ lên xe thì chỉ còn một chỗ duy nhất gần ta nên liền đến đó ngồi. Họ có dáng mạo khôi ngô, sắc diện đẹp đẽ (sắc); trước khi ngồi họ lịch sự nở nụ cười mong thông cảm, nói lời dịu dàng trong trẻo (thanh); họ xức nước hoa mùi thơm dễ chịu (hương); và ngồi sát bên mình (xúc). Nếu như năm sự việc đó đều đến cùng một lúc thì thử hỏi người hành đạo phải thấy thế nào để tâm không vọng động? Nếu nói quán nó là không thì làm sao thấy không đây? Nếu ta thấy nó là thật có thì không làm sao quán nó không cho được. Bởi thấy có đối tượng (năm trần) thật là Nhân thì mình là chủ thể thấy đối tượng đó là Ngã; nếu có Ngã thật và Nhân thật thì có tất cả việc xảy ra là Chúng sinh (liếc mắt, mở lời gợi cảm, xúc chạm v.v...); do có những việc đó nên có cảm thọ trên các căn là Thọ giả.

    Ở đây xin nêu ra vài cách để có cái nhìn khác hơn thế tình, nhưng đó cũng chỉ là phương tiện để không bị dính mắc ái nhiễm trên pháp. Khi đối diện với năm trần thấy chỉ thấy; nghe chỉ nghe; rõ biết tất cả sự vật đang hiện bày trước năm căn nhưng tâm thức không máy động thì dù trần cảnh có hiện diện ta vẫn bình thản như nhiên, vẫn thấy, nghe rõ biết tất cả mà cũng như không thấy nghe.... Tất cả trần cảnh có là do thức khởi mà có ra cái này, vật nọ… mới có nhận định lời này hay, tiếng kia tốt v.v… và v.v…, nếu thức không khởi động thì trần cảnh vốn tự vắng lặng. Ngài Bàng Uẫn có làm bài kệ nói ý này:

    Đã tự vô tâm cùng vạn vật

    Ngại gì vạn vật thường quấy nhiễu

    Trâu sắt chẳng sợ sư tử rống

    Tợ như người gỗ xem chim vẽ

    Chim vẽ gặp người (gỗ) cũng chẳng kinh

    Người gỗ thể vốn tự vô tình

    Tâm cảnh như như chỉ thế ấy

    Lo gì đạo Bồ đề chẳng thành.

    Nói khác hơn là đối với các pháp hiện tại như thế nào thì hãy thấy như thế ấy chứ có mó máy động đậy.

    Nếu chưa có cái nhìn như thế thì phải thấy đối tượng do nhiều yếu tố hợp lại mới thành hình, bản chất vốn không thực thể cố định. Ví như thân thể có là do da, thịt, gân, xương, máu và hơi thở... ràng rịt thì mới đi đứng hoạt động được. Âm thanh có phát ra là do môi, lưỡi, đóc giọng và hơi từ trong bụng ra cùng với ý nghĩ mới phát ra âm thanh dịu dàng, lời lẽ ngọt ngào v.v…, cho đến các sắc pháp khác cũng vậy. Do có cái nhìn như thế tâm mới không tham đắm ái nhiễm.

    Còn nếu không được như vậy thì khi năm việc đó có đến ta phải ý thức rằng người lớn tuổi hơn ta nhiều nên xem như mẹ ruột; người lớn tuổi hơn chút ít thì xem như chị ruột; nhỏ tuổi hơn xem như em ruột; nếu nhỏ hơn nữa thì xem như con cháu trong nhà. Còn phái nữ phải thấy ngược lại, xem đối tượng như cha, anh, em, con cháu ruột. Có cảm nghĩ như thế thì tâm mới không động niệm vướng mắc trên năm dục, vì xem tất cả người khác phái đều là ruột thịt một nhà.

    Đó là nói đại khái qua vài cách nhìn để hành giả biết chuyển hóa cái thấy trên các pháp khác hơn thế tình. Cũng chỉ là đôi mắt, nếu chúng ta có cách nhìn khác thì mới thấy tất cả đều giả dối, các pháp tuy có mà như huyễn, như mộng vậy. Có thân người thì ai cũng như ai, nhưng nếu có cách nhìn đúng lý chân chính thì khác hơn ở chỗ là đừng vướng mắc sáu trần, cho nên nói thánh, phàm khác nhau là chỗ đó.

    Ngày nay thức tỉnh đi ngược dòng đời nên nói nghịch lại, nhưng phải có trí tuệ sáng suốt hành giả mới vượt qua, bằng không sẽ bị chúng quấy nhiễu và làm cản trở bước tiến trên đường hành đạo. Đây xin nói về sắc dục trước.

     

     

  • 9. Sắc dục

    SẮC DỤC 

     

    thế gian, sắc dục là một thứ dễ làm cho con người say đắm, bởi bề ngoài do trang điểm phục sức, với dáng điệu, cử chỉ khêu gợi và lời lẽ êm ái ngọt ngào làm quyến rũ khiến cho người ta rung động mê mẩn tâm thần mà mềm lòng sa ngã. Nếu không dùng trí tuệ rõ được lẽ thật của sắc dục thì sẽ bị vướng mắc vào chúng. Như ở hồi 23 nói về ý này, xin lược dẫn một đoạn.

    Mấy thầy trò Đường Tăng đến một thôn trang. Trong thôn có người đàn bà góa có ba đứa con gái... Bà gặp mấy thầy trò liền muốn kết đôi cho cả bốn... Đường Tăng nghe kể lể gia sản, nghề nghiệp, sắc đẹp liền sợ rúng người, mắt không dám nhìn lại. Còn Bát Giới nghe ngứa ngáy, đứng ngồi không yên bèn chạy lại sư phụ nói: “Bà đây nói chuyện với sư phụ sao sư phụ làm thinh, phải quan tâm một tý chứ”. Đường Tăng liền mắng Bát Giới: “Chúng ta là người xuất gia há lại để phú quý động lòng, vẻ yêu kiều mê trí, còn làm được gì?”.

    Thế rồi mấy thầy trò không ai chịu, chỉ có Bát Giới động lòng nên giả đò đi chăn ngựa, lén ra nhà sau gặp người đàn bà để bàn việc ở rể ...  Bà nói có ba đứa con  không biết gả đứa nào nên đành làm trò bịt mắt Bát Giới, hễ mò đụng đứa nào thì gả đứa đó... Bát Giới mò hoài không đụng ai mà chỉ đụng vào cột nhà, bàn ghế u đầu chảy máu trán... Rồi bà lấy ba chiếc áo của ba đứa con gái ra cho Bát Giới mặc, nếu mặc vừa của đứa nào sẽ gả cho, Bát Giới mới mặc áo vào thì áo liền hóa thành dây trói gô lại ở một góc....

     

    Đây cho thấy những cái phú quý, vẻ yêu kiều hào nhoáng dễ quyến rũ và hấp dẫn đó làm cho lòng người say đắm không biết được lẽ thật. Nhưng chưa thưởng thức được trọn vẹn mùi vị của nó thì lại u đầu, dập trán và bị trói buộc không được tự do. Nó là sợi dây vô hình, nếu lơ là chủ quan theo bản năng thường tình của thế gian thì sẽ bị nó trói cột từ đời này sang kiếp nọ khó thoát ra được. Là người hành đạo phải có trí tuệ thấy tận bản chất lẽ thật bên trong của nó là một thứ nhơ nhớp hôi thối đáng gớm được định hình bởi sự ràng rịt của gân xương, phũ bên ngoài một lớp da, rồi phục sức trang điểm để che mắt những người mê lầm hay háo sắc. Ở Việt Nam chúng ta có vị vua ngự trên ngôi cửu trùng không thiếu vàng bạc châu báu và nhất là cung phi mỹ nữ… mà ngài lại thức tỉnh có nhận xét đúng đắn thiết thực được ghi lại trong sách sử qua những câu thế này:

    … Đầu sọ khô cài hoa giắt ngọc

    Túi da hôi ướp xạ xông hương

    Cắt lụa là che đậy máu tanh

    Giồi son phấn áp thùng phân thối.

    Sắc dục có những điểm làm cho con người dễ say đắm ái nhiễm, chấp mắc mà trong nhà Phật gọi là lục dục. Tức sáu thứ dễ làm cho con người khởi tâm ham muốn luyến ái với đối tượng khác giới tính. Hơn nữa, không phải chỉ say đắm sắc khác giới, mà con người luôn luôn đắm ái sắc thân mình, nên hay trau chuốt nắn nót từ đầu đến chân và mãi chưng diện bằng mọi cách, hầu làm cho thân này tươi trẻ đẹp xinh để mọi người ngắm nhìn, đó là thói thường của phàm tình.

     Sáu thứ đó là:

    1- Sắc dục: Thấy sắc diện đẹp đẽ tao nhã, khả ái nên sanh lòng tham đắm.

    2- Hình mạo dục: Hình dáng thùy mị đoan trang trắng trẻo, dung mạo duyên dáng mong muốn được gần gũi.

    3- Oai nghi dục: Những cử chỉ hành động đi, đứng, ngồi, nằm cùng những nụ cười, dáng điệu tới, lui đoan nghiêm tề chỉnh mà sanh lòng cảm mến.

    4- Ngôn ngữ âm thanh dục: Những lời nói dịu dàng êm ái, âm thanh trong trẻo ngọt ngào mà sanh lòng thích gần gũi lắng nghe.

    5- Tế hoạt dục: Dáng vẻ nuột nà bóng bẩy xinh xắn, da thịt mịn màng hay cường tráng khoẻ mạnh của thân thể mà sanh lòng đắm mến.

    6- Nhân tướng dục: Đây là nói cái nhân do quá khứ huân tập thâu thập những hình tướng của năm dục trên đem vào tạng thức làm chủng tử, nên khi hiện tại đối diện năm dục trên mà sanh lòng tham đắm dính mắc.

     Bởi do nhìn bằng nghiệp cảm nên khi thấy một trong sáu dục trên thân đối tượng, con người dễ động lòng dính mắc mà dấy lên những ham muốn gần gũi người khác phái. Hơn nữa, trong Kinh Tăng Chi Bộ III, chương 8 có nói tám hình tướng trói buộc với đối tượng khác giới tính như sau: “Nữ nhân trói buộc nam nhân với nhan sắc dung mạo; lời lẽ âm thanh; tiếng hát lời ca; áo quần phục sức; vật tặng; xúc chạm; tiếng cười và thậm chí cả nước mắt”. Tất cả những thứ ấy đều là tác nhân tạo ra hấp lực luyến ái nhau. Ngược lại, nam nhân trói buộc nữ nhân với tám hình tướng tương tự như vậy. Thế nhân biết được những điểm yếu đó của con người nên khi cảm nhận đối tượng có một trong những điều đó thì họ làm cho đối tượng vừa ý hoặc xiêu lòng để họ lợi dụng thực thi theo ý đồ riêng của họ. Còn người hành đạo chân chính do thấu rõ  tám điều trên có thể gây tác hại đến phẩm hạnh nên cần phải dè dặt thận trọng chớ có xem thường mà rơi vào cạm bẫy. Nói sâu xa hơn nữa là sự ham muốn của con người đối với sáu trần qua tư dục riêng, như mắt thì muốn thấy hình sắc đẹp, tai thì thích nghe những lời êm dịu, những âm thanh vui vẻ, nhẹ nhàng...; mũi thì thích ngửi mùi thơm tho trong sạch; lưỡi thì muốn nếm những vị ngon ngọt bổ dưỡng; thân thì muốn xúc chạm êm ái...; ý thì nghĩ tính muốn những điều lợi ích để thỏa mãn năm căn trên. Tóm lại sáu cái ham muốn ấy không ngoài sự cảm thích của sáu căn khi tiếp xúc với sáu trần.

    Đây là nói chung cả nhân loại, bởi vì nó đã có chủng tử ngủ ngầm trong tạng thức ở nhiều đời kiếp rồi nên đời nay khi đến tuổi trưởng thành thì việc đó không ai dạy mà vẫn tự biết, khi gặp duyên thì nó liền sống dậy khởi động rồi kết tạo thêm nhân ái nhiễm tự trói buộc mình. Cho đến các việc khác cũng thế, trong đời không ai dạy mà khi gặp hoàn cảnh môi trường tương ứng với những hiểu biết có sẵn từ trước thì ta liền nhớ và biết. Chẳng hạn như có người thấy hình tượng Phật hay nghe pháp rồi phát tâm tu hành, là do gieo trồng nhân giác ngộ, quy y Tam bảo tu hành từ thuở trước nên nay vừa có duyên gặp lại thì liền nhớ. Cho nên chúng ta phải khéo biết để chuyển hoá những gì không hay, không tốt trở thành cao thượng hơn.

    Cũng có trường hợp không phải đợi đối tượng có sắc đẹp mới được người đeo đẳng thương mến, mà đôi khi đối tượng sắc diện bình thường hay chẳng đẹp đẽ gì cả nhưng vẫn được người lưu tâm để ý; bởi lẽ họ có nhân cách hay một đặc điểm ưu thắng gì đó, như đức hạnh, cần mẫn siêng năng, thể hiện lòng từ với tha nhân, biết vị tha hỷ xả, cảm thông mọi người chung quanh... nên phần đông nhân loại mến thương, do vậy mới có câu “đẹp nết hơn đẹp người”. Hơn nữa, nếu có cái nhìn sâu sắc hơn thì dù đối tượng đó không có ưu điểm gì đặc biệt, lại vẫn có người để lòng cảm mến thì biết đó là do hai người đã có chủng duyên tình cảm từ nhiều đời, nay được duyên đối diện (dù chỉ lần đầu) liền cảm mến như có ma lực thu hút. Thế thì không phải đợi đối tượng có diện mạo đẹp đẽ người ta mới cảm thương. Trái lại, đôi lúc gặp đối tượng có sắc đẹp nhưng họ bộc lộ những hành vi chẳng mấy đàng hoàng, lời lẽ không được êm ái làm cho nhiều người chẳng màng đến, huống nữa là muốn gần gũi thương mến, nên dân gian có câu “cái nết đánh chết cái đẹp” là nói hạng người này.

    Bởi sắc đẹp của thể xác không tồn tại lâu dài mà luôn bị phai tàn theo thời gian, hay có một biến cố nào đó nó sẽ không còn đẹp nữa. Nó như một loài hoa sớm nở chiều tàn do sự vận hành của định luật vô thường làm hoại diệt. Nhưng có một cái đẹp phơi bày trước mắt mọi người mà ít ai biết cảm nhận để tâm trao dồi. Đó là cái đẹp của đức hạnh.

    Đức hạnh là cái đẹp không bị thời gian và không gian làm hao mòn hư hoại, nó luôn bền vững trong cuộc sống hiện tại và tồn tại mãi cho đến vị lai. Nó như loài hoa có hương thơm tỏa rộng bàng bạc trong không gian khiến những người chung quanh có thể cảm nhận được. Nếu người có sắc đẹp về thể xác mà nét đẹp của đức hạnh không có thì đừng tự mãn, họ giống như loài hoa có sắc không hương sẽ chẳng được mọi người ở xa chiếu cố, hãy cố gắng tạo thêm cho mình vẻ đẹp đức hạnh. Còn người khiếm khuyết vẻ đẹp nơi thể xác mà đức hạnh lại vẹn toàn thì giống như loài hoa có hương thiếu sắc, nhưng nhờ hương bay tỏa ra khiến mọi loài ong bướm cảm đến thưởng thức hương vị. Song mùi hương của các loài hoa đều không thể bay ngược gió. Chỉ có mùi hương đức hạnh tuy ngược gió nhưng vẫn bay khắp muôn phương. Cũng vậy, người đức hạnh nhờ có đức tính đó mà được mọi người quí mến tán dương. Cho nên cái đẹp không phải ở sắc diện mà chính nét đẹp của đức hạnh mới gọi là đẹp, nhưng nếu được cả hai thì toàn vẹn vậy.

    Hình ảnh của các vị Bồ Tát là tượng trưng cho đức hạnh, nên ta thấy vị nào cũng có sắc diện đẹp đẽ và vóc dáng trang nghiêm phúc hậu, điển hình là Bồ Tát Quan Âm. Ngài là một hình ảnh tượng trưng cho tâm hồn cao thượng luôn ban vui, cứu khổ cho tất cả chúng sinh. Bởi mỗi vị Bồ Tát có một đức hạnh khác biệt nên vóc dáng và sắc diện của từng vị có vẻ đẹp riêng. Thế thì đức hạnh không thể thiếu ở con người, vì đó là cái đẹp ai cũng tôn trọng quí mến.

    Do đó, chúng ta phải biết chuyển cái nhìn để thấy đúng bản chất mọi sự vật như là Phật và Bồ Tát thấy thì mới không bị nghiệp cảm lôi cuốn. Nếu không như thế thì ít ra cũng phải có chút ít trí tuệ để thấy lẽ thật hành tướng của sắc dục. Sắc thân có là do hội hợp đủ các yếu tố mới thành hình. Nhưng khi thành hình phải vay mượn những vật chất bên ngoài để bồi bổ vào nó mới phát triển nở nang hồng hào, và phải phục sức trang điểm để che giấu những gì xấu xa dơ bẩn thì mới có một vóc dáng, hình hài dễ nhìn như thế. Bản chất sắc thân là nhơ bẩn nên ở thế gian người ta mới có sáng kiến chế phẩm ra các thứ nước hoa, hay xà phòng có hương thơm để cho người sử dụng át đi mùi hôi từ thập khiếu thải ra và để mọi người chung quanh được dễ chịu một chút. Nếu sắc thân vốn đã sạch, thơm thì con người khỏi phải tắm rửa và cũng chẳng cần dùng các thứ nước hoa xông ướp hay xà phòng thơm để tẩy rửa rồi ! Nhưng thật ra là không phải vậy. Dù cho có tô son điểm phấn sắc thân như thế nào đi nữa thì cũng chẳng thể che giấu được bản chất dơ bẩn xấu xa của nó. Nếu có cái nhìn như thế thì ta sẽ không còn ái chấp thân mình và ngoại giới.

    Thực tế ở đời, nếu ai có tâm đam mê sắc dục nhiều thì lại càng khổ nhiều, bởi họ lúc nào cũng luôn luôn tơ tưởng về nó, bị cái hình bóng đó ám ảnh không rời. Nếu họ thương yêu một đối tượng nào mà được đáp ứng lại thì còn cảm thấy phấn khởi đầy sinh khí sống. Bằng ngược lại họ sầu não, buồn chán không còn muốn sống nữa mà thế gian gọi là tình yêu đơn phương. Hoặc họ đang yêu thương một người mà không có điều kiện gần gũi mong được thỏa lòng như ý muốn, nên đầu óc cứ lắng đắng, lơ đễnh mọi việc, tâm trí lúc nào cũng có cảm giác đau khổ dằn vặt, mà người đời thường gọi là bệnh tương tư hay thất tình. Cho nên đối với sắc dục họ chưa có thưởng thức được những gì là vui, là thỏa mãn thì bị một sự đau khổ thầm lặng không ai có thể san sẻ, thay thế hay giải mở cho mà chỉ có họ tự chịu lấy. Cũng giống như Bát Giới chơi trò bịt mắt, mò hoài không đụng vào ai, lại phải bị u đầu, chảy máu trán vậy. Nhưng nếu họ có gần gũi với sắc dục được chút ít thì đã bị nó bó buộc hạn hẹp trong một khuôn khổ không được tự do. Vì vậy, đối với sắc dục, họ chưa được thưởng thức bao nhiêu thì đã bị sợi dây vô hình trói buộc suốt cả một quãng đời và bao kiếp thêm vướng lụy, giống như Bát Giới vừa mặc áo vào liền bị dây trói vào một góc không nhúc nhích được. Điều này mong thế hệ trẻ hãy thân cận với ông bà hoặc cha mẹ mình hỏi thử xem có phải thế không nào? Riêng tôi thì thấy nhan nhản những hiện trạng ấy chung quanh cuộc sống.

    Tài, sắc, danh, lợi, tình là những thứ mà người đời hay đang say đắm, tìm tòi cảm thọ, thiếu những thứ đó người ta cảm thấy thiệt thòi và hết sinh khí sống, do đó họ dùng đủ mọi cách thức mong đạt được các thứ ấy. Nếu người lương thiện thì làm những việc chính nghĩa sòng phẳng, không lợi dụng công sức hoặc chiếm đoạt tài sản của kẻ khác; họ cần mẫn chất phác làm với hai bàn tay và kinh nghiệm sáng tạo ở tài trí để tạo ra những thứ cần dùng cho cuộc sống. Trái lại có người không giống như trên, họ tính toán thủ đoạn, lươn lẹo, dối trá lường gạt hoặc có khi chiếm đoạt của cải kẻ khác đem về làm của riêng cho chính mình, họ không biết gì đến tội lỗi và nhân quả. Trong khi đó những người bị họ gạt lại mất mát đau khổ, vì thế trên thế gian này có đủ chuyện đau lòng.

    Để biết được đôi phần nguyên nhân gây ra đau khổ xin dẫn trong quyển Thập đại đệ tử có câu chuyện như sau. Ngài A Na Luật là một vị đã chứng A La Hán được Thiên nhãn thông đệ nhất, Ngài thấy đến thế giới   Cực lạc và cũng thấy tận mọi hành vi ở chốn Địa Ngục. Vì vậy, Ngài thấy có rất nhiều phụ nữ bị đọa Địa Ngục nên thắc mắc trong lòng. Một hôm, Ngài đến hỏi Phật:

    - “Bạch Thế Tôn, theo con thấy ở thế gian người nữ rất kính tin Tam bảo, nghe lời Phật dạy và con thấy người nữ có lòng nhân từ hơn người nam. Vì cớ sao họ lại bị đọa vào Địa Ngục nhiều như vậy?”.

    Phật đáp: “Này A Na Luật, trong Phật pháp người nữ dễ kính tin và nghe lời đó là sự thật, nhưng họ dễ tạo tội cũng rất nhiều đó là một sự hiển nhiên. Bởi họ có ba thứ tâm ái nhiễm dính mắc nhiều hơn người nam:

    1- Lúc sáng sớm mới thức dậy tâm san tham của người nữ rất nặng, họ mong cầu tất cả tài bảo ở trước mặt đều muốn gom về cho mình.

    2- Đến lúc trưa tâm tật đố ganh tỵ của họ lớn dần nên dễ sanh tâm ngã mạn. Họ cảm thấy rằng mọi người chung quanh đều làm chướng ngại mình.

    3- Đến chiều tối, tâm dâm dục của họ lại bộc phát mạnh, lúc nào cũng mong có người kề vai dựa má bên mình.

    Bởi do phái nữ phần đông có những tâm như trên nên họ rất dễ gây tạo lỗi lầm. Đó là nguyên nhân khiến họ chiêu cảm phạm tội phải đọa Địa Ngục rất nhiều”.

    Những điều vừa nêu trên không chỉ riêng về phái nữ mà ở phái nam nếu có những tâm đó thì cũng đều nhận lãnh hậu quả giống nhau. Nói đây để ai có những tâm ấy hãy nên chỉnh đốn, chuyển hóa đừng để xảy ra điều sai lầm đáng tiếc đó, chớ không phải nói những cái không tốt của người.

    Nếu người nào có tài, danh, sắc trong tay khéo biết sử dụng thì những thứ đó rất cần thiết và hữu ích trong cuộc sống cộng đồng. Vì có mà biết buông xả chia sẻ cho mọi người đó là tu hạnh hỷ xả, tức là ta không tham và mọi người sẽ bớt khổ nên cả hai đều có lợi. Như có tiền tài đem giúp cho người thiếu thốn hoặc bị thiên tai, bệnh tật, cô quả không nơi nương tựa v.v….; hay có địa vị chức phận trong xã hội, khi có người cần đến hãy hết lòng giúp đỡ với khả năng và sở trường của mình hiện có mà không phân biệt thân sơ, giàu nghèo, để người đỡ nhọc công tốn của. Còn người có những thứ đó mà không biết sử dụng vào việc hữu ích, chỉ biết bảo thủ lo cho tư lợi để cảm thọ, thì một thời gian nào đó phước hết sẽ bị khốn khổ đọa lạc không thể tránh khỏi.

    Có điều ở đời, ta thấy những ai có tiền, tài, sắc đẹp và công danh thì người ta dễ gây cảm tình mà sẵn sàng giúp đỡ mọi việc khi đương sự cần đến, nên họ đi đến đâu cũng dễ dàng dành được sự cảm mến, ưu tiên. Bởi nó có một sức mạnh thu hút đối với những người có tư tưởng thực dụng nhìn cuộc đời bằng cái nhìn nghiệp cảm về tài, sắc và danh lợi. Điều này chúng ta chú ý một chút sẽ thấy rõ. Nên biết “tài, sắc, danh, lợi, tình”, những thứ này khi bị vướng vào thì khó mà thoát ra được. Người xưa có nói:

    Áo trần con lỡ mặc vào

    Nợ trần con biết ngày nào cởi ra.

    Thật đúng như câu:

      Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một lát.

        Lại nào ngờ ở mãi đến bây giờ.

    Đó là do mình quá nặng nợ trần (nghiệp quả phải mang), lại bị những sợi dây mơ, rễ má….(dây oan trái) cuốn quyện tâm can làm cho con người đau khổ quằn quại suốt đời kiếp. Có nhà thơ nói hai câu thế này:

    Đã mang lấy nghiệp vào thân

    Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa

     Thành thử, người hành đạo phải sáng suốt tinh ý thấu rõ bản chất những thứ ấy để vượt qua, chớ có trách than. Hay là được chút ít phước báo hiện đời thì phải khéo léo sử dụng chớ có ái nhiễm dính mắc mà khổ lụy thân tâm.

     

  • 10. Vàng bạc

    VÀNG BẠC

     

    Vàng bạc cũng là một thứ vật chất như bao nhiêu vật chất khác, nhưng bởi lòng chúng ta còn quá nhiều tham, sân, si, đắm nhiễm dục lạc nên dễ bị chúng quyến rũ trói buộc. Nếu không có trí tuệ sáng suốt sẽ bị chúng lừa làm mờ mắt tâm không thấy được lẽ thật. Vậy phải sử dụng nó sao cho phù hợp với cuộc sống mà không bị sai khiến? Đây xin lược dẫn ở hồi 33-36 nói lên ý này.

    Có hai yêu tinh tên Kim Giác và Ngân Giác, nghe nói thịt Đường Tăng ăn sống lâu muôn tuổi bèn đi tuần núi đón bắt... Yêu Ngân thấy mấy thầy trò định chặn đường bắt lấy Đường Tăng, nhưng lại sợ tài năng của Tôn Hành Giả khó mà thực thi ý đồ đã dự tính, nên mới dụng kế để cầm chân Tôn Hành Giả lại . Nó liền nghĩ “Nếu cậy thế mà bắt thì không mó tới, chỉ nhã nhặn làm y cảm, lừa cho y tương hợp với lòng ta, khéo léo lập mưu mới bắt được”. Nên nó biến ra một người bị thương để gạt lòng từ của Đường Tăng. Đường Tăng động lòng cứu giúp rồi bảo Tôn Hành Giả cõng đưa họ về nhà. Tôn Hành Giả biết là yêu tinh không chịu cõng mới bảo Bát Giới thay, nhưng yêu tinh không chịu, lấy cớ là sợ Bát Giới mà đòi Tôn Hành Giả giúp mới ưng. Đường Tăng vì thương người nên chiều theo bảo Tôn Hành Giả phải vâng lời. Tôn Hành Giả vì sợ cãi lời sẽ bị thầy đọc bài chú mà đau đầu nên phải làm theo. Đang cõng yêu Ngân trên lưng thì bị nó hóa ra ba hòn núi đè Tôn Hành Giả rồi bắt mấy thầy trò về động. Tôn Hành Giả thoát khỏi núi liền đi cứu thầy. Mấy phen đánh, Tôn Hành Giả đều bị bửu bối yêu tinh bắt nhốt, nhờ có nhiều mưu trí nên thoát hiểm và lập kế lấy được những bửu bối của yêu tinh đánh lại nó... Sau yêu tinh bị Tôn Hành Giả bắt nhốt vào hồ lô, rồi tìm cách cứu thầy cùng các sư đệ ra và dẹp sạch hang động thì gặp một ông lão đi tới đòi bửu bối, nhìn kỹ ra là Thái Thượng Lão Quân. Tôn Hành Giả hỏi: “Bửu bối gì?” Lão Quân nói: “Hồ lô ta đựng đơn, Tịnh bình đựng nước, Bảo kiếm luyện ma, Quạt ta quạt lửa, Dây kim tuyến là thắt lưng áo bào. Hai quái vật kia là đứa coi lò vàng, đứa coi lò bạc. Chúng ăn trộm bảo bối của ta xuống hạ giới làm yêu tinh....”.

    Đại lược một đoạn ta thấy hai yêu tinh Kim Giác và Ngân Giác là ám chỉ cho vàng bạc, còn năm bửu bối của Thái Thượng Lão Quân bị yêu tinh cắp lấy tượng trưng cho tham, sân, si, mạn, nghi.

    Tuy vàng bạc là vật chất tạm dùng, nhưng vì lòng tham đã ăn sâu trong tạng thức nên khi gặp duyên thúc đẩy tâm lại dính mắc, thành thử ta thấy Đường Tăng dễ dàng cảm với người do yêu tinh hóa ra. Bởi vì Đường Tăng giai đoạn này còn là tạng thức, tức là cái kho chứa những chủng tử thiện ác chứ chưa phải cái kho trống sạch hoàn toàn. Do vậy người ta dùng vàng bạc để dẫn dụ khích động những ai còn tham đắm nó, làm cho đương sự mất đi trí tuệ sáng suốt để họ mua chuộc tất cả những gì trên cuộc đời này khi họ cần, đôi khi đến cả công lý nữa. Bởi nó có sức mạnh có thể làm ly gián tất cả các thứ tình cảm, hay là lợi dụng dùng nó để tạo cảm tình ở mọi đối tượng. Đôi khi nó xui khiến người ta đánh mất lương tâm phẩm giá làm những việc trái đạo lý hoặc đi đến bại danh hư thân nữa, giống như yêu tinh nói: “Nếu cậy thế mà bắt thì không mó tới, chỉ nhã nhặn làm y cảm, lừa cho y tương hợp với lòng ta, khéo léo lập mưu mới bắt được” là ý này.

    Làm con người ai cũng có lý trí, nhưng bởi lòng còn tham, sân, si quá đỗi nên bị vàng bạc làm lòe mắt, lấp mất trí tuệ không rõ được bản chất của nó. Tuy thấy có lợi trước mắt nhưng chắc khó có thể tránh khỏi hậu quả chẳng lành, vì đã bị vàng bạc cám dỗ mất tự chủ. Giống như yêu tinh hóa ra một người bị thương lừa Đường Tăng và buộc Tôn Hành Giả cõng cho được, và thừa cơ hội hóa ba hòn núi đè Tôn Hành Giả để bắt Đường Tăng. Ở đây ba hòn núi là ám chỉ cho tham, sân, si. Khi bị tham sân si che lấp trí tuệ thì mọi hành động nào cũng đều dính mắc không tự chủ được, nên ít hay nhiều gì cũng phải chịu khổ đau khi chúng hiện diện, giống như hai yêu tinh Kim và Ngân hóa trận cuồng phong bắt Đường Tăng đem về động vậy.

    Nói về vật chất thì vàng bạc là chìa khóa vạn năng, nếu có nó thì làm gì cũng thành công chóng vánh, và nó có sức mạnh trong tất cả mọi lĩnh vực. Cho nên ở thế gian người ta hay nói: “Có tiền mua tiên cũng được” là thế. Đôi khi con người vì vàng bạc mà đánh mất đi đức hạnh cao thượng, lại không biết vàng bạc là vật chất hình tướng dễ tạo ra và cũng dễ mất đi, chỉ cần một biến cố như thiên tai, chiến tranh hay bất cẩn thì sẽ bị mất sạch, nhưng đức hạnh thì rất khó tạo lập. Đức hạnh là cái tốt đẹp cao quí mà tất cả con người đều luôn tôn trọng và muốn đạt đến, tuy không hình tướng nhưng thường hay biểu hiện qua những hành vi ở thân khẩu ý làm cho mọi người cảm mến, tán thán và có thiện cảm. Không những thế mà còn là cái nhân tốt cho những đời sau được thăng hoa đến chỗ tốt đẹp cao thượng hơn. Nếu có duyên trở lại làm người thì được toàn thiện phẩm chất của một con người. Còn vàng bạc dù có nhiều đi nữa, khi xuôi tay nhắm mắt cũng chẳng đem theo được, đôi khi còn bị nó trói buộc mà luyến tiếc lẩn quẩn bị đọa thành ma giữ của, sống vất va vất vưởng không được thác sinh.

    Tuy vàng bạc rất cần thiết cho cuộc sống, nhưng phải có trí tuệ biết nó là cái tạm dùng và phải biết làm chủ khi có ở trong tay. Nếu khéo dùng thì nó là một vật hữu dụng, còn không sẽ bị nó sai khiến làm điều vô ích, đôi khi hại đến tính mạng nữa. Cho nên có câu: “Vàng bạc là một ông chủ tồi mà cũng là đứa đầy tớ tốt”. Cũng giống như con dao bén, nếu biết dùng thì làm rất nhiều việc lợi, còn không biết dùng thì hại cũng chẳng nhỏ.

    Nếu có ai đem vàng bạc đến cám dỗ để nhờ ta làm những việc không đúng pháp, không chánh đáng thì hãy xét kỹ chín chắn, đừng vì nó mà tạo nhân bất chánh sẽ ảnh hưởng hậu quả không tốt sau này. Ta hãy nên giữ thái độ trầm tĩnh và tự nhũ: “Nếu ta nhận thì sẽ bị lệ thuộc và có thể mắc kế họ, nhất định không để cho ai lợi dụng sai sử ta như một con vật thụ động”.

    Vả lại, chúng ta phải biết tự chủ và nghĩ rằng “của biếu là của lo, của cho là của nợ”, chớ đừng thấy người đem đến tặng, biếu mà tự cho là hãnh diện. Tuy nhiên có trường hợp người tốt bụng thấy thiên hạ khổ sở mà khởi từ tâm thương xót giúp đỡ, song rất hiếm thấy. Hay là thành kính với đối tượng nào đó mà biếu tặng thì điều đó cũng có, nhưng rất ít.

    Thế nên, hai Ma vương thì không sợ mà quan trọng là năm bửu bối, nếu thâu được năm bửu bối thì hai Ma vương sẽ đầu phục.

    Năm bửu bối ấy là:

    1- Hồ lô: Chỉ cho lòng tham. Bởi thấy vàng bạc dễ khởi lòng tham muốn thâu vào, giống như hồ lô của yêu tinh hút lấy tất cả những  gì nó muốn.

    2- Quạt: Chỉ cho niệm sân. Quạt làm cho lửa cháy thêm. Tham không được nên dễ sân, vì quạt của yêu tinh quạt một cái bay rất xa, thành thử khi sân không tự chủ được dễ tạo những hành động trái nhân tâm, gây hậu quả rất lớn.

    3- Tịnh bình đựng mỡ dê: Tịnh bình là bình trong sạch mà đựng mỡ dê thành dơ bẩn. Thấy vàng bạc thì tìm đủ cách đem về cho mình, vì vậy tâm không trong sạch. Nói lên sự si mê (vì tịnh bình đựng nước dơ chỉ cho si) tạo điều kiện để cho lòng tham nổi dậy.

    4- Kiếm: Chỉ cho mạn. Khi có vàng bạc trong tay dễ sanh tâm ngã mạn, dễ lấn hiếp sai khiến người, cho mình là bậc trên nên dễ tự cao tự đại khinh lướt người.

    5- Dây kim tuyến: Chỉ cho nghi. Khi có vàng bạc phải bảo thủ, cất giấu kỹ sợ mất mát. Từ chỗ sợ mất mát mà sanh nghi, nên tự cột trói làm cho tâm không an ổn.

    Năm bửu bối này của Thái Thượng Lão Quân bị hai đồ đệ trộm lấy. Mà Thái Thượng Lão Quân là chỉ cho Tâm, nên tham, sân, si... đều từ tâm phát khởi. Khi tâm bất giác mê muội sẽ bị chúng thúc đẩy theo bản năng dễ làm điều dữ ác gây ra muôn vàn tội lỗi. Nhưng khi giác ngộ rồi trí tuệ phát sinh thì chuyển hoá năm thứ ấy, dùng vàng bạc làm lợi ích cho nhân loại. Như lấy vàng bạc đem bố thí là xả bỏ được lòng tham; bởi không tham nên ít sân; thấy nó không tham nên tâm trong sạch; khi có lấy giúp người vì thấy người thiếu thốn mà khởi lòng thương nên tâm không tự cao ngã mạn; khi có vàng bạc biết nó là phương tiện tạm dùng, rủi có thất thoát cũng không buồn nên chẳng nghi ai. Vì vậy, khi biết tham, sân, si... từ tâm phát khởi hãy chuyển hoá chúng thì vàng bạc không sai khiến ta được, mà ta tự chủ sử dụng để làm nhiều điều lợi ích.

    Trong suốt cuộc đời, chúng ta mãi lo cho có nhiều tiền của, sự nghiệp lớn, địa vị cao, nhưng những cái đó có lâu bền và mình có giữ được hay chăng? Những cái không tồn tại mà chúng ta đem cả cuộc đời lo cho cái mình không bảo đảm giữ được, và khi bỏ sắc thân này chẳng thể đem theo mà hiện tại cứ mãi tranh giành, nhưng rốt cuộc rồi tất cả cũng chẳng còn. Còn cái không ai có thể tranh giành, không sợ mất mát mà chúng ta chẳng chịu làm, đó là những việc lành và phát huy trí tuệ. Nếu đời này có trí tuệ và làm thiện thì những việc đó không thể mất, do đời này tích lũy nên đời sau gặp nhiều duyên lành đến với mình và nhờ đó trí tuệ tiếp tục phát triển thêm lên chớ chẳng quên; còn cái không tồn tại, hư ảo mà cứ lo gầy dựng thì thật là mê lầm. Thành thử chỉ có trí tuệ và phước đức mới cứu giúp mình hết khổ. Nhìn qua chúng ta thấy như thiệt thòi, thua sút thiên hạ, nhưng những cái mình tích luỹ dành dụm đó không ai cắp lấy được. Còn có tiền của nhiều, địa vị cao và sự nghiệp lớn thì thiên hạ hay dòm ngó hoặc bằng cách này, cách nọ mà tranh giành cướp đoạt. Còn cái không bao giờ mất mà chúng ta lơ là chẳng chịu lo huân tạo thì thật là đáng tiếc.

    Ở thế gian người ta thường dùng vàng bạc để trang trải đời sống thường tình không ngoài sự cảm thọ của thân xác, nhưng trí tuệ quan trọng hơn là vàng bạc. Vì sao? Vì vàng bạc là tài vật tạm thời mà trong Phật pháp gọi là vật chung của năm nhà: “Hỏa hoạn, nước cuốn, trộm cắp, quan chức tham ô, con cháu hư đốn”. Xét kỹ, vàng bạc không phải là thứ đầy đủ vạn năng đáp ứng toàn vẹn mọi nhu cầu cho con người, mà nó chỉ khả dĩ giúp được một phần nào về sinh hoạt vật chất cho con người mà thôi. Ví như có nhiều tiền mua được quần áo, đồ trang sức, mùng mền, nệm ấm v.v…, nhưng không thể mua được giấc ngủ yên ổn; nhiều tiền có thể mua được quần chúng, nhưng không mua được lòng người; nhiều tiền tuy mua được danh cao, nhà rộng, nhưng không mua được tự tại thảnh thơi; nhiều tiền có thể mua tất cả tình cảm, nhưng không mua được bi lụy khổ đau; nhiều tiền có thể mua được học vị thậm chí mua mọi vật chất thế gian, nhưng không mua được trí tuệ. Vả lại, vàng bạc người thế gian quí trọng là vì người ta dùng nó để trao đổi những vật chất tạo sự sống, nhưng nó quí báu phải cần nhờ trí tuệ mới biện biệt được mà nói nó là vật báu; còn như không có trí tuệ để biện biệt thì vàng bạc chẳng khác nào sỏi gạch. Ví như đứa bé ba tuổi chưa có trí, khi đưa vàng bạc cho nó thì nó không biết giá trị của vàng bạc là chi cả, nó ném bỏ không dùng đến. Để thấy vàng bạc có quí báu là do con người hiểu biết cái quí báu của nó, vậy thì nó báu mà chẳng tự biết là báu, phải nhờ trí ở con người mới biện biệt được nó là vật quí báu.

    Thế thì chỉ có trí tuệ mới là nguồn quí báu nhất của nhân loại, nhưng đó chỉ là trí tuệ thông thường có thiện, có ác ở thế gian. Song mà có thứ trí tuệ thuần thiện siêu việt vô nhiễm vượt hẳn trí thế gian, đó là “Trí tuệ Bát Nhã”. Trong kinh điển nói trí tuệ Bát Nhã là mẹ đẻ của chư Phật, là thầy dẫn đường cho các vị Bồ Tát. Trước đó chư Phật nhờ trí tuệ này mà được thành Phật, Bồ Tát nhờ trí tuệ này mà thành tựu đạo quả.

    Vậy thì nhân loại phải phát huy trí tuệ này mới hóa giải được tất cả mọi thứ khổ đau, mà mọi khổ đau không ngoài những nhu cầu mong muốn của con người

     

  • 11. Bát phong

    BÁT PHONG

     

    Tâm còn tham đắm ái nhiễm là vì chấp cái giả ngã này nên đối với các cuộc thịnh suy, được mất, khổ vui v.v... làm xoay chuyển chúng ta hết quãng đời từ khi biết nhận thức cuộc sống cho đến lúc nhắm mắt. Chúng ta vì mê lầm phải bị những ngọn gió Bát phong thổi trôi lăn vào nơi ba nẻo sáu đường. Nếu không biết phản tỉnh định thần dùng trí tuệ sáng suốt để nhận xét tận gốc thì sẽ bị chúng sai khiến khó mà thoát ra được.

    Đây xin lược dẫn ở hồi 20 – 21 nói về Bát phong.

    Mấy thầy trò đang trên đường về tây thì gặp một yêu tinh đi tuần núi, rồi hai bên đánh nhau. Yêu tinh dùng phép gạt Tôn Hành Giả và hoá một ngọn cuồng phong bắt Đường Tăng về động... Tôn Hành Giả tìm đến động khiêu chiến... Do gặp phải tay yêu tinh Phong ma thổi một luồng gió độc làm mắt Tôn Hành Giả đau xốn, nước mắt cứ tràn ra nên phải đi tìm thuốc chữa... Sau đó gặp một ông già nói: “Gió ấy thổi ra trời đất tối, đá vỡ núi lở, mạng người gặp gió ấy thì không thể sống, trừ ra là thần tiên mới vô sự...”. Tôn Hành Giả trở lại vào động tìm sư phụ, quan sát nghe trộm được lời yêu tinh nói chỉ sợ có Bồ Tát Linh Cát ngoài ra không sợ ai... Nên Tôn Hành Giả đến cầu Bồ Tát Linh Cát giúp... Bồ Tát cùng Tôn Hành Giả đến động... Tôn Hành Giả vào đánh dụ yêu tinh ra, Bồ Tát ở trên không ném Phi Long Trượng xuống và niệm thần chú, yêu tinh liền đầu phục hiện nguyên hình là con chuột lông vàng... Tôn Hành Giả tính giết, Bồ Tát ngăn lại nói: “Nó là con chuột tu ở chân núi Linh Sơn, vì trộm dầu đèn làm mờ tối nơi thờ cúng nên nó sợ trốn xuống đây làm yêu tinh. Hãy để tôi đem nó về trình đức Như Lai định tội...”.

    Lược dẫn một đoạn cho thấy Phong ma không phải ma gió mà chỉ cho Bát phong.

    Trong nhà Phật có dùng danh từ Bát phong tức tám gió. Nghĩa là tám hình thức làm ngăn trở bước tiến của hành giả trên đường giác ngộ giải thoát.

    Tám gió đó là:

       1- LỢI: Được những cái lợi ích cho bản thân.

       2- SUY:  suy hao, mất mát, tổn hại thất thoát.

       3- HŨY: Là bị hũy nhục, khinh rẻ.

       4- DỰ: Là đề cao, tán dương danh dự hay địa vị.

          5- XƯNG: Là xưng tụng, khen ngợi.

          6- CƠ: Là chỉ trích, bị đem những điều xấu vụng về ra cho mọi người biết.

          7- KHỔ: Gặp những điều bất hạnh, những hoàn cảnh trái ngược làm đau khổ thân và tâm.

             8- LẠC: Là vui mừng, hỷ hạ.

    Trong tám gió này có thể nói chúng ta đều bị vướng phải hoặc ít hoặc nhiều một trong tám gió ấy. Ví như ta làm ăn được lợi một số tiền khá lớn hay trúng số chẳng hạn, lúc đó tâm có được bình lặng thản nhiên như mọi khi không? Hay là bối rối, bất an vì tính toán sẽ làm gì với cái lợi đã có? Hoặc có một việc không ai làm nổi mà mình làm được, người ta tán dương khen ngợi thì có tự hào không hay là vẫn bình thản? Đó là nói những cái lợi, còn những điều thất bại, thất thoát hay bị hũy nhục, đau khổ thì chắc không làm sao tránh khỏi.

    Ở đây nói tám gió là do duyên bên ngoài đưa đến, tuy có trí tuệ nhưng chưa vượt qua, nếu không trí tuệ chắc phải khổ lụy nhiều, giống như Tôn Hành Giả bị yêu tinh thổi gió làm chảy nước mắt, là vì chưa biết được gốc gác của nó. Nếu một trong tám gió này thổi đến đối với người thường thì chắc phải khổ não, đôi khi còn tự vẫn nữa. Vì vậy Ngô Thừa Ân viết: “Mạng người gặp gió ấy không sống, trừ ra là thần tiên có phép (người có trí) mới vô sự”. Dù rằng có trí tuệ nhưng phải biết nó đối nghịch với đối tượng nào và từ đâu phát xuất thì nó mới quy phục, giống như yêu tinh đối nghịch với Bồ Tát Linh Cát và phát xuất từ chân núi Linh Sơn vậy.

    Bồ Tát Linh Cát là chỉ cho sự sáng suốt lanh lợi tốt lành, ý nói là thời trí, tức là cái trí lanh lợi cấp thời để khi gặp nghịch cảnh bất thường đến liền hoá giải. Còn đọc câu thần chú là định tâm, khi sáng suốt và định tâm mới biết chúng từ Tâm chân thật hiện khởi (chân núi Linh Sơn). Nên Bát phong có là do tâm ta khởi động ái nhiễm dính mắc các pháp.

    Câu hỏi đặt ra ở nay là tại sao Ngô Thừa Ân lại chọn con chuột mà không chọn con vật khác làm yêu tinh ở chân núi Linh Sơn? Bởi vì chuột là một con vật hay rón rén, lén lút sống trong bóng tối và rất sợ ánh sáng, nên ở đây nói yêu tinh chỉ sợ Bồ Tát Linh Cát chứ không sợ ai. Còn núi Linh Sơn là nơi Phật ở chỉ cho Tâm chân thật. Nói yêu tinh ở dưới chân núi để ám chỉ Bát phong có là do tâm động. Khi tâm bất giác mê mờ hay lén lút trốn đi hướng ngoại bị trần cảnh mê hoặc, rời bỏ cội nguồn lang thang khắp chốn được tượng trưng bằng hình ảnh con chuột thành tinh. Nên trong kinh Pháp Cú nói: “Tâm phàm phu cứ lén lút đi một mình rất xa, vô hình vô dạng, như ẩn náu hang sâu, điều phục được tâm thì giải thoát khỏi vòng ma trói buộc”.

    Trong nhà thiền có câu chuyện nói lên nhân vật vấp phải một trong tám gió như sau:   

    Tô Đông Pha là một văn hào nổi tiếng thời vua Thần Tông, và Ngài Phật Ấn là một vị thiền sư danh đức, được vua ngưỡng mộ ban cho ca sa và bát vàng. Sư tịch năm 1098.

    Nhân duyên đưa đẩy Tô Đông Pha hội ngộ với thiền sư Phật Ấn. Hai người tuy ở hai lĩnh vực khác nhau nhưng lại rất thân thiết. Ông thường hay đến để bàn đạo, nói thiền với ngài Phật Ấn, ông rất tâm đắc khi biết mình có kiến giải Phật pháp sâu xa. Một hôm ông làm bài kệ tán dương công đức của Phật như sau:

    Cúi lạy Thiên trung Thiên

    Hào quang chiếu Đại thiên

    Tám gió không lay động

    Ngồi vững đài Kim Liên.

    Làm xong ông rất khoái chí nên cứ ngâm nga mãi. Một hôm ông viết bài đó bảo gia đinh chèo thuyền đem đến trình ngài Phật Ấn để tỏ ra mình là người thông đạo hiểu thiền, và dặn dò gia đinh chờ xem Ngài có phúc đáp lời gì không. Ông đinh ninh nghĩ rằng ngài Phật Ấn sẽ tán dương khi đọc bài kệ.

    Gia đinh đem đến và nói những lời dặn như trên, ngài Phật Ấn xem xong chỉ nói hai tiếng “cức chó”, rồi vò nát bài kệ ném bỏ.

    Lúc gia đinh về, Tô Đông Pha phấn khởi để chờ nghe ngài Phật Ấn khen như thế nào. Ông liền hỏi:

    - Lão Ấn xem bài thơ của ta rồi có nói gì không?

    Gia đinh đáp:

    - Không có nói lời chi !

    Tô Đông Pha bực tức nói:

    - Đồ cức ! Bài thơ hay như vậy lẽ đâu chả nói tiếng nào?

    Gia đinh nói:

    - Đồ cức ! Tiếng đó thì có. Lão hòa thượng xem xong nói cức chó rồi ném.

    Tô Đông Pha nghe gia đinh lặp lại lời ngài Phật Ấn liền giận đến đỏ mặt tía tai nói:

             Hòa thượng già tối mắt, bài kệ của ta đựng nước còn không chảy mà ông ta chẳng coi ra làm sao cả !

    Nói xong Tô Đông Pha lật đật bảo gia đinh chuẩn bị thuyền con chở ông ta sang sông ngay. Vừa gặp ngài Phật Ấn ông ta lớn tiếng:

            - Lão Ấn, vừa rồi bài kệ của tôi có chỗ nào không hay? Xin được nghe chỉ bày! chỉ bày!!.

    Ngài Phật Ấn khiêm hòa nhỏ nhẹ nói:

    - Tám gió thổi chẳng lay. Cức chó vượt sông ngay.

    Tô Đông Pha nghe ngài Phật Ấn nói câu ấy liền sực tỉnh, biết mình nóng giận quá quấy, không dừng được ngửa mặt lên trời cười ha hả để đánh tan đi sự giận dỗi của mình, rồi nói:

    -         Hòa thượng quả nhiên đáng bội phục !

    Từ đó ông và ngài Phật Ấn càng thêm tương đắc,

    qua lại càng mật thiết với nhau.

    Đây cho thấy văn hào Tô Đông Pha vấp phải một trong tám gió là bị hũy nhục khinh rẻ, thay vì được đề cao tán dương, ông lại nổi giận và có những lời lẽ, cử chỉ không hay đẹp cho lắm.

    Những hình ảnh ở hồi này nói lên hành giả khi trực diện với tám gió phải khéo léo sáng suốt mà vượt qua. Tám gió có là do tâm bất giác vọng động dính mắc nên bị nó trói buộc. Do đó trong nhà thiền có câu: “Bát phong xuy bất động”, là nói hành giả có sức định tuệ thì dầu cho tám gió có thổi vẫn an nhiên không lay động, để nói lên người hành đạo là người rất phi thường. Bởi người thế gian khi gặp cảnh nghịch lòng trái ý thì đau khổ, đôi lúc lại quyên sinh, hay những cảnh thuận đến thì hớn hở vui mừng không kiềm chế được. Còn người phi thường thì trái ngược lại, được khen chẳng mừng, bị chê không giận, hay chạm việc bất như ý mà thường bình lặng, gặp cảnh người đời cho là vui, là khổ mà ta vẫn thản nhiên không một chút xao động. Thành thử người phi thường có điểm đặc biệt khác hơn thế tình, là đối với tất cả pháp không chấp mắc trụ bám vào đâu cả, nghĩa là trước mọi biến cố thuận hay nghịch không bị nó chi phối, nhưng người thường tình thì chẳng được vậy. Tóm lại khi đối đầu với tám gió hãy sáng suốt định tỉnh như núi đá thì tám gió sẽ không thổi nổi như bài kệ:

    Như tảng đá kiên cố

    Gío thổi không lay động

    Người trí tâm thản nhiên

    Bất động trước khen chê.

     

  • 12. Nội chướng

    NỘI  CHƯỚNG

     

    Nội chướng là những sự chướng ở nội tâm làm ngăn ngại trên đường hành đạo.

    Từ lâu đời lâu kiếp chúng ta bị trôi lăn trong ba nẻo sáu đường, tạo không biết bao nhiêu nghiệp thiện và ác, mà thiện thì ít, ác lại nhiều, đã chứa chất trong tâm thức nào là: Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến v.v…, chúng là những ký ức do thu thập chấp giữ thuở quá khứ qua mọi hành vi thân khẩu ý. Chúng tiềm tàng trong lòng con người dưới hình thức chủng tử mà trong đạo Phật gọi là Căn bản vô minh (cội gốc của mê lầm). Tuy nói chủng tử có muôn ngàn thứ nhưng nói gọn lại chỉ có hai:

    1- Chủng tử mê lầm tạo ác nghiệp. Nghĩa là thân khẩu ý hành động về bất thiện thì có tập khí xấu ác huân vào tạng thức làm thành chủng tử. Đó là nghiệp nhân của sự khốn khổ đọa lạc.

    2- Chủng tử thiện hay sự định tỉnh của người tu hành cầu giải thoát. Nghĩa là thân khẩu ý hành động đều chân thiện mỹ, huân vào tàng thức làm chủng tử. Đó là nghiệp nhân phước thiện hay nhân giác ngộ.

    Tập khí thật là đa dạng, tuy không hình tướng nhưng có một năng lực rất đáng sợ chớ xem thường. Chúng bất chợt dấy lên mà không rõ nơi chốn phát khởi, khi gặp duyên trái ý nghịch lòng thì chủng tử bất thiện hiện diện lôi cuốn mình vào quỹ đạo ấy. Giống như những hình ảnh yêu tinh trong truyện không biết nó ở đâu đến, bất chợt biến hóa khôn lường, chờ cho Tôn Hành Giả sơ hở (không có trí tuệ hiện hữu) là nó cuỗm Đường Tăng đi mất (bị tham sân si ngự trị) và lúc nào cũng lăm le để ăn thịt Đường Tăng. Nghĩa là tham, sân, si chờ cơ hội che lấp tâm thể sáng suốt.

    Bởi nó ẩn tàng nên khó nhận diện, khi gặp cảnh ngang trái nghịch lòng hay chạm đến tự ngã thì chúng bất chợt hiện diện thúc đẩy làm những điều phi nhân đạo, trái chính nghĩa. Có những cái không đáng mà nó thúc đẩy ta phải tham, sân, si... để nuôi lớn thêm tự ngã.

    Cho nên người biết hành đạo là phải chuyển hóa những tập nghiệp, hãy để nó phai mờ theo thời gian công phu, vì mỗi lần gợi nhớ lại là ta làm đậm nét thêm chớ không xóa hết. Là hành giả đang tu tập giải thoát, nếu chúng bất chợt bộc phát mà không có trí tuệ sáng suốt (Tôn Hành Giả) thì sẽ bị ngăn trệ trên đường hành đạo (ma chặn lối).

    Người hành đạo đối với tập khí thì chẳng khác nào cái hũ đựng tương lâu năm, tuy hũ không còn tương trong ấy nhưng mùi vẫn còn, mặc dù đã được rửa nhiều lần, phải gia công rửa mãi và dùng chất tẩy nữa thì dần dần mùi tương trong hũ mới dứt hẳn, cái hũ sẽ hoàn toàn sạch sẽ thì mới có thể sử dụng vào việc lợi ích khác.

    Hoặc giả trong lúc hành đạo nội tâm chuyển biến được an định đôi chút, nhưng thỉnh thoảng có các cảnh do tâm biến hiện ra những ảo tướng như là: Cảnh giới Phật, Bồ Tát nói pháp, thân tướng Phật hiện đến  hay có những hình ảnh lạ khác... Nếu hành giả không tỉnh giác sáng suốt thì bị những cảnh ấy làm mê hoặc rồi rơi vào đường tà, mà không biết đó chỉ là ảo giác do tâm hiện ra. Vì vậy trong kinh Lăng Nghiêm có trình bày năm mươi cảnh giới Ma ngũ ấm do hành giả công phu tu hành mà thấy những cảnh ấy ở tâm. Nếu hành giả nào chấp cho là thật thì sẽ rơi vào lưới ma không tiến đến giải thoát được, mà không biết chúng là những lậu hoặc vi tế trong tâm thức. Trong kinh Lăng Nghiêm nói ngài A Nan khi giác ngộ rồi làm bài kệ có một đoạn như sau:

    ...Đại hùng đại lực đại từ bi

    Mong lại xét trừ hoặc vi tế

    Khiến con sớm được vô thượng giác…..

    Cho nên đến chỗ cứu kính phải sạch hết lậu hoặc vi tế thì mới gọi là giải thoát viên mãn.

    Đôi khi có trí tuệ mà vẫn bị chúng quấy nhiễu là vì thiếu định tâm và lòng từ bi, hoặc không thấy được tận gốc chúng. Nếu bình tĩnh sáng suốt rõ được nguồn phát xuất của chúng thì chúng phải chịu quy phục để cho ta tiến bước. Đây xin nói phần sáu giặc trước.

  • 13. Sáu giặc

    SÁU GIẶC

     

    Khi ý thức chuyển hóa, trí tuệ khai mở thì sáu căn không còn đắm nhiễm với ngoại trần nên lục tặc không làm hại được mà bị trí tuệ hóa giải. Đây xin lược dẫn một đoạn hồi 14 nói ý này.

    Khi Tôn Ngộ Không ra khỏi núi, phũ phục tôn Đường Tăng làm sư phụ, Đường Tăng đổi tên lại là Tôn Hành Giả. Hai thầy trò đang trên đường về Tây Trúc thì có sáu tên cướp chặn đường hạch tiền và cướp hành lý liền bị Tôn Hành Giả đánh chết hết. Sáu tên là: Mắt nhìn trừng, tai nghe tiếng, mũi thích ngửi, lưỡi nếm vị, ý thấy muốn, thân vốn lo...

    Ở đây tại sao không nói năm hay bảy tên cướp mà chỉ nói có sáu? Sáu tên cướp chặn đường đòi tiền và lấy hành lý ở đây là tượng trưng cho sáu thức (thức ở sáu căn). Đối với người thế gian chưa biết tác hại của nó vì trong tâm còn chấp giữ nuôi dưỡng vọng thức, nên khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, tâm ý liền hòa hợp để cảm thọ theo bản năng bị sáu tên giặc cướp lấy của cải, gia bảo trong nhà – Bảo châu như ý (Bổn tâm). Là người hành đạo phải biết lẽ thật của chúng, đừng nhu nhược yếu đuối mà bị bọn cướp này lấy mất đi tài sản châu báu. Cũng như hiện nay đa số chúng ta đều bị chướng ngại bởi âm thanh bên ngoài, như những lời mắng chửi, dèm pha, nguyền rủa đến với lỗ tai, nếu mình nghe như gió thổi qua thì không có gì vướng bận ở lòng. Còn ngược lại thấy đó là lời nói thù hằn, mỉa mai, hiểm ác v.v... rồi ghi nhận nó vào lòng nên bực bội, tức tối, hận thù… thì đó là tên cướp lấy mất của báu nhà mình ở cửa tai. Cho nên khi nghe những tiếng khen chê hay chửi bới hoặc ca tụng…, ta hãy xem như khói như gió thì tên giặc cướp sẽ không được dịp vào nhà mình. Đó là nói về tai nghe, suy ra các căn kia cũng thế. Bởi vì những hình ảnh, âm thanh v.v... nó không làm cho ta phiền não, tham lam, mà tham lam, phiền não là do chính tâm mình ái chấp khi đối diện ngoại cảnh dính mắc, nên nói nó là bọn cướp lấy tài sản nhà mình là vậy.

    Vì thế trong kinh Kim Cang có câu ngài Tu Bồ Đề hỏi Phật:

    - Làm sao an trụ tâm?

    Phật đáp: “Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát đối với pháp nên không có chỗ trụ mà làm việc bố thí, gọi là chẳng trụ nơi sắc để bố thí; chẳng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp để bố thí. Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát nên bố thí chẳng trụ nơi tướng như thế. Vì cớ sao? Nếu Bồ Tát bố thí mà chẳng trụ tướng thì phước đức không thể nghĩ lường”.

    Đức Phật nói bố thí đây tức buông xả không dính mắc, còn trụ là bám, là dính mắc. Nếu ngay nơi sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, ý thức không khởi động đắm nhiễm chấp mắc chạy theo tức là buông xả. Ngay đó tâm an ổn sáng suốt mà gọi là không chỗ trụ. Khi mắt thấy sắc không dính mắc bám trụ trên cảnh sắc nên không thấy đây đẹp, kia xấu; tai nghe tiếng chẳng khen chê, mũi ngửi mùi, thân xúc chạm v.v... đừng khởi niệm phân biệt thì cái (tạm gọi) hằng thấy rõ biết sáng suốt đó hiện hữu luôn bất động. Sáu căn dù có tiếp xúc với sáu trần rõ thấy biết tất cả sắc mà cũng như không thấy, nghe tất cả tiếng cũng như không nghe…. Nên người xưa nói: “Thấy sắc như mù, nghe tiếng như điếc” là vậy.

    Thiền sư Nghĩa Trung có làm bài kệ nói rõ ý này:

    Chính nơi thấy nghe chẳng thấy nghe

    Còn đâu thinh sắc để trình anh

    Trong kia nếu liễu toàn vô sự

    Thể dụng ngại gì phân chẳng phân.

    Lại nữa, trần cảnh vốn tự bất động không có trói buộc ai. Còn sáu căn vốn dĩ an nhiên như như bất động. Chỉ tại khi mắt thấy sắc chúng ta bất giác máy động sinh ra vọng thức, rồi hòa nhập lao theo ngoại cảnh nên nói là dính mắc trói buộc, chớ cảnh sắc và mắt thấy cả hai đều ở địa vị riêng mà chung cùng bất động như nhau. Cho đến tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi v.v... cũng vậy. Nếu có cái nhìn được như thế thì Đức Phật nói người đó phước đức vô lượng không thể nghĩ lường.

    Khi đã giác ngộ, trí tuệ phát sinh thấy các pháp chỉ là giả dối huyễn hóa vọng sanh vọng diệt, có đó lại hoại đó, do vậy sáu căn của hành giả không bị trói buộc với sáu trần. Nên nói Tôn Hành Giả giết hết sáu đứa giặc là vậy.

     

  • 14. Vọng và chân

    VỌNG  & CHÂN

     

    Từ lâu chúng ta đã nhận lầm tâm giả dối tạm bợ cho là mình nên quên đi nguồn cội, giống như ngài A Nan chấp bảy chỗ cho là tâm mình đều bị Phật bác không chấp nhận (kinh Lăng Nghiêm). Vậy thì bước đầu chúng ta phải nhận định rõ đâu là chân, đâu là vọng, mới không bị lạc lối. Chân và Vọng chẳng phải hai, nhưng cũng không là một, vì hai trạng thái khác nhau. Không phải hai vì chung cùng nguồn gốc, bởi mê mới có chân, vọng; có vọng nên mới lập chân, song vọng chính từ chân phát khởi, mà chân chẳng phải vọng. Ngài Động Sơn khi đi qua cầu thấy bóng dưới nước liền ngộ làm bài kệ nói về ý này:

    Rất kỵ tìm nơi khác

    Xa xôi bỏ lảng ta

    Ta nay riêng tự đến

    Chỗ chỗ đều gặp va

    Va nay chính là ta

    Ta nay chẳng phải va

    Phải nên như thế hội

    Mới mong hợp như như.

    Vọng là cái sinh diệt chợt có, chợt không, còn chân là an định sáng suốt bất động, giống như cái bóng trong gương từ gương mà có. Gương thì sáng suốt bất động, còn bóng luôn chao động thay đổi. Cho nên chúng ta phải rõ cái nào giả dối, cái nào chân thật. Nhưng khi đã thể nhận và sống được với cái chân thật thì một thể vắng lặng sáng suốt chớ không còn thấy có chân vọng gì cả.

    Đây xin lược dẫn ở hồi 39 nói lên ý này.

    ...Tôn Hành Giả cứu vua Ô Kê... Rồi bày kế vào cung vua để đánh vua Ô Kê giả do yêu tinh biến ra... Yêu tinh đánh không lại chạy đến chỗ Đường Tăng, nó liền hóa ra một Đường Tăng nữa, khiến Tôn Hành Giả không phân biệt ra ai là Đường Tăng thật... Tôn Hành Giả bèn xin thầy đọc thần chú và nhờ Bát Giới xem ai đọc được là Đường Tăng thật, nên Đường Tăng giả bị lộ tướng biến chạy - vì bài chú “định tâm chân ngôn” đó chỉ có Đường Tăng và Bồ Tát biết mà thôi. Tôn Hành Giả đuổi theo định đánh chết yêu tinh, nhưng gặp Bồ Tát Văn Thù đến ngăn cản và xin tha mạng cho nó. Bồ Tát lấy kính chiếu yêu ra soi thì nó hiện nguyên hình là con sư tử lông xanh của Bồ Tát. Tôn Hành Giả trách Bồ Tát sao để con sư tử của Ngài trốn xuống hạ giới làm yêu tinh phá hoại người. Bồ Tát nói: “Nó đâu có trốn mà do Phật chỉ sai đấy”. Bồ Tát đọc thần chú và lên lưng sư tử từ biệt Tôn Hành Giả trở về Ngũ Đài Sơn...

    Đây ý nói Đường Tăng thật là chỉ chân tâm. Còn Đường Tăng giả chỉ vọng tâm. Khi Tôn Hành Giả không biết ai là Đường Tăng thật, mới cầu xin Đường Tăng thật đọc thần chú cho mình đau đầu, để biết đâu thật đâu giả. Bởi bài chú là ngụ ý cho định tâm, tuy có trí tuệ nhưng chưa an định thì khó mà trưởng dưỡng tự tánh chân nên vọng cứ vẫn xen lẫn che án chân tánh. Nhưng khi tâm đã định thì cái vọng giả dối tan biến, tánh chân thật hiện bày sáng suốt như xưa.

    Tâm chân thật là cái (tạm gọi) hiện đang rõ biết rỗng lặng thênh thang, nó giống như nước mặt biển mênh mông. Còn tâm vọng động thì giống như các loại sóng (sóng nổi, ngầm, lớn, nhỏ), nhưng các loại sóng đó đều là nước ở trong mặt biển cả. Nước ở sóng và nước mặt biển tuy hai tướng trạng khác nhau (sóng có cao thấp, chao động, mặt biển thì bằng phẳng không sóng), nhưng cả hai đều mang tính chất “ướt”. Muốn biết nước biển thì hãy ngay nơi sóng mà nhận (thể ướt). Do đó thể của sóng và nước không hai, không khác, chỉ là chất ướt. Còn tướng dụng của nước thì có muôn mặt, khi đục khi trong, khi sóng lớn sóng nhỏ, khi đông đặc khi loãng, khi thành hơi, khi yên lặng bằng phẳng…. Tất cả các tướng trạng của nước ở biển là ẩn dụ cho tâm thiện, tâm ác, tâm kiêu mạn, tâm ích kỷ, tâm tật đố v.v... Nếu là tâm chân, thiện, mỹ (tất cả hành vi của thân khẩu ý đều thiện) thì xứng hợp với bổn tâm, vì biết bỏ ác theo thiện, bỏ vọng theo chân, lìa tà hợp chánh, lìa mê theo giác nên gọi là thuận dụng bổn tâm. Còn ngoài chân, thiện, mỹ ra đều là tâm tham, sân, si. Vì sao gọi tham, sân, si cũng là tâm? Vì nó mang một phần tính năng của tâm nên gọi là nghịch dụng bổn tâm, giống như các tướng trạng ở nước đều mang cái thể của nước là ướt vậy. Nếu là tâm thiện thì thuận với chánh đạo, còn tâm ác thì nghịch lại gọi là tà đạo. Song, thiện đối với ác, thuận đối với nghịch, chánh đối với tà, nhưng rốt lại tất cả pháp đối đãi đều từ bổn tâm mà ra. Nếu thuận dụng bổn tâm thì an vui giải thoát; còn nghịch dụng thì trần lao khổ sở và sa đọa.

    Bởi lẽ khi còn phàm phu lúc tham sân si nổi lên lại đồng hóa hòa nhập vào tham, sân, si, họ cho tham sân si là mình nên nói tôi tham, tôi sân, tôi si, vì vậy họ chỉ làm càn theo bản năng do tham sân si chủ động. Lại có người biết đó là tham sân si nhưng không tự chủ, họ không thể nhận ra chính cái RÕ BIẾT được tham, sân, si là mình. Nhờ có tánh BIẾT này, khi tham sân si trỗi dậy mới BIẾT tham, BIẾT sân, BIẾT si. Bởi họ không nhận và sống với cái Rõ Biết mà lại đồng hóa mình là tham, sân, si, nên bị tham sân si ngự trị dẫn dắt làm những điều bất thiện trái với lương tâm. Còn người đã thấu rõ được cội nguồn của tâm tánh chính là cái RÕ BIẾT TRONG LẶNG, tức cái chân thật không lúc nào sanh diệt biến đổi, thì khi có tham, sân, si mống khởi liền RÕ BIẾT nên chúng bị ánh sáng trong lặng của cái Biết hóa giải mất, và khi không tham, sân, si vẫn hiện đang RÕ BIẾT trong lặng. Có tham, sân, si hay không tham, sân, si, đó là hai tướng trạng đối lập nên nói nó chợt có, chợt không, còn cái RÕ BIẾT được khi có tham, sân, si hay không tham, sân, si thì “cái rõ biết” đó, luôn hằng hữu. Cái rõ biết hằng hiện diện nương nơi sáu căn phát ra diệu dụng; nào là đi đứng, nói năng, nhướng mày, chớp mắt v.v... trong mọi sinh hoạt. Nhưng khi phát ra diệu dụng ở sáu căn tiếp xúc với sáu trần, chúng ta lại bất giác vọng động, nên thức phát sanh, rồi dính mắc ái chấp trần cảnh mà quên đi cái nguồn gốc RÕ BIẾT RỖNG LẶNG này. Bởi bản chất của tham, sân, si từ nơi RỖNG LẶNG do bất giác chợt khởi lên, nên khi tỉnh giác nó liền trở về nơi bản vị RỖNG LẶNG. Vì vậy nói nó có như huyễn hóa không thật tánh, và nó chợt khởi, chợt lặng nên gọi là hư vọng. Bởi phàm phu quên cái rõ biết chân thật chỉ sống theo cái hư vọng, nếu không có cái chân thật thì “Ai” đang hiện thấy, nghe...? Do chấp cái hư vọng nên quên cái thật, chớ cái chân thật chẳng vắng mặt bao giờ.

    Từ đây ta có thể nhìn qua các sắc tướng khác cũng vậy. Ví như trước khi có thân này là khoảng trống không thênh thang, khi hội đủ duyên thì kết thành thân, rồi dần dần mượn tứ đại bên ngoài (không khí, thức ăn, nước uống, hơi ấm từ các duyên tạo) để nuôi dưỡng mà dần dần tăng trưởng lên, quân bình khoảng 50 - 60 ký chiếm một phần nhỏ trong cái rỗng không thênh thang. Thiết thực hơn là trong sắc thân có một ít rỗng không trong ấy nên ta mới hít không khí vào được để máu lưu chuyển luôn và mới có thể cho thức ăn nước uống vào để duy trì sự sống; hơn nữa là sắc thân đang ở trong rỗng không thênh thang nên mới tới lui nói năng hoạt động được. Đến khi chết thân rã tan thì trả về lại rỗng không; cho thấy rằng thân xác này vốn không tự tánh. Nếu nó có tự tánh thì tự sanh ra khỏi phải đợi nhờ duyên khác hội hợp mới thành. Ta phải biết hễ cái gì là Chân thì luôn hằng hữu không thay đổi biến chuyển, không sanh diệt…, nhưng xét kỹ thân này thì nó không phải vậy mà thường biến chuyển sanh diệt luôn, thực tế là trong thân này mỗi tế bào từng giây từng phút hoại tử và được tế bào mới khác sanh ra thay vào. Còn phần tư tưởng hiểu biết mà tất cả chúng sinh cho là mình thì nó cũng thay đổi biến chuyển luôn, lúc nghĩ tưởng, khi tính toán đủ điều… chợt còn chợt mất (thọ, tưởng, hành, thức). Vây thì không lẽ mình là cái sanh sanh diệt diệt mãi như vậy sao? Vì lẽ đó kinh nói, phải thấy rõ tường tận năm uẩn (thân tâm) đều là không thì liền qua tất cả khổ ách, mà năm uẩn có chính là do có tham sân si. Khi đã biết lẽ thật ở năm uẩn rồi thì cũng rõ lẽ thật nơi vạn pháp, vì pháp tức là tâm, tâm tức là pháp, tâm pháp chẳng rời nhau; có tâm là có pháp, không tâm thì pháp cũng không. Do đó bản tánh của các pháp chính là trong lặng rỗng suốt nên nó mới dung nhiếp hết tất cả không vật gì ngoài nó. Nó luôn bất di bất dịch, không tăng không giảm. Còn thân tâm và muôn sự muôn vật thì luôn luôn sinh diệt biến hoại thảy đều là hư vọng, tuy có mà như huyễn ảo không thật.

    Chúng ta nên biết rằng, hễ cái gì là chân lý, chân thật thì cái đó hằng hiện diện cả ba thời (quá, hiện, vị) đều như vậy chẳng thay đổi và hoại diệt bao giờ, còn cái chi không thực thì luôn biến đổi chợt có chợt không, sanh diệt chẳng dừng, chúng ta quán xét sẽ thấy sắc thân và tâm thức vọng động nơi chính ta luôn như thế. Còn cái Biết Rỗng Lặng thì luôn hằng hữu từ khi còn trong bụng mẹ (7 tháng tuổi đã đủ các giác quan nên nghe mọi âm thanh bên ngoài), cho đến già nua vẫn vậy. Nhưng khi chết cái Biết Rỗng Lặng tùy theo duyên nghiệp hiện đời tạo nhân lành hay dữ mà theo đó thác sanh nơi tốt đẹp an vui hoặc xấu, ác, đau, khổ, cho nên lúc mới sanh ra sau đó thì liền biết khóc do cảm nhận thời tiết đột ngột, bức xúc thấy khổ nhọc. Cái Biết Rỗng Lặng thì trước sau không thay đổi, nhưng do vô minh che án, bị sự vận hành của nghiệp mà phải lưu chuyển trong 3 cõi 6 đường. Còn trên mặt hiện tượng vật chất trong hư không vô tận này cũng đều biến chuyển thay đổi luôn chẳng dừng trụ, từ cỏ cây, đất nước… cho dến quả địa cầu chúng ta đang trú ngụ cũng thế, nhưng vì tuổi thọ của nó hơi dài so với tuổi thọ con người, nên chúng ta thấy như vĩnh cửu, chứ thật sự nó luôn thay đổi từng sát na (thời gian rất ngắn), rồi một ngày nào đó cũng sẽ bị hoại diệt theo chu kỳ “Thành, trụ, hoại, không”. Nhưng bầu hư không vốn rỗng lặng trong suốt chẳng phải hình tướng sắc chất nên hằng hữu không bao giờ hoại mà luôn hiện diện bao bọc mọi sắc tướng.

    Bởi lẽ đó kinh Lăng Nghiêm nói: “Chân như bất thủ tự tánh, hốt nhiên nhất niệm vô minh khởi”, nghĩa là chân như chẳng giữ được tự tánh, bất chợt một niệm vô minh khởi. Phải biết rằng tánh giác (chân như) không sanh ra vô minh mà tại mê (quên) tánh giác nên vô minh dấy lên. Bởi tánh giác không sanh vô minh nên khi vô minh hết mà tánh giác vẫn hiện hữu. Rõ hơn hãy thử lấy tấm gương dẫn dụ thì dễ hiểu. Gương lúc nào cũng rỗng lặng sáng suốt chiếu soi nên mọi cảnh vật trước nó mới in hiện vào được, nhưng khi thấy những hình ảnh trên mặt gương rồi bám chấp cho những bóng ảnh ấy là thật có, theo đó mà lý lẽ cho là đẹp xấu, còn mất, có không v.v... thì liền quên mặt gương luôn rỗng lặng chiếu soi. Mà không ngờ rằng nhờ có mặt gương mới có những hình bóng trong gương, khi đã chấp nhận bóng là thật thì quên gương; trái lại rõ được gương thì không chấp bóng. Dù rằng khi có hình bóng biết nó không thực thể, nó chỉ tạm có một thời gian mà thôi. Hình bóng thì lúc có lúc không, khi bóng mất nhưng gương thì trước sau luôn hằng hữu chiếu soi không đến không đi. Vả lại, còn một dạng chấp nữa là, tuy đã biết những hình bóng trong gương không thật mà lại cố tình xua đuổi dẹp cái không thật đó thì có phải làm một việc trong mê mộng chăng? Làm như thế chẳng khác nào thấy cái bóng đó là thật rồi ! (bởi thấy bóng thật có mới diệt trừ). Chỉ khéo biết hình bóng đó là hư vọng không thật đừng bám chấp thì khỏi diệt trừ chi cả.

    Cũng vậy, thân tâm và trần cảnh đối với bản thể Chân tâm thì chẳng khác nào những hình bóng trên mặt gương vốn hư vọng không thật có. Nếu bám chấp thân tâm là thật mình, trần cảnh thật có thì sẽ quên lãng cái bản thể thường hằng rỗng lặng sáng suốt, tất nhiên đời đời sẽ bị trầm luân khổ hãi không thể tránh khỏi.

    Tất cả tâm tham sân si là biểu trưng cho các chúng sinh tự tâm của mỗi người như đã nói ở trước. Thế nên đức Lục Tổ nói: “Nếu biết rõ về chúng sinh tức là thấy được Phật tánh (chân tâm, tánh giác, rõ biết rỗng lặng)” và “Hễ biết được chúng sinh ở tự tâm thì thấy được Phật tánh ở tự tâm”. Do đó chỉ cái RÕ BIẾT RỖNG LẶNG này (luôn hằng biết), nếu ai sống được thì mỗi hành động đều thuận theo Phật tánh gọi là Trí Giác, vì trong đó không còn bốn tướng (Ngã, Nhơn, Chúng sinh, Thọ giả) nên gọi là dụng của trí. Còn nếu nghịch lại Phật tánh thì cũng biết, nhưng mà biết theo vọng động tình thức gọi là Trí Thức (hiểu biết), do đó khi tham sân si tác khởi gọi là dụng của chúng sinh. Chúng ta là người học Phật phải nhận định rõ về hai trạng thái “BIẾT” này:

    1- Luôn Luôn Biết, lúc nào cũng biết không thiếu vắng (khi ấy không có chủ thể và đối tượng).

    2- Hiểu Biết. Cái hiểu biết này có sinh ra chớ nó không hằng hữu, bởi do huân tập học hỏi từ người xưa để lại, là cái vay mượn bên ngoài đem vào ký ức mới có sanh ra hiểu biết rồi chấp giữ thành thói quen, nên khi tiếp xúc duyên hoạt động thì theo bản năng thói quen mà ứng xử; còn lúc không đối duyên thì chẳng thấy, thành thử nó khi có khi không. Tóm lại, hiểu biết là do có đối tượng (cảnh) làm chỗ để duyên thì mới có. Hễ cái gì có sinh ra ắt phải hoại diệt. Có sinh có diệt tức là hư vọng. Nếu nó thật có thì luôn luôn hiện diện không lúc nào vắng, nhưng thực chất khi đủ duyên nó liền có, khi hết duyên nó liền không. Chợt có, chợt không tức chẳng phải mình. Xét cho cùng thì cũng từ nơi bổn tâm mà ra, nhưng do không giữ được tự tánh tỉnh liền bất giác vọng động theo duyên chấp âm thanh sắc tướng thành sai khác.

    Trong lúc còn mê lầm tâm vọng động làm theo bản năng vì không rõ đâu là thiện, là ác, đâu là chánh là tà nên dễ bị đọa lạc. Sau khi giác ngộ định tâm thấy rõ lẽ thật các pháp, tà ác dẹp, chánh thiện làm để lợi ích nhân sinh, nên nói là dụng của trí tuệ. Ngài Văn Thù tượng trưng cho trí tuệ, còn con Sư tử Ngài cưỡi là ám chỉ cho sức mạnh (dụng) trí tuệ. Sư tử là loài thú rất mạnh mà người đời thường gọi là chúa sơn lâm, tiếng rống của nó làm cho các cầm thú khác phải kinh sợ. Thế nên khi cần làm lợi ích thì dùng nó, lúc không cần thì để nó an định đừng khởi động.

    Con Sư tử thành yêu tinh là vì không có Ngài Văn Thù bên cạnh. Cũng vậy khi không có trí tuệ hiện diện thì mọi hành vi thân, khẩu, ý biến thành cái dụng hư vọng do tham sân si ngự trị sai khiến ứng xử tà vạy. Khi tâm đã an định, trí tuệ hiện hữu thì mọi hành động trong cuộc sống đều là diệu dụng Chân tâm lưu xuất chứ không phải do tâm vọng thức miên man hành động theo bản năng. Vì thế ngài Văn Thù nói với Tôn Hành Giả là yêu tinh do Phật chỉ sai chớ nó không có trốn. Thế nên mọi động dụng đều phát xuất từ tâm, nếu biết dùng đúng chỗ thì đó là diệu dụng bổn tâm. Ông Bàng Uẫn có làm bài kệ nói ý này:

    Hằng ngày không việc khác

    Chỉ tôi tự biết hay

    Vật vật chẳng bỏ lấy

    Chỗ chỗ nào trái bày

    Đỏ tía gì làm hiệu

    Núi gò bặt trần ai

    Thần thông cùng diệu dụng

    Gánh nước bửa củi tài.

    Tóm lại, nếu tất cả mọi hành vi thân, khẩu, ý trong cuộc sống mà có ái nhiễm chấp mắc trong đó tức là theo bản năng vọng thức (nghiệp) chứ không phải từ Tâm chân thật.

    Chân và vọng là hai danh từ đối lập do người xưa tạm lập phương tiện để dẫn dắt chúng sinh. Bởi chúng sinh chưa sống được với cái sáng suốt an định hằng hiện thực nơi sáu căn là do bất giác vọng động. Nghĩa là mê quên đi chân giác, từ đó vọng niệm sanh khởi tiếp nối gọi là vọng giác (cái biết hư vọng). Nhưng vọng giác vốn không thực thể (chợt khởi, chợt mất) nên nó chẳng rời chân giác, giống như người chạy xe trên đường lầm phương hướng, bởi do có con đường mới có lầm, nếu không có con đường thì chắc chẳng lầm vậy. Cũng thế, phàm phu vì có mê nên nói có giác, nếu không mê thì danh từ giác cũng chẳng lập.

    Song, chúng sinh nhờ có tâm bất giác vọng động này nên mới phân biệt danh từ và nghĩa lý của các pháp. Cũng nhờ thế mà Phật, Tổ mới vì chúng sinh đời sau nói ra chỗ bất giác đó có cái chân giác đã sẵn ở mỗi người. Nếu lìa bất giác vọng động thì không thể nào chỉ ra chân giác được. Cũng như sóng và nước trên mặt biển chẳng phải hai, rời nước thì không thể có sóng, rời sóng thì không thể biết được nước. Đó là nói khi ý thức đã chuyển hướng về tâm sở thiện hay năm tâm sở biệt cảnh hầu mong đạt đến giác ngộ giải thoát.

    Lúc mê lầm thì toàn chân tức vọng, khi giác ngộ thì toàn vọng tức chân, giống như vàng ròng làm ra những món đồ trang sức, do vì trẻ con (phàm phu) vô trí chỉ thấy xấu đẹp trên mẫu mã mà quên đi tính chất quí của vàng, rồi từ đó sanh ra chọn lựa, giả thật chẳng rõ, phát khởi đối lập trên nhị nguyên tương đãi. Song, đối với người lớn (Phật, Bồ Tát) thì sáng suốt rõ biết những đồ trang sức đó dù đẹp hay xấu cũng chẳng ngoài vàng mà có, thành thử không chấp nê trên mẫu mã. Cho nên hãy ngay nơi vọng mà thể nhận chân. Nhưng khi đã rõ được thật tướng toàn chân thì chẳng còn thấy có chân, có vọng, vì vốn không một vật. Nếu còn thấy có chân thì chẳng phải thật chân vậy. Bởi vì nếu còn thấy thật có chân thì vẫn là vọng, vì chân hay vọng gì cũng là huyễn tướng chẳng phải thật tướng. Muôn pháp đều nằm trong nhị nguyên tương đãi là hư vọng huyễn ảo. Nếu thấy đây là chân kia là vọng tức chẳng thoát khỏi pháp chấp thì vẫn chưa đến cứu cánh rốt ráo. Tóm lại, nếu theo tục đế thì thấy có, thấy không, thấy chân, thấy vọng; nhưng theo chân đế thì chân hay vọng cũng không thể nói có, nói không được. Thấy có chân có vọng là đối với người mê chớ không phải đối với người giác, chẳng khác nào như hoa đốm trong hư không chỉ có đối với người bệnh mắt, chớ nó không có đối với người mắt sáng. Thành thử chân, vọng chẳng qua là hai trạng thái của nhất tâm mà thôi. Từ đây ta có thể suy ra sắc và không, mê và ngộ v.v... cũng thế.

     

  • 15. Thất tình

    THẤT TÌNH

     

    Trên thế gian đa số chúng ta đều bị lưới thất tình bủa vây từ khi mới lọt lòng. Đó là qui luật chung của nhân loại. Nói theo cách của nhà Phật thì gọi là cộng nghiệp chung cả thế giới này, nhưng bị ít hay nhiều là do sự huân tập thành biệt nghiệp ở mỗi người.

    Bởi chúng đẹp đẽ hào nhoáng dàn trải trước mắt, do nghiệp cảm nên con người luôn bị chúng khích động, chúng bao quanh ta như những vòng lưới vô hình, một khi đã lọt vào thì khó mà thoát ra được, cứ dùng dằng mãi đến khi nào sức mỏi hơi tàn rồi chịu chết.

    Ở đây Ngô thừa Ân mượn chuyện bảy yêu tinh nhền nhện để nói lên việc thất tình. Xin lược dẫn một đoạn ở hồi 72-73.

    Mấy thầy trò đến một thôn trang, mọi khi Đường Tăng sai đồ đệ vào xóm khất thực, nhưng hôm nay lại tự đi vì thấy thôn trang trống trải nên không sợ... Khi đến trước nhà thí chủ, gặp mấy người con gái Đường Tăng chẳng dám lên tiếng, sau đành phải gọi để xin cơm. Các cô đang đùa giỡn, nghe có tiếng người vội đi ra cửa thì gặp Đường Tăng, liền mời vào và thưa hỏi như người biết đạo. Đường Tăng đi theo vào nhà, các cô làm cơm mặn đãi. Đường Tăng từ chối không ăn bỏ đi ra, liền bị các cô phun lưới trói cứng, treo lên sàn nhà. Té ra là bảy yêu tinh nhền nhện... Tôn Hành Giả thấy thầy đi lâu quá mà không về liền nghi có chuyện không ổn nên đi tìm. Khi đến căn nhà đầu thôn chỉ thấy những mạng nhện dầy đặc, biết thầy mình bị nạn... Nói về Đường Tăng, khi bảy yêu tinh đi tắm mát xong mới về làm thịt ăn mừng. Tôn Hành Giả và Bát Giới tìm đến chỗ yêu tinh tắm để đánh. Riêng Bát Giới gặp bảy yêu tinh đang tắm dưới hồ thì sanh tâm tà vạy, xuống đùa giỡn, trêu cợt liền bị mấy yêu tinh phun lưới trói không nhúc nhích. Tôn Hành Giả đến sau thấy vậy tiến đánh, dùng thuật cuộn hết những dây tơ, yêu tinh hoảng sợ chạy đến tá túc nhà một yêu tinh khác. Tôn Hành Giả cứu thầy và mấy sư đệ xong, lại khởi hành đi tiếp. Đến tối thấy có một nhà ở cuối thôn, mấy thầy trò vào xin tá túc, nhưng không ngờ nhà này cũng là nhà của một yêu tinh mà bảy yêu nhền nhện đến ẩn náu và cầu xin giúp đỡ để trả thù... Mấy thầy trò Đường Tăng do vì không biết nên bị yêu tinh thuốc chết, chỉ có Tôn Hành Giả không bị trúng độc nên đánh diệt hết bảy yêu nhền nhện, còn một yêu tinh chủ chạy thoát... Tôn Hành Giả tìm thuốc cứu Đường Tăng và các sư đệ...

    Lược dẫn một đoạn ta thấy thất tình nó đã có sẵn khi chưa lọt lòng mẹ, vì không có trí tuệ nên bị chúng trói buộc, giống như Đường Tăng bước vào nhà của bảy yêu nhền nhện rồi không trở ra được. Ở đây tác giả viết Đường Tăng đi khất thực mà không để mấy đồ đệ đi là có chủ ý. Bởi vì giai đoạn này Đường Tăng ám chỉ cho tâm thức còn chủng tử mê chấp (tạng thức) chưa sạch trong hoàn toàn. Cho nên khởi sự của việc thác sanh thân sau là bởi tâm thức bị hành nghiệp dẫn đi trước để nhập thai. Mà hành nghiệp đó chính là chủng nhân thất tình nằm sẵn trong tâm thức. Vì lẽ đó tác giả để Đường Tăng khởi sự đi khất thực là ý này.

    Là người hành đạo nếu không khéo cũng giống như Bát Giới, lúc chưa gặp yêu tinh thì đòi đánh, nhưng khi gặp rồi lại hòa cùng đùa giỡn nên bị nó trói không nhúc nhích vậy.

    Cũng thế, lúc mới phát tâm tu kiên quyết loại trừ thất tình không để hệ lụy vướng mắc, nhưng khi chạm duyên đối cảnh nếu không bền lòng vững chí và trí tuệ hiện hữu thì sẽ giống như Bát Giới bị trói chân không tiến được, nhiều khi phải chết vì chúng nữa.

    Thất tình là bảy thứ tình cảm của con người. Nó phát sinh từ chủng tử sâu xa thuở quá khứ, nên thân này vừa sanh ra thì nó cũng đồng thời hiện hữu. Thất tình thật tế nhị, thầm lặng ít ai rõ biết được bản chất thực của nó, do vì tiêm nhiễm huân tập nhiều đời kiếp thành ra như bệnh mãn tính khó trị liệu, nhưng đối với ai có nghị lực và ý chí dũng mãnh thì có thể chuyển hóa được. Thất tình là:

    1- Mừng: Tâm trạng rất thích thú vì được như mong muốn. Vui vẻ hớn hở khi gặp dịp may mắn hay hoàn thành một công việc nào trọng đại nên tâm phấn chấn sung sướng thỏa mãn trong lòng.

    2- Giận: Là hờn dỗi, phiền muộn, bực bội, oán thù, sân hận do những nghịch cảnh làm cho không vừa lòng hay trái ý.

    3- Lo: Một trạng thái không yên lòng vì phải bận tâm lo lắng một điều gì không hay có thể xảy ra, hoặc lo nghĩ, tính toán về điều này việc nọ.

    4- Sợ: Là trạng thái bất an. Những hoàn cảnh làm khũng hoảng tinh thần nên kinh hoàng sợ sệt, không yên lòng do thấy hay biết trước điều không hay nào đó có thể xảy ra.

    5- Yêu: Có tình cảm quí mến đằm thắm với một đối tượng nào đó nên khởi niệm yêu thương, trìu mến; gặp người vừa ý hợp nhãn sanh lòng luyến ái trộm nhớ thầm thương.

    6- Ghét: Có ác cảm, không ưa thích, như người hoặc cảnh làm trái ý nghịch lòng, sanh tâm ghét bỏ, ganh tỵ,  tật đố. Trái với yêu.

    7- Muốn: Sự đòi hỏi, khát khao, mong muốn được đáp ứng đầy đủ tất cả theo sở thích. Gặp những gì vừa ý đẹp lòng liền muốn đem về cho mình, bất kể mọi trở ngại khó khăn.

    Bởi vì chúng rất tế nhị và thầm lặng nên chúng ta khó nhận thức được khi chưa có trí tuệ thấy đúng lẽ thật các pháp. Giống như các yêu tinh thưa mời mềm mại nhẹ nhàng như người biết đạo, thành thử Đường Tăng tưởng là người tốt bụng mới vào nhà thì liền bị bắt.

    Thật ra thất tình là chỉ cho tâm ba thời của chúng sinh (tâm quá khứ, hiện tại, vị lai). Tâm quá khứ là chỉ cho nỗi lo lắng, hối tiếc, nghĩ tưởng những việc trong cuộc sống trước đó như mừng giận, yêu ghét v.v... Tuy nó đã qua nhưng chúng ta vẫn cứ lo và sợ. Ví như mình thương ai thì hay lo lắng cho người đó và sợ mình với họ xa cách không được gần gũi; từ đó suy ra mừng, giận, ghét cũng vậy. Tâm hiện tại là những trạng thái mừng giận, yêu ghét v.v... luôn luôn thay đổi bất chừng không cố định. Tâm vị lai là mong muốn đòi hỏi, khát khao, không ngoài những thứ như tài, sắc, danh v.v..., hay có những việc chưa đến lại lo nghĩ tính xa vời. Những trạng thái tâm đó dù là người trong đạo Phật hay không phải đạo Phật đi nữa thì chúng vẫn hiện diện, vì đó là một dạng tâm lý chung của nhân loại.

    Bởi lẽ muốn vạch trần sự thật nơi con người, khai thác cái u uẩn thầm kín trong lòng người thì thử hỏi khoa học có làm được rốt ráo chăng? Thiển nghĩ chỉ có nghiên cứu đạo Phật và thâm nhập yếu chỉ của Phật pháp thì mới  thấu rõ được lẽ ấy.

    Thời đại khoa học bây giờ tiến triển thay đổi quá nhanh mà bảy thứ tình cảm của con người ta thấy nó không thay đổi chút nào. Cách đây mấy ngàn năm con người sống trong bảy thứ tình cảm này, thì cho đến bây giờ cũng y vậy và mai sau chắc không đổi khác. Xét kỹ bảy thứ tình cảm này không ngoài ba thứ tham sân si ở lòng. Ngày xưa con người có tham sân si thì bây giờ cũng y vậy, trừ phi người biết cách chuyển hóa thì ngược lại có khác. Đạo Phật có tồn tại đến ngày nay là vì đạo Phật nói lên lẽ thật thân tâm của con người và phương cách giải quyết về các vấn đề sinh lão bệnh tử ở con người, hầu vượt khỏi khổ não để đạt đến giác ngộ an vui vĩnh cửu, do đó ta thấy giáo lý đạo Phật không có lỗi thời. Bởi vì Đức Phật khi giác ngộ, Ngài đã thấy đúng lẽ thật các pháp và rõ tận thâm tâm của tất cả chúng sinh là một dòng chuyển biến liên tục không dừng luôn luôn sinh diệt, nên Ngài cảm thương chỉ rõ những lẽ thật ở tâm hồn của con người, để con người biết mà chuyển hóa đừng ái chấp vướng mắc, hầu sớm được giác ngộ giải thoát như Ngài. Nếu ai chối bỏ không chấp nhận đạo Phật là người đó chối bỏ tâm hồn của họ, trong khi đó chính họ đã cưu mang và đang sống với tâm hồn. Như vậy bảy thứ tình cảm chính là tâm hồn của con người hay năm dạng chúng sinh tâm ở đầu trong chín dạng đã nói ở trước.

    Hình như tất cả chúng sinh đều lấy bảy thứ tình cảm này làm sự sống, nếu thiếu chúng thì con người không còn muốn sống làm chi, nhờ những thứ đó họ mới phấn khởi mà thích sống, dù có đau khổ gì đi nữa họ cũng cam phận chớ không chịu từ khước để chuyển hóa. Nhưng khi họ hớn hở sống với bảy thứ tình cảm này thì họ cảm thấy có một cái gì dằn vặt tâm hồn, cho dù họ có đầy đủ tất cả vật chất để hưởng thụ song vẫn cảm thấy bất an. Vì sao? Vì ba thứ “già, bệnh, chết” đang đe dọa họ. Bởi khi va chạm nhiều về đời sống vật chất tầm thường, con người vẫn phải tìm một cái gì vượt hẳn vật chất; thế là người ta đã tìm đến đời sống tâm linh hầu mong cõi lòng được nhẹ nhàng, an lạc. Để giải quyết vấn đề này, Đức Phật mới thị hiện ra đời vì chúng sinh mà phương tiện diễn nói giáo lý chỉ rõ nguyên nhân từ đâu có sanh, già, bệnh, chết và cách chuyển hóa để thoát ra. Đó là bài pháp nói cho năm người nghe đầu tiên tại vườn Lộc Uyển là Tứ Diệu Đế (bốn sự thật đúng đắn quí báu nhiệm mầu) và những bài pháp sau này Ngài ngụ ngôn, ngụ ý để chỉ cho tất cả chúng sinh ai ai cũng có Tâm Phật sẵn tự hồi nào đến giờ luôn hằng hữu mà từ lâu chúng sinh quên lửng, do vì lầm nhận sống theo vọng động thức tình nên mới có bảy thứ tình cảm này phát sinh.

    Từ chỗ tâm ý vọng động có sai biệt mà con người thể hiện khác nhau trên báo thân (thân hiện tại), do đó gương mặt mỗi người không ai giống ai, cho đến tư tưởng, cử chỉ hành vi cũng sai biệt, vì vậy trong cuộc sống trên mặt hình thức lẫn tâm hồn có thiên hình vạn trạng. Nhưng có điểm giống nhau là tâm hồn của con người đều mang bảy thứ tình cảm này chỉ ít hay nhiều thôi. Cho nên ở trong gia đình dù là cha con, vợ chồng hay anh em, chúng ta phải biết chọn lý trí chân thật làm chánh yếu, chớ đừng nghĩ thấy mình lớn rồi bắt người nhỏ phải nghe theo, bắt nó làm những điều bất chính không đúng với lương tâm, hợp với chánh đạo. Hay ngược lại tuy có người nhỏ tuổi nhưng có những lời lẽ và hành động đúng chánh lý thì người lớn cũng phải biết tiếp nhận để ứng dụng. Do có cái nhìn như thế mới thông cảm lẫn nhau với mọi người đang sống quanh mình, đừng bắt họ phải giống y khuôn như ý mình muốn. Nếu bắt họ giống như mình mà họ chẳng giống thì tự chuốc lấy khổ thôi ! Vì tư tưởng không ai giống ai thì làm sao như ý mình được? Mỗi thế hệ và mỗi thời đại con người theo đó mà có sự nhận thức sai biệt và đời sống của mỗi người cũng mỗi khác, cho nên phải biết cảm thông và tôn trọng nhau, thì trong gia đình mới yên vui hạnh phúc và ngoài xã hội sẽ bình an. Nói thế chớ chẳng qua là có người biết chuyển hóa để thành cao thượng hay là chưa chịu chuyển hóa mới có những hành động và ý nghĩ không sáng suốt tốt đẹp vậy thôi.

    Là người hành đạo phải dùng trí tuệ thấy biết lẽ thật cội nguồn của chúng, thấy được cội nguồn tức là thấy được bản chất, thấy được bản chất là thấy được tự tánh, mà thấy được tự tánh là không còn dính mắc, không dính mắc trói buộc là dứt mầm đau khổ, thì mới phá tan sào huyệt của chúng được, giống như Tôn Hành Giả gọi Thổ địa đến hỏi để biết nó là yêu tinh gì mà dùng thủ thuật đánh phá là vậy.

    Cho nên có bài cảnh tỉnh rằng:

    Ai biết chăng ! Dòng đời đầy cạm bẫy.

    Có gì vui mà lận đận đua tranh.

    Nếu mai kia hơi thở đã trút tàn.

    Thì tay trắng lại vẫn hoàn tay trắng.

    Thân tứ đại trả về cho tứ đại.

    Rồi chỉ còn hành nghiệp đã gieo mang.

    Sao Ai lại không hồi đầu tỉnh giấc!

    Mà âm thầm mê mộng mãi sầu đau.

    Đến đây xin nói rộng một chút. Có một chuyện rất dài nhưng xin đại lược ít đoạn, vì thấy nó nói lên ý nghĩa thất tình này và ý cũng nói ở chỗ chăn ngựa hay uống nước dòng sông ái. Đây tuy là chuyện nghe kể lại nhưng không biết có thật hay không. Vì theo thiển ý tôi chuyện cũng nói lên ít hay nhiều trong bảy thứ tình cảm của nhân loại.

    Chuyện xuất xứ bên nước Đại Hàn. Một buổi sáng tại tự viện nọ ở lưng chừng núi, có mấy chú sư tiểu đang quét sân thì một sư huynh dáng người to lớn nói: “Hôm nay các chú quét sân cho sạch sẽ để sáng sớm ngày mai có tiểu thư con quan Tể tướng đến lễ Phật trước khi về nhà chồng nghe!”. Rồi ông sư huynh tả hình dáng cô tiểu thư rất đẹp tên là Telsa và không biết ai được diễm phúc cưới cô... cho các huynh đệ nghe. Trong lúc đó có chú Sa Di xuất gia từ nhỏ, nay đã lớn thành một ông tăng oai nghi chững chạc tên là Rosil lo việc nhang đèn cúng Phật ở Bửu điện. Do vì nghe được câu chuyện sư huynh kể, ngay đêm đó khi quí thầy đang yên giấc, chú ngồi dậy lén mở cửa chùa và mặc chiếc áo tơi xuống núi trong đêm khuya. Dưới ánh trăng chú đi mãi, đi mãi bỗng thấy trước mặt đèn đuốc sáng rực nên không biết nơi đó có việc chi liền đi lại xem, mới biết đây là dinh của quan Tể tướng chuẩn bị tổ chức ngày mai đưa con mình về nhà chồng, mà người rể của ông là một kiếm sĩ. Rosil trà trộn vào đám người tới lui bận lo việc đám cưới, rồi len lỏi đi tới tận dinh Tể tướng... Bỗng Rosil nghe tiếng hát của người con gái đang vui bên phòng, Rosil len lén tìm đến xem trộm thì biết đây chính là cô tiểu thư con của Tể tướng, vì vóc dáng giống y như sư huynh kể. Rosil liền động lòng, có ý mong muốn chiếm đoạt cô trong đêm nay trước khi làm lễ cưới. Liền khi ấy, có đám mây đen bay ngang qua che phũ ánh trăng đang sáng, và một luồng gió mạnh thổi vào phòng làm các ngọn nến đều tắt, thừa cơ hội Rosil hòa mình theo ngọn gió nhảy qua cửa sổ vào ôm cứng tiểu thư. Trong đêm tối cô lại nghĩ rằng trong dinh mình không có ai dám vào, trừ ra vị hôn phu đến để ngày mai rước mình mà thôi... hay là chàng đến... đến để... Thế là cả hai bị áng mây vô minh phũ kín và bởi luồn gió dục vọng thổi mạnh (tư tưởng vọng động nhiều) cuốn hút nên cả hai không kiềm chế được bản thân mà biến thành một trận mây mưa sanh tử..... Sau đó Telsa mới biết mình lầm lẫn, còn Rosil thú thật lòng đã thương cô, nên hai người dắt nhau bỏ trốn ngay trong đêm. Vì thời đó người nữ thì phải khuê môn bất xuất, và hôn nhân phải môn đăng hộ đối, nếu cô ở lại sẽ làm mất danh dự gia phong, mang tiếng xấu trong gia tộc nên phải đành gom ít tư trang ra đi.

    Hai người đi đến một nơi xa lạ, đổi tên họ và làm ăn cũng khá giả và sinh được một trai, một gái. Một hôm vào mùa đông, cả gia đình đang ăn chiều bỗng nghe tiếng niệm Phật văng vẳng... Bất chợt Rosil nhớ lại cảnh chùa hơn mười năm về trước và nghĩ rằng không biết giờ này vị sư nào đi hóa duyên khi chiều tối tuyết đã xuống. Rosil đem thức ăn ra cửa cổng chờ vị sư đến cúng dường. Khi trao thức ăn, Rosil nhìn kỹ thì ra là sư huynh mình năm xưa, liền mời vào nhà hỏi thăm. Sư huynh nói: “Từ khi chú bỏ chùa ra đi, sau vài năm sư phụ mất, tôi thì lôi thôi nên bị đuổi, còn Tể tướng ra lệnh ai mà lấy đầu của chú và tiểu thư về sẽ được trọng thưởng”. Rosil nghe nói sợ quá liền mời sư huynh ở lại chơi vài ngày, phần lo sợ và buồn không biết tính thế nào nên Rosil mượn rượu giải sầu...

    Một hôm Rosil có việc đi vắng, Telsa ở nhà một mình đem thức ăn vào phòng sư huynh. Sư huynh thấy Telsa nên sinh lòng ham muốn bèn đến ve vãn nắm tay. Bất chợt Rosil về thấy cảnh tượng như thế thì sư huynh chối quanh. Rosil liền nghĩ phải thủ tiêu tên này, nếu không nó sẽ cướp mất vợ mình mà thân mạng mình cũng khó sống. Tối đến, sẵn hơi men còn ngà say, Rosil cầm dao đến phòng sư huynh, sư huynh thấy sợ hăm he nói: “Nếu chú mà động đến tôi, tôi sẽ báo quan Tể tướng thì mạng chú không yên đâu!” Nghe câu đó Rosil càng phải ra tay, vì không giết hắn thì mình sẽ lộ tông tích. Thế là Rosil liền thủ tiêu sư huynh rồi phi tang không ai biết.....

    Thời gian trôi qua tưởng như đã lắng dần câu chuyện cũ. Một hôm Telsa ra chợ mua bán bất chợt gặp lại vị hôn phu cũ, nàng hoảng sợ chạy về nói với Rosil phải trốn đi tức khắc. Riêng vị hôn phu của cô là Moré, sau khi thấy bóng dáng cô liền đuổi theo. Telsa về nhà cùng chồng tức tốc gom hết tư trang và dẫn con chạy trốn ngõ sau, nhưng lại gặp Moré đang chống kiếm chờ đợi. Rosil sợ quá quỳ xuống không nói một lời, còn Telsa thì ôm hai con vào lòng. Moré đến chỗ Rosil, rút kiếm ra ném trước mặt và nói giọng đanh thép: “Hãy tự quyết định lấy!”. Rosil điếng người, liền nghĩ liều mạng nên nhanh tay lấy gươm chém Moré một nhát. Do bất cẩn Moré bị trọng thương ngã xuống; hai người vội vã dẫn con chạy, bỏ quên lại gói tư trang...

    Hai người trốn đến một nơi hoang dã phá rừng trồng trọt để sinh sống, vì không thành thạo việc nên bị thiếu ăn. Vào buổi chiều mỗi người ăn chỉ một bát cháo trắng, Telsa đi làm về mệt ngồi chờ cháo nguội. Đứa con trai lớn húp hết tô cháo mà còn cảm thấy đói, nó hau háu nhìn bát cháo của mẹ. Mẹ nhìn con thông cảm, liền đẩy bát cháo qua cho con, nó nhìn mẹ hồi lâu rồi bưng tô cháo đưa lên miệng húp lấy húp để. Rosil đang ăn liền ngừng tay tát nó một cái thật mạnh và hét lớn: “Bộ mầy định giết mẹ mầy hay sao?” Thằng bé bị cái tát té nhào xuống vách nhà văng cả bát cháo. Telsa liền chạy lại ôm con vào lòng âm thầm khóc, nghĩ rằng: “Trong đời hồi nào đến giờ mới thấy cảnh đau xót thế này”...

    Một hôm vì đói quá, tối đến nó vào nhà hàng xóm ăn trộm khoai, chủ nhà không biết đánh nó vỡ đầu bất tỉnh, hai vợ chồng ôm con về chờ chết chớ không tiền chạy chữa... Thấy sống ở đây không được nữa nên dọn nhà đi nơi khác. Trên đường đi họ thấy một gốc cây to, vì mệt mỏi nên đến đó nghỉ mát. Rosil chợt nhớ về cảnh chùa, hồi ở chùa đâu có khổ thế này! Đang lúc nghĩ ngợi miên man, Rosil như kẻ mộng du đi đến Telsa bóp cổ nàng và nói: “Tại mầy mà tao phải khổ như vầy…”. Telsa không nói năng gì, chỉ có đứa con gái còn lại vừa la, vừa đánh ba nó, lúc đó Rosil mới chợt tỉnh hồn, không biết mình vừa rồi làm gì nữa, chàng bèn xin lỗi Telsa... Hai người đến một nơi xa lạ, không biết làm gì sinh sống khi vốn liếng không có, nên Telsa phải bán thân vì còn chút ít nhan sắc, còn Rosil thì làm kẻ dắt mối và say sưa tối ngày. Một hôm Telsa soi gương thấy nhan sắc tàn phai và lông mày đã rụng mới biết mình bị bệnh hũi. Đêm đó Telsa viết lá thư để lại rồi dẫn đứa con đi mất. Rosil tỉnh dậy không thấy vợ con chỉ thấy bức thư, lấy đọc thì biết vợ con đã bỏ đi. Rosil như người mất hồn, nghĩ là mình mất hết tất cả nên không muốn sống, tính quyên sinh cho rồi. Nhưng ngẫm lại như vậy là quá hèn nhát, và tự nghĩ từ khi bỏ chùa ra đi cho đến nay đã tạo tội quá nhiều, thôi thì tìm lại Moré cho y giết mình để trả bớt đi một phần tội lỗi... Nhưng khi gặp lại Moré, cả hai nhìn nhau thấy thân tướng đều tàn tạ. Rosil quỳ trước mặt Moré để xin một ân huệ cuối cùng, nhưng Moré không giết chỉ chém đứt tóc rồi bỏ đi. Rosil cùng đường muốn chết mà người thù mình còn không muốn giết nên đau khổ cùng cực... Chợt bỗng thốt lên “À ! chỉ có chùa, chỉ có chùa mới cứu mình”, bèn tức tốc tìm đường trở về chùa xưa...

    Rosil chờ cho trời tối hẳn mới dám vào chùa vì đã  hơn mười năm xa cách cảnh trí thay đổi lạ. Khi quý thầy đang yên giấc, Rosil lén mở cửa rào và rón rén vào tận nơi chánh điện quỳ trước tượng đức Thế Tôn khóc nức nở, van xin Ngài từ bi tha tội. Chàng quỳ khóc như thế đến mỏi mòn và ngất đi lúc nào không hay biết... Mãi đến sáng, ánh sáng từ khe hở cánh cửa chiếu rọi vào mặt, Rosil mới giật mình tỉnh giấc, hết hồn vì đã lén vào chùa không ai hay, sáng ra nếu các sư nói mình ăn trộm thì biết làm sao bây giờ! Rosil ôm đầu tính chạy, tay vừa chạm đầu thấy chẳng có tóc, và nhìn lại thấy mình mặc quần áo của nhà sư. Bỗng nghe có tiếng bên ngoài gọi vang: “Sáng rồi sao không mở cửa quét dọn để đón tiếp Tể tướng mà giờ này còn ngủ”. Rosil nghe nhận ra là tiếng của sư huynh mình, lúc đó mới hoàn hồn tỉnh lại, thì ra là một giấc mộng!...

    Sáng ra các vị sư trong chùa đứng hai hàng để tiếp đón Tể tướng và tiểu thư, Rosil sợ run cả người đứng không vững, mặt cúi gằm xuống chẳng dám nhìn lên và nghĩ không biết đây là thực hay mơ, chỉ đứng trơ người ra, đến nỗi sư phụ lấy quạt gõ vào đầu bảo: “Sao không đi còn đứng đó !”. Rosil mới tỉnh hồn theo thầy lên chánh điện hành lễ.

    Qua mẩu chuyện trên cho ta thấy ý nói lên việc thất tình đủ cả. Như Rosil khi nghe tả hình dáng của Telsa liền sanh tâm MONG MUỐN chiếm đoạt Telsa; gặp mặt rồi sanh tâm YÊU THƯƠNG (hai người ân ái); được thương yêu gần gũi thì MỪNG (hai người sống bên nhau đầy đủ hạnh phúc); đang sống bên nhau hạnh phúc gặp việc không may có thể xảy ra thì LO LẮNG , nghĩ tính điều này việc nọ (nghe sư huynh kể lại chuyện Tể tướng truy tìm nên Rosil lo lắng mượn rượu giải sầu); sau đó lại SỢ Telsa bị kẻ khác cướp đoạt phải khư khư giữ lấy, hay sợ bị trả thù nên mới có hành động trái đạo lý (chém Moré và giết sư huynh); lúc gặp những nghịch cảnh trái ý liền GIẬN HỜN (bóp cổ Telsa) và GHÉT MẮNG (đánh con).

    Đây tuy là chuyện kể hư thực ra sao không rõ, nhưng nó nói lên thực tế ngay cuộc sống ở thế gian mà nhân loại phải vướng lụy hoặc ít, hoặc nhiều như mẩu chuyện này với tên gọi là MỘNG. Thực vậy, đâu có khác gì một giấc mộng dài trong cuộc sống của con người bảy, tám mươi năm qua những hoàn cảnh thăng trầm không ngoài bảy thứ tình cảm này, nhất là ham muốn một trong bảy thứ ấy. Chúng rất mềm mại nhẹ nhàng, nhỏ nhiệm tế vi, giống như những sợi tơ mạng nhện giăng lưới bắt mồi vậy. Khi các con bướm, muỗi… vướng vào thì cứ dùn dằn đến khi sức mỏi hơi tàn thì đành chịu chết, chớ không thể nào ra khỏi mạng nhện. Con người chúng ta cũng thế, khi vướng vào mạng lưới của thất tình, khởi đầu cảm thấy êm ái dễ chịu lắm, nhưng lâu ngày chầy tháng mới cảm thấy vướng víu bận bịu chẳng được thanh thản thảnh thơi, càng nhúc nhích cựa quậy để chuyển thân thì lại càng dùn dằn đu đưa, chỉ này lại vướng lấy tơ kia làm cho lòng thêm rối. Khi rối lại càng cựa quậy gỡ rối, nhưng càng nhúc nhích thì lại càng rối thêm làm cho thân tâm bất an khốn khổ.   

    Trong cuộc đời từ lúc biết cảm xúc, chúng ta đã sống với nó theo bản năng của nghiệp khó mà tự chủ để chuyển hóa, bị nó xoay chuyển hết một quãng đời, rồi lại nối tiếp sang đời khác không lúc nào dừng nghỉ. Từ các ham muốn nơi bản thân, như mong muốn cho sắc thân này đẹp đẽ, tráng kiện, không bệnh tật, trẻ mãi không già, muốn ăn sung mặc sướng, muốn sống hoài không chết... Cho đến những cái bên ngoài cũng mong muốn đem về cho mình, như những vật chất chưng diện làm đẹp, làm sung sướng bản thân, cho đến danh vị, thậm chí cái gì hợp ý vừa lòng thì lại mong muốn chiếm đoạt để thỏa mãn dục vọng. Hơn nữa, có người ham muốn cầu mong tu hành làm sao để biết được quá khứ, vị lai, rõ biết tâm người nói hung kiết, muốn độ cho người hết khổ và muốn đủ thứ muốn. Vì thế Đức Phật nói ở cõi này là cõi dục. Tức cõi đầy tham vọng mà phàm phu ai ai cũng vướng mắc ái nhiễm. Đó là nói sự tham cầu theo dục vọng của chúng sinh. Nhưng trong đạo Phật cũng có nói đến sự mong muốn như trong 37 phẩm trợ đạo có đề mục là “Dục như ý túc”, tức là mong muốn một cách thiết tha cho đến khi nào mãn nguyện mới thôi. Mong muốn này không phải như mong muốn theo dục vọng của thế tình, mà là mong muốn vượt ra khỏi khổ đau, hướng đến mục đích đã nhắm, mong thành tựu những pháp Thiền định của mình tu tập. Vì vậy sự mong muốn này là hướng thượng đẹp đẽ, thanh cao nên hợp lý, đáng khuyến khích. Nếu không có sự mong muốn thiết tha mãnh liệt này thì khó mà đạt đến mục đích như ý nguyện.Tuy nhiên đó chỉ là những phương tiện quyền biến của chư Phật ba đời để cho những chúng sinh đang trôi lăn trong biển mê nương theo đó mà dần dần tiến lên đến giác ngộ giải thoát cứu cánh.

    Song, người hành đạo nếu chọn cái nhân tham để tu thì không thể nào đạt được kết quả giải thoát. Vì giải thoát là trong đó không còn bóng dáng của tham sân si, nếu còn có tâm tham tức là chọn chưa đúng nhân giải thoát. Cho nên tu đúng với chánh pháp là không có được, không thêm cái gì cả mà chỉ nhận lại nơi mình cái linh tri rỗng lặng xưa nay hằng hiện hữu, do mê lầm từ lâu quên lãng, và thấy lẽ thật của muôn sự muôn vật xưa nay không có trói buộc vướng mắc mình, bản thể nó vốn tự rỗng lặng bất động.

    Kế nữa là SỢ. Trong cuộc sống nếu chúng ta mong muốn nhiều thì sợ cũng lắm. Có sắc thân tráng kiện khỏe mạnh thì sợ đau yếu, có sắc diện đẹp đẽ lại sợ xấu, sợ già nua, sợ đói rách; người mình thương thì sợ xa lìa; đến nữa là sợ cô đơn nên mới tìm đối tượng hợp nhãn vừa ý để hũ hỉ có nhau, rồi sợ thua kém không bằng mọi người. Trong giao tiếp làm ăn sợ công việc không được suôn sẻ, lại sợ thiên tai, sợ chiến tranh và sợ ma nữa. Cho đến trong việc tu hành không khéo chúng ta cũng sợ, như là sợ mình tu không tiến, sợ vọng tưởng, sợ vọng tưởng không dừng, sợ mình không bằng các huynh đệ, sợ dính mắc các pháp, sợ mình không giác ngộ, không được giải thoát v.v...

    Kể sơ lược hai thứ trong bảy thứ tình cảm thì chúng ta xét phần đông con người đều có ham muốn và sợ hãi cả.

    Tuy nói con người sống bảy, tám mươi năm nhưng thực ra chỉ trong một hơi thở, nếu mượn hít một ít không khí vào mà không trả ra thì đã qua đời khác, hay ngược lại trả ra mà không mượn vào thì không còn sự sống. Thực tế trong cuộc sống rất đa dạng, buồn khổ thì nhiều nhưng vui sướng lại ít. Tâm ý con người luôn luôn biến chuyển không chịu dừng, khi hoàn cảnh đổi thay tâm con người lại theo đó mà thay đổi, khi vui thì cởi mở rộng lượng hoan hỷ, lúc buồn khổ lại bực dọc, giận hờn, tật đố nhỏ nhen nên có những cử chỉ ích kỷ vì tự ngã.

    Chúng ta thường nói đến hai chữ hạnh phúc, nhưng thật ra nó chỉ là cái bóng mờ của ảo tưởng, con người vì không biết thực chất của nó nên luôn luôn ao ước nắm bắt. Song càng nắm bắt lại càng không thể được, chỉ quờ quạng đến mệt mỏi, hơi tàn sức lụn mà chưa thấy hạnh phúc. Bởi không thấy được lẽ thật đó, nên con người chỉ sống mãi trong ảo tưởng rồi dựng lập tạo ra cái bóng hạnh phúc, một hạnh phúc giả tạm để khỏa lấp cái công sức mình đã tạo dựng bằng tư tưởng ảo huyền, hạnh phúc đó chỉ là trá hình cho sự đau khổ mà con người không hay biết, cứ ngỡ là ta đã đầy đủ hạnh phúc lắm rồi. Hạnh phúc là trá hình của đau khổ nên con người lúc nào cũng lo lắng, sợ sệt. Họ sợ hạnh phúc sẽ mất đi nên cố gắng tìm mọi phương kế để giữ gìn, nhưng có được như ý chăng? Thật là sự đời không như ý mình tưởng tượng được ! Vì thế ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ nói: “Trò sân khấu đưa tay bắt bóng”. Khi xem hát ta thấy các diễn viên trên sân khấu lúc thì đóng vai này, vai nọ, khi cười, khi khóc, khi đáng thương, lúc giận dữ v.v... Nhưng những tình tiết vai diễn trên sân khấu chỉ là giả tạo do các diễn viên thay nhau đóng tuồng cảnh, thế mà người xem lại đồng hóa vào những cảnh ấy rồi khóc, rồi cười, khen chê, mừng sợ v.v... Họ không biết tất cả cảnh diễn trên sân khấu chỉ là trò giải trí đã đánh lừa tâm lý họ chớ không thật có. Cũng vậy, hạnh phúc trên thế gian giống như là những trò đùa trên sân khấu vậy, thế mà người ta lại đua nhau tranh giành đưa tay nắm bắt những cái bóng giả tạm để rồi buồn than và đau khổ. Nếu có vui cười thì chỉ cười trong bặm môi nghiến răng, chớ thật sự trong thâm tâm họ đang bị giày vò trăm mối, lo lắng và sợ hãi. Do đó người xưa nói: “Thế giới như hoa đốm trong hư không, nhân sinh như giấc mộng, như huyễn thuật” là vậy.

    Từ khi mới sinh ra con người đã bị ràng buộc vướng kẹt trong thất tình lục dục, muốn làm việc gì thì làm cho bằng được, khi được rồi phải gìn giữ sợ rơi vào tay kẻ khác. Giống như Rosil lúc trực diện với sắc dục liền không tự chủ, sanh tâm làm theo dục vọng bản năng nghiệp lực. Khi được trong tay và đang sống hạnh phúc, bỗng có tin như sét đánh, cùng với hành động của sư huynh mình thì sợ hạnh phúc mất đi nên phải tìm cách thủ tiêu sư huynh. Rồi lại đối đầu với tình địch phải liều mạng sống chết để bảo vệ hạnh phúc.

    Cho nên trong cuộc sống đã bị thất tình lục dục bao quanh, người ta không nghĩ mọi tai họa về sau, mà chỉ nghĩ những việc lợi cho tự ngã ở trước mắt. Để bảo vệ hạnh phúc, có khi họ làm những việc tồi bại, mất chính nghĩa cũng chỉ vì sợ không được như ý, sợ mất mát; từ đó suy ra đến thương yêu, mừng giận và mong muốn v.v... cũng thế. Nhưng rồi đời sống hạnh phúc không như ý ta tưởng được, có đó rồi mất đó, thương đó lại ghét đó, vui đó rồi buồn sợ đó, mừng đó lại giận đó. Cũng như Rosil và Telsa hai người bị áng mây vô minh che lấp mặt trăng thật (Chân tâm), lại bị gió nghiệp ái thổi tắt ngọn đèn trí tuệ, nên cả hai đều rơi vào dòng sông ái. Về sau hai người phải lãnh chịu những cảnh khổ sở bi đát, song đành phải ngậm đắng nuốt cay mà nhắm mắt đưa chân vì lưới của thất tình trói buộc.

    Trong cuộc sống đa số lòng người rất là mâu thuẫn. Nếu mình không muốn mất mát cái chi, cũng không muốn ai lường gạt, dối trá hay làm buồn khổ v.v... thì mình cũng đừng làm buồn khổ cho ai, và những gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác, vì cái gì ta không muốn thì người khác cũng đâu có chịu ! Nên có câu: “Nếu ai yêu tự ngã chớ hại tự ngã người”. Đó là xác nhận chúng sinh yêu tự ngã hơn hết. Cho nên trong giao tiếp chúng ta hãy đặt mình vào hoàn cảnh của người thì dễ cảm thông với họ. Có thế chúng ta mới không nhẫn tâm làm khổ cho nhau. Giả như vừa khởi tâm gian tham lén lấy cái gì của ai, hãy liền đặt mình vào hoàn cảnh của người bị mất tài vật thì bỗng dưng ta dừng ngay ý niệm xấu đó, vì khi mình mất của cải lòng tiếc rẻ khổ sở, thì người bị ta lấy tài vật họ cũng sẽ khổ như vậy chứ chẳng phải không. Hoặc giả khi vừa khởi ý mở miệng nói nặng lời hay dối gạt người ta hãy đặt mình vào hoàn cảnh khi bị người lừa gạt hay mắng nhiếc, thì ý niệm xấu ấy sẽ ngừng ngay. Từ việc này suy ra các việc khác cũng thế. Thành thử câu: “Hãy đặt mình vào hoàn cảnh của người” tôi thấy rất hay. Có thế chúng ta mới thông cảm chia sẻ niềm đau nỗi khổ với mọi loài và dễ dàng hoan hỷ tha thứ cho nhau, mà cũng giúp cho thân khẩu ý không tạo ác nghiệp.

    Xin đi xa một chút, không biết có ai nghĩ đến điều này chăng? Phần đông chúng ta chỉ biết lo lắng khư khư giữ lấy mọi thứ do ta tạo ra mà không nghĩ lo giúp cho người đã tạo ra thân thể này, phải chăng đó là mối duyên nợ từ nhiều đời kiếp nay có bổn phận phải làm thế? Song xét nghĩ, chẳng thấy mấy ai rõ ra được sự lẩn quẩn xoay vòng của kiếp người. Khi sinh ra rồi lớn lên trưởng thành dựng lập gia đình, sinh con cái, tạo của cải hưởng thụ, cuối cùng rồi đều phải theo chu kỳ định luật: Già, bệnh, chết. Sau đó bị hành nghiệp đưa sanh trở lại để tiếp tục cuộc sống lẩn quẩn, cứ thế đáo đi lộn lại, thay hình đổi mặt đời này sang kiếp nọ.

    Cha mẹ là người tạo ra và dưỡng nuôi dạy dỗ nên ta mới có thân này, mà ít ai chịu để ý lo lắng giúp đỡ khi song thân tuổi đã xế chiều. Nếu có lo lắng chỉ một phần nhỏ, còn đa số chỉ nghiêng về lo cho vợ con hay chồng con mình và gầy dựng hạnh phúc riêng chính bản thân. Hình như nó trở thành tâm lý chung của con người, từ thế hệ này sang thế hệ kế tiếp. Tại sao chúng ta không nghĩ từ đâu có thân này để tạo lập sự sống riêng, và sau này mình cũng sẽ giống như cha mẹ khi lúc tuổi đã xế chiều? Nếu biết vậy thì ngay bây giờ phải làm gương và chỉ dạy cho con cháu biết những điều hiếu hạnh. Nhưng cũng tùy theo phước duyên của mỗi người mà được chu đáo hay chẳng như ý nữa. Có người chỉ biết lo làm ăn tạo ra tiền của dành dụm cho con cái, chớ không biết lo giáo huấn nó có đức hạnh sống đúng với lương tâm, và tạo dựng công ăn việc làm để tự nó sinh sống. Nếu chúng ta để lại tài sản vật chất nhiều mà nó thiếu đức hạnh và không nghề nghiệp làm ăn đàng hoàng thì khi mình qua đời nó còn giữ mãi được tài sản đó hay không?. Bởi do đời trước có nhân duyên với nhau nên đời này mới hội ngộ trong một gia đình, song vì nghiệp riêng của từng người mà tư tưởng hiện đời có sai biệt và cũng do nghiệp duyên mỗi người đã tạo nhân tốt lành hay thất đức thuở quá khứ mà đời nay sự sống có phần chênh lệch khác nhau, như người làm ăn được thành công, kẻ làm thì thất bai, có người giàu, kẻ nghèo, người đẹp, kẻ xấu, người khoẻ mạnh, kẻ bệnh tật v.v...

    Vả lại, nếu chúng ta để ý một chút sẽ thấy rõ tư tưởng của con em mình. Như thấy nó thích xem phim ảnh hay đọc sách báo nói về những chuyện hơn thua, phải trái, được mất... là ta biết tư tưởng nó hay tranh đấu. Nó tranh đấu về mọi mặt ở hành động và lời nói như: Lẽ phải, sự sống, việc làm...

    - Nếu thấy nó xem phim ảnh hay đọc sách về những chuyện vui vẻ hài hước là biết tư tưởng nó vui tươi hồn nhiên.

    -  Nếu nó hay xem chuyện tình cảm nhiều thì biết nó là con người đa cảm, đa tình.

    - Nếu nó xem các hình ảnh hay đọc những chuyện không lành mạnh thì biết tư tưởng nó nhiều dục vọng.

    -  Nếu nó xem chuyện nói về cứu người giúp đời là biết nó có tư tưởng cởi mở, thể hiện lòng từ đối với nhân sinh v.v...

    Bởi vì tư tưởng nó đang nghiêng về việc nào thì nó mới thích tìm xem và đọc, tùy theo mỗi đứa thích cái nào nhiều thì nghiêng về việc ấy nhiều, chính cái thích đó là chủng tử tập nghiệp tiềm ẩn của nó sống dậy. Cho nên ta nhìn những cử chỉ và lời nói của nó thì cũng biết được một phần tư tưởng nó vào loại nào mà khéo dạy dỗ, chỉ dẫn hướng sang những điều tốt đẹp hơn. Từ việc này cho thấy, thuở xưa ông bà ta cũng biết ý nghĩa về một phần nào của chủng tử trong tâm thức, cho nên mới bày ra lễ “thôi nôi” (ngày sanh giáp một năm của đứa bé) cho con cháu. Trong cái mâm thường hay để những đồ vật như: Lược, gương soi, kéo cắt, cây viết, cục đất… và rất nhiều thứ khác nữa đặt trước mặt bé, hễ nó nhìn thứ nào thấy thích thì liền với tay lấy cái ấy, lấy xong mình cầm lại để vào mâm, nó với lấy cái đó tiếp thì có thể biết một phần nào tập nghiệp của nó, và sau này khi đủ duyên nó sẽ thực hiện theo chủng tử có sẵn tiềm ẩn trong tâm thức nó.

    Nếu ai có đức hạnh thì được mọi người dễ mến và tạo thiện cảm, nên trong việc làm ăn hay cuộc sống  hễ gặp việc gì bất trắc đều được người ta sẵn lòng giúp đỡ. Nếu để tài sản cho nhiều mà con cháu không đức hạnh, chẳng có nghề nghiệp, chỉ biết tiêu xài hoang phí thì một thời gian cũng hết. Đôi khi anh em chẳng hoà thuận hay bị chia rẽ khi phân chia tài sản của cha mẹ để lại nữa. Vật chất tuy nhiều nhưng cũng có ngày hết; còn người có đức hạnh và nghề nghiệp thì dù bị thiên tai hay nạn ách đến đâu đi nữa cũng không bao giờ mất. Cho đến những kiếp vị lai vẫn còn dư báo đó. Làm người thì không thể thiếu đức hạnh được, nó là cái đẹp, là gia sản quí báu, tuy vô hình vô dạng nhưng rất vô giá, không ai có thể làm nó hao mòn và không có biến cố nào làm tan hoại. Nếu biết thì hãy nên tự tạo lấy chớ không ai làm giúp cho mình cả, dù có tiền của thật nhiều cũng không mua được. Nhưng khi có thì phải biết gìn giữ duy trì để cho đức hạnh càng ngày càng tăng trưởng, giống như con dao khi dùng xong thì phải mài cho bén lại, để sau đó dùng được tiện lợi hơn.

    Thế nên, người biết sống thì ngay hiện tại hãy chuẩn bị lo cho chính mình đừng ỷ lại vào ai cả, mà phải hiểu rằng, những người chung quanh chỉ trợ duyên giúp cho ta có điều kiện trau dồi đức hạnh trở thành người tốt và tự lập thành thạo nghề nghiệp tạo sự sống trong hiện tại mà thôi.

    Trong cuộc sống có những việc rất mâu thuẫn, cha mẹ là cái gốc tạo ra ta, nhưng phần đông chúng ta lại ít quan tâm chỉ lo phần ngọn (chồng hoặc vợ, con cháu). Nếu có nghĩ đến lo giúp thì cha mẹ đã gần đất xa trời rồi! Chúng ta nên biết, tất cả của cải vật chất quí báu trên đời và cả đến vợ hoặc chồng, con… ta có thể tạo dựng được, dẫu cho có mất mát đi nữa thì cũng có thể tìm lại dễ dàng, nhưng khi cha mẹ qua đời rồi thì không làm sao mà tìm gặp lại được, đó là nỗi mất mát lớn và cũng là nỗi khổ nhất trong đời người. Cho nên khi cha mẹ còn hiện diện trên đời, chúng ta phải biết quí trọng tôn kính vì đó là sự vinh hạnh của người con.

    Và một điều nữa, khi cha mẹ còn sống không nghĩ lo giúp vật chất lẫn tinh thần, đến lúc chết mới làm ma chay thật lớn, cúng đám linh đình thì thật là vô lý. Sao lúc còn sống không lo cho cha mẹ hưởng thụ, khi chết rồi thì chắc gì thọ dụng được chứ ! Chỉ có những loài sống vất vơ, vất vưởng mới thọ dụng đồ cúng ấy. Song khi cha mẹ qua đời mình lại mong muốn cha mẹ thác sanh làm người hoặc về cõi thiên kia mà ! Chớ đâu muốn cha mẹ làm loài sống vất vơ để ăn đồ cúng ấy phải không? Nếu có cúng thì chúng ta phải cảm nghĩ rằng: “Để tưởng niệm công ơn trời biển của cha mẹ lúc sanh tiền đã vì ta chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm và bao năm khó nhọc trông nom nuôi dưỡng dạy bảo ta thành nhân”. Vì vậy, chúng ta phải sống đúng lương tâm và có đức hạnh của một con người đúng nghĩa, để khỏi phụ công ơn cha mẹ đã dầy công dưỡng dục. Có thế mới gọi là đền ơn, mới xứng đáng công lao của song thân.

    Lại nữa, trong Hiếu kinh nói: “Dù một ngày giết đôi ba con vật để cung hiến cho cha mẹ vẫn chưa gọi là báo hiếu, vì sẽ lôi kéo nhau vào vòng trầm luân” – bởi vì sát hại sinh linh là gây oan trái với nhau thì đời đời tử đi, sanh lại sẽ gặp để trả oán, cứ thế mà tạo nghiệp trầm luân khổ sở. Hay cung phụng đầy đủ những món ngon vật lạ cũng chưa phải là đền đáp trọn vẹn công ơn ấy. Cho nên không gì hơn là khi cha mẹ còn sống phải biết hướng dẫn song thân biết đạo lý nhân quả nghiệp báo, để tránh những lỗi lầm tạo tội mà ra khỏi vòng trói buộc. Đó mới là người con thật hiếu. Song muốn cho cha mẹ cùng những người lân cận chuyển hướng tốt đẹp thì tự mình phải biết tiếp thu những lời Phật dạy và thể hiện mọi cái hay, cái cao đẹp ngay đời sống. Những nét đẹp ấy nơi ta sẽ làm cho cha mẹ và người lân cận trông thấy mà cảm đến hướng về sống đúng đạo pháp.

    Hơn nữa, khi cha mẹ qua đời người con hiếu thảo phải biết tu để tịnh tâm và làm những điều phước thiện, giúp đỡ nhân sinh bằng mọi hình thức tùy theo khả năng hiện có, rồi hồi hướng công đức việc làm lành của mình về cho cha mẹ, hầu mong cha mẹ nương theo đó mà hướng thiện chuyển hóa tâm niệm để được vãng sanh về nơi lạc cảnh.

    Lại có việc này nó rất thực tế trong cuộc sống nói lên chỗ thất tình đây. Có những đôi nam nữ rất yêu thương nhau, nhưng chưa được gần gũi. Vì tiếng sét ái tình đã thúc dục lòng, đến nỗi họ có thể bỏ cha mẹ, đôi khi quên đi danh giá bản thân và mọi dư luận đàm tiếu. Để bảo vệ tình yêu họ rất lo và sợ xa cách nhau, có khi bất chấp mọi gian khổ nguy hiểm và lời khuyên nhũ mà tìm mọi phương cách mong muốn được gần gũi. Nhưng khi được tất cả thuận duyên sống gần nhau chẳng biết có vui vẻ hạnh phúc như buổi đầu hằng ao ước hay chăng? Hay lại mâu thuẫn nhau mà bất hoà, rầy rà, đôi lúc còn chửi mắng, đánh đập lẫn nhau nữa. Nên có câu ngạn ngữ thế này: “Yêu nhau mà không biết tôn trọng nhau là tình yêu giả dối”. Dựa vào câu đó tôi suy rộng thêm, không chỉ riêng tình yêu trai gái mà nó bao gồm các thứ tình cảm giữa chúng ta trong cuộc sống đối với mọi lứa tuổi: “Yêu nhau, thương nhau, mến nhau mà không biết tôn trọng nhau là tình thương giả dối không chân thật, là tình thương lợi dụng, ích kỷ hẹp hòi cho tự ngã”. Quả thật vậy, nếu thật sự yêu thương, thân mến nhau thì không có những sự giận hờn, cãi vã, đánh đập…., mà phải biết tôn trọng, quí mến và nâng đỡ lẫn nhau về mọi mặt, tùy theo khả năng và sở trường của mình. Nhưng rất tiếc, thời nay phần đông người ta lại yêu cuồng thương vội, nên mới có những hục hặc trong cuộc sống là việc thường tình. Bởi vì sự thương yêu của đa số con người là lòng yêu thương vị kỷ không nghĩ đến tha nhân, chẳng biết tôn trọng lẫn nhau, nên mới có mọi việc trái ngược trong cuộc đời. Người ta thường đem câu thế này để ví dụ cho tình yêu nam nữ như trên là “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở, đời mất vui khi đã vẹn câu thề”. Hay thay! Ngẫm nghĩ sự đời phần đông là thế. Nhưng nếu có đôi lứa nào được hòa thuận trọn đời đi chăng nữa thì chỉ có trong muôn một, do vì  họ đã có chủng nhân thiện cảm với nhau nhiều kiếp rồi, chớ không phải ngẫu nhiên đời nay gặp nhau sống trong một gia đình được êm ấm như vậy.

    Qua đoạn chuyện vừa nói trên thì mới đầu Rosil sống rất hạnh phúc, nào là vợ đẹp con ngoan, nhà cửa sang trọng thì có những hành động nói năng cử chỉ thật êm đẹp. Đến lúc hoàn cảnh đổi thay con người cũng lại theo đó thay đổi nên có hành động thô lỗ, nói năng cộc cằn, tư cách không còn như trước. Lúc thì yêu thương chiều chuộng, khi lại đổi mặt hành hạ, cũng chỉ vì việc thất tình này.

    Rosil khi lâm vào hoàn cảnh quá cùng khổ, gặp những duyên trái ý nghịch lòng thì liền đổ trút mọi khổ não phiền muộn ấy lên đối tượng hiện diện, dù đó là người thương yêu nhất. Như Rosil đánh con và bóp cổ vợ mình, trong khi họ không có lỗi lầm gì cả. Cho nên khi hội đủ điều kiện thì các nỗi khổ đó bộc phát, lòng không kiềm chế được nó sẽ biểu hiện ra hành vi, nếu không thì cũng qua miệng lưỡi thốt ra những lời lẽ không được hay đẹp êm ái lắm. Đó là việc thường thấy trong cuộc sống mà đa số người bị vấp phải. Nếu chúng ta thấy mình có hiện trạng trên thì hãy nên tự chủ tâm ý và chuyển hóa không cho nó phát tác, chớ để xảy ra những sai lầm đáng tiếc sau này. Đúng là:

    Một thoáng ham vui, vui rồi khổ.

    Hối hận thì thôi ! Đã muộn rồi.

    Nếu biết thế này đừng ham muốn,

    Thì đâu lãnh chịu khổ họa đây !

    Bởi do một niệm bất giác ban đầu lầm lẫn, dần dần dẫn đưa chúng ta vào vòng trói buộc của thất tình lục dục. Phải biết rằng tất cả hoàn cảnh trong cuộc sống hiện tại đang lưu chuyển đều do ta tạo ra chứ không ai khác. Nhưng tại sao cái nào phải, đúng thì lại nhận, còn những sai quấy, rủi ro thì lại trút đổ cho người khác hay đổ thừa cho hoàn cảnh mà không chịu nhận lỗi do mình tạo? Thật là mâu thuẫn.

    Khi đang khổ, người ta rất mặc cảm và sống trong sự bất an, căng thẳng. Nếu họ không giải tỏa được các nỗi khổ ấy thì lâu ngày nó sẽ thâm nhập vào tim gan (tâm thức) tạo thành bệnh tâm sinh lý. Trong giao tiếp với cuộc sống cộng đồng họ khó tự chủ, đôi khi thể hiện bằng những thái độ cộc cằn, thô lỗ và dễ gây sự với mọi người xung quanh, họ chỉ biết nói vung ra những lời than trách để tiết hận, và cho rằng làm như vậy là giải bớt đi nỗi khổ. Song, họ đâu biết chỉ làm khổ bản thân thêm và tất cả người thân cận cũng liên lụy khổ theo vì những hành vi của họ. Lúc đó mỗi người mang một tâm trạng đau khổ riêng, cũng chính là mỗi người đang ở trong cảnh Địa Ngục mà tự họ cảm nhận, đôi khi muốn quyên sinh nữa. Nhưng đáng tiếc họ quá lầm lẫn, và họ có biết đâu chính mình đã tạo tác ác cảm với những đối tượng chung quanh khiến mấy vị đó sanh thành kiến oán hờn họ nữa. Có một điều nữa tế nhị hơn, ví như ta và người nào đó xích mích hay buồn phiền với nhau, dù sự việc đã qua mà khi gặp lại họ bên ngoài tuy niềm nở chào hỏi, nhưng trong thâm tâm ta thấy nó làm sao sao ấy! Trạng thái này rất khó diễn tả cho người ngoài biết chỉ  mình tự cảm nhận thấy có một cái gì bất ổn trong lòng. Cho nên từ việc này ta suy ra qua những khía cạnh khác như là mừng, lo, sợ và thương yêu v.v... cũng vậy.

    Mọi việc trong lòng chúng ta có thể che giấu tất cả mọi người, nhưng không thể nào che giấu được chính mình. Trong cuộc sống nếu chúng ta có làm việc gì mờ ám hay tốt đẹp thì những hình ảnh đó ghi đậm nét vào tâm hồn, đến lúc xuôi tay nhắm mắt thì những bóng hình của việc làm trước đó sẽ trỗi dậy ngược dòng thời gian, giống như ta đang xem cuộn phim quá khứ trong đời. Nếu những hình ảnh hiện lên là lành hay đẹp thì làm cho tâm hồn ta vui vẻ hân hoan, đó là do ta huân làm các việc thiện nên lúc bỏ xác thân này lòng vui vẻ ra đi nhẹ nhàng không phiền lụy. Ngược lại, những hình ảnh đau thương, khổ sở làm tâm hồn  bất an kinh hoàng, hốt hoảng thì bị hành nghiệp thúc đẩy ta vào nơi tối tăm đọa lạc. Đó là do trong cuộc sống hằng ngày làm những việc ác độc, lường gạt, dối trá, giết hại người, vật nên mới chiêu cảm những cảnh như thế. Cho nên người xưa mới thần thoại hóa mà đặt ra câu chuyện ở dưới Âm phũ có cái gương gọi là “Đài gương nghiệp cảnh”, để khi người chết xuống dưới, Diêm vương bảo đến trước đài gương cho họ soi thấy lại những gì đã làm trên trần gian này mà định tội hay trả về nhân gian. Nó như là cây cân công lý không ai có thể chối cãi về những hành vi của mình làm lúc còn sinh tiền. Đài gương đó là biểu trưng cho gương tâm của mỗi người như đã nói trên.

    Nếu sống được khoảng bảy mươi năm mà ta nghĩ và làm những việc chẳng lành hết năm mươi năm, khi già đến mới biết tỉnh thức chuyển hóa cải hối thì thời gian huân tu quá ít; lúc sắp bỏ thân, các hình ảnh bất hảo của việc làm trước năm mươi năm mạnh hơn sự tỉnh thức, nên lúc đó nó khởi hiện lại nhiều và chi phối thì chắc gì mình nhớ những lời Phật dạy mà tỉnh giác để tâm an tịnh ra đi? Nếu lúc đó có mời chư tăng chư ni đến hộ niệm thì những vị hộ niệm phải tịnh tâm cảm hướng về người sắp chết. Còn người sắp chết phải biết hướng tâm ứng lại tiếp nhận nơi tịnh tâm người hộ niệm thì mới có thể chuyển hóa những tâm niệm xấu, hoặc cũng có thể được tịnh tâm. Nhưng rất khó được, vì người sắp chết lúc đó hôn mê không sáng suốt tỉnh táo thì khó mà hướng tâm về người hộ niệm đang tiếp dẫn mình; vả lại chắc gì người đang hộ niệm có tịnh tâm để hướng nguyện cho người sắp chết? Song, hiện tại cũng làm cho thân nhân người sắp chết an lòng một phần nào khi có Tăng ni bạn hữu đến hộ niệm. Hơn nữa thiển nghĩ, nếu có được tỉnh giác đi nữa, mà sự tỉnh giác đó quá ngắn ngủi thì cũng được thọ sanh ở cõi lành (chẳng hạn sanh làm người trong nhà giàu sang), nhưng vì lúc cận tử nghiệp (tư tưởng gần nhất trước khi trút bỏ hơi thở) huân sự tỉnh giác quá ngắn nên khi thác sinh vào nơi lành đó tuổi thọ sẽ không lâu dài, như mới chừng mười mấy tuổi thì chết nữa, vậy đâu có hưởng vui sướng được bao lâu! Bởi vì tạo nhân có hạn thì quả báo cũng có chừng. Sau đó lại bị hành nghiệp ở kiếp trước do năm mươi năm ta làm những việc bất thiện nó sẽ dẫn đi thọ sanh nơi thấp hèn tối tăm hơn. Cho nên không gì hơn là hiện đời chúng ta phải biết tạo việc lành để tích lũy phước, nếu có trở lại làm người thì được hoàn thiện tốt đẹp hơn, hoặc là huân tu đúng nhân giải thoát để không còn trở lại ba cõi chịu khổ đau do vô thường chi phối. Nếu được vậy thì lúc lâm chung dù chẳng có ai đến hộ niệm cầu siêu thoát đi nữa mình cũng không lo sợ, vì đã có chuẩn bị tư lương trước nên khi bỏ thân vẫn an nhiên vui vẻ chẳng kinh hãi và luyến tiếc chi cả.

    Thành thử trong cuộc sống tương đãi này đều do ta gây nhân, mà từ nhân đến quả phải trải qua một thời gian hội đủ duyên thì quả thành tựu, nên lý nhân quả như là cây cân công lý không thiên lệch cho ai cả. Nếu thân, miệng, ý hành động theo chân, thiện, mỹ thì sẽ chiêu cảm quả báo tốt lành an vui. Bằng ngược lại gieo nhân bất thiện thì gánh lấy ác quả; làm lành nhiều thì hưởng nhiều, tạo ác lắm thì thọ nhận khổ đau cũng chẳng ít. Chúng ta hãy xem báo thân hiện đời của mình thì sẽ rõ nhân quá khứ đã tạo. Nếu đẹp đẽ, thông minh, danh to, sự nghiệp lớn thì biết rằng có tạo nhân tốt lành thuở quá khứ nay mới được thế, hãy nên cố gắng nuôi dưỡng nhân lành đó để tương lai gặp những điều toàn hảo hưởng tiếp. Còn hiện đời lâm vào hoàn cảnh nghèo khổ, gặp nhiều điều khó khăn trở ngại thì biết nhân tạo tác trước đó bất hảo chẳng lành nên nay mới chiêu cảm như thế, thì hiện tại hãy chuyển nhân mà siêng năng tinh tấn hành những điều phước thiện để mai sau được thăng hoa tốt lành hơn.

    Khi đau khổ người ta không biết làm gì hơn là chạy tìm nương tựa nơi tín ngưỡng tôn giáo để hầu giải bớt nỗi đau khổ, nhưng nếu không khéo sẽ bị rơi vào mê tín hay cuồng tín, mà không tin rằng chính mình có khả năng hóa giải mọi nỗi khổ ấy. Cũng có người do nhận thức được sự khổ ở đời, họ thức tỉnh phát tâm đến tôn giáo tìm gặp minh sư học hỏi những phương pháp để thực tập chuyển hóa cho hết khổ. Nhưng những người như thế rất ít, còn hạng người chỉ biết nương tựa để cầu xin thì nhiều, tuy theo học đạo mà vẫn khổ. Bởi ở thế gian có nhiều cảnh bất như ý cuốn xoáy con người vào dòng thác đau khổ, lúc ấy người ta chỉ biết cầu Trời khấn Phật, van xin Thần Thánh để nhờ các Ngài ban ơn cứu giúp cho hết tội, bớt khổ. Bởi họ xem việc thờ cúng Phật, Thánh ở tự viện như vị Thần linh có thể ban ơn bảo hộ cứu giúp họ trong lúc đau khổ, túng quẫn, thành thử họ đến chỉ để cầu xin chớ không biết học hỏi những đức tính cao đẹp ở các Ngài được biểu trưng qua hình tượng tôn thờ, và tìm học những lời dạy của các Ngài hiện còn trong kinh sách để ứng dụng hầu giải khổ. Họ không biết cái khổ đó là do chính họ gây ra, nếu không hiện đời thì ở quá khứ, nên nay đủ duyên chiêu cảm quả báo thì phải tự lãnh thọ. Biết chuyển hóa cái khổ đó hay không là do ở chính mình chứ Trời, Phật, không làm cho ta an ổn hay vơi đi đau khổ. Nhưng muốn giải nỗi khổ phải nương vào lời dạy của các vị ấy ứng dụng tự sửa đổi, chính chúng ta tạo thì phải tự chịu lấy chứ không ai thay thế cho, và cũng đừng than thân trách phận mà hãy khéo hóa giải nó vậy.

    Còn nếu hiểu theo nghĩa Phật độ thì phải hiểu như thế này: Phật độ ở đây chính là Tâm độ (tâm tức Phật, Phật tức tâm), mà Tâm chính là Giác. Giác tức là tỉnh giác sáng suốt chớ chẳng phải có ông Phật nào khác đến cứu độ mình đang bị đau khổ. Chẳng hạn như mình gặp những hoàn cảnh bất như ý, hoặc trong giao tiếp làm ăn ta bị người lấn hiếp, họ có những thái độ khinh khi nhục mạ mình, nếu mình không bình tĩnh sáng suốt (giác) thì sẽ đôi co lời qua tiếng lại; hơn nữa, nếu không kiềm chế được thì ẩu đả với nhau chẳng khoan nhượng, thân khẩu ý khi ấy gây tạo biết bao nghiệp bất hảo chẳng lành nữa. Ngược lại, nếu tâm sáng suốt thì bình tỉnh an nhiên cơn nóng giận tan biến. Đó chính là Phật cứu độ mình thực tại hiện hữu chớ chẳng phải Phật ở phương nào đến kịp lúc để cứu mình khi ấy. Cho nên chỉ có sự tỉnh giác hiện diện mới cứu khổ mình ngay hiện tại và cũng ngăn chặn những nghiệp nhân xấu ác.

    Cảnh khổ trong mộng chỉ chấm dứt khi ta tỉnh giấc, chứ không ai vào đó làm cho ta hết khổ được trong lúc mộng. Đừng giống như Rosil quỳ trước Phật đài xin Phật từ bi tha tội và cứu mình, mà chỉ chính Rosil tỉnh giấc hẳn thì nỗi khổ mới chấm dứt.

    Trong cuộc sống con người mãi lăn lộn, tính toán trăm phương ngàn kế để tìm cầu cho bằng được hạnh phúc, nhưng hạnh phúc đó rất mong manh, tạm bợ. Thật là:

    Cuộc đời như thoáng hương bay,

    Hãy lo tỉnh giấc đừng say mộng hoài.

    Ai ơi ! xin nhắn đôi lời,

    Mau mau tỉnh mộng sẽ rời khổ đau.

    Thế nên, con người sống trong lục dục thất tình phải khéo léo lèo lái gỡ rối khi bị nó bủa vây và hãy xét rõ cội nguồn để vượt qua, nếu không thì sẽ bị chúng cột trói thêm khổ lụy. Muốn vậy thì :

    Ở đời vui đạo thảy tùy duyên

    Sớm tối theo duyên chớ buộc ràng

    Phải quấy, hơn thua không màng đến

    Tốt xấu, khen chê chẳng bận lòng.

    Quá khứ qua rồi đừng luyến tiếc

    Chưa đến không trông cũng chẳng cầu

    Sống trong mộng luôn cười với mộng

    Tháng ngày thanh thản mãi thong dong.

     

  • 16. NGUỒN GỐC CỦA NIỆM

    NGUỒN GỐC CỦA NIỆM

     

    Trong cuộc sống, tất cả nhân loại đều bị ái dục khống chế. Nó là sợi dây vô hình nhưng trói buộc rất chặt, chúng ta phải biết gốc gác để tháo gỡ hay chặt đứt đi cho tâm được nhẹ nhàng thanh thản, nếu không thì sẽ bị quằn quại khổ đau. Cho nên chỉ có hành đúng chánh đạo thì mới chuyển hóa được, bằng không sẽ bị ái trói buộc. Đây xin lược dẫn ở hồi 53 nói lên ý này.

    ...Mấy thầy trò đi đến một dòng sông, nhờ người lái đò đưa sang bờ bên kia, Đường Tăng khát nước bảo Bát Giới lấy bát múc nước cho uống, Đường Tăng uống lưng bát, còn bao nhiêu thì Bát Giới uống hết phần còn lại... Đi được một đoạn, Đường Tăng và Bát Giới bị đau bụng phải tạm dừng vào quán nước bên đường nghỉ chân để tìm thuốc chữa. Gặp một bà già hỏi ra nguyên do mới biết không phải bị đau bụng bình thường, mà vì uống nhầm phải nước bên bờ sông Tử Mẫu nên bị đau bụng chuyển dạ. Bà liền chỉ về phía Nam có động phá thai, trong động có suối rụng thai, nếu uống nước suối ấy sẽ giải được độc. Nghe vậy Tôn Hành Giả cùng Sa Tăng đến đó lấy nước về cho Đường Tăng và Bát Giới uống mới hết đau bụng.....

    Đây cho thấy tại sao uống nước ở bờ sông Tử Mẫu mới bị thế? Vì bờ bên này thuộc ranh giới của nước Tây Lương Nữ Quốc toàn người nữ. Đó là nói lên người nữ luyến ái nhiều và đa cảm, dễ xúc động, mỗi khi bị chạm đến tâm lý là buồn khóc.

    Nếu lỡ uống nước dòng sông ái thì chúng ta sẽ bị quằn quại khổ đau, cũng giống như Đường Tăng và Bát Giới uống lầm phải nước bên bờ sông Tử Mẫu ở Tây Lương Nữ Quốc vậy.

    Ta thấy tại sao chỉ có Đường Tăng và Bát Giới uống, còn Sa Tăng và Tôn Hành Giả không uống? Vì Bát Giới chỉ cho năm thức ở năm căn bị ý thức xen vào cộng tác dưới hình thức “Ý thức ngũ câu” (như đã nói ở trước). Khi tiếp xúc năm trần bị đắm nhiễm dính mắc rồi đưa vào tàng thức chứa ở đó, gặp duyên nó khơi lại để tiếp tục thành thói quen – nghiệp tập đưa dẫn ta vào vòng ái dục, đành phải nhắm mắt đưa chân chịu khổ. Nếu muốn không còn đau khổ phải trút sạch những nước ái trong lòng ra thì mới hết.

    Bởi ái là cái nhân hiện tại để tiếp nối trong vòng sinh tử. Vì có ái nên có chấp thủ; bởi do chấp thủ mới có những cái sở hữu; khi sở hữu bị vuột khỏi tầm tay thì tiếc nuối, hơn nữa chấp thủ bản ngã này rồi tạo ra các nghiệp lành dữ ở đời hiện tại. Do có ái, thủ làm nhân nên phải có (hữu) sanh ra đời sau thọ nhận quả báo tốt hay xấu; do có sinh mới có già rồi chết. Bởi có ái ta mới bảo thủ gìn giữ những gì ta thích thú, say đắm dính mắc, cho những cái đó là của riêng mình, nếu có ai xâm phạm đến liền dùng cách phản kháng để bảo thủ nên chúng ta khổ cũng chỉ vì ngã và ngã sở này. Nếu muốn thoát khỏi vòng lẩn quẩn đó, thì ngay hiện tại phải chặt dứt cái nhân ái, vòng luân hồi mới dừng được.

    Ái đây không phải chỉ ái người khác phái mà những gì ta đắm nhiễm dính mắc đều gọi là ái. Xin nói xa một chút.

    Có lần tôi được duyên ở thất riêng trong khuôn viên đất trồng thuốc nam, cung cấp cho phòng thuốc giúp bệnh nhân nghèo, cách chùa khoảng hai trăm mét. Cứ vào buổi chiều có một huynh đệ thường hay đi bách bộ xuống vườn thuốc chơi, cùng tôi tâm sự về việc tu học và cách sinh hoạt trong cuộc sống của người hành đạo. Rồi có đôi lần người huynh đệ đó vì bận việc không xuống chơi được, tôi cảm thấy có một cái gì thiếu thốn không giống như mọi khi, lại cứ ngóng trông và nghĩ: “Không biết anh ta bệnh hay có công việc chi mà không thấy xuống chơi”. Tôi tự suy ngẫm, như vậy là mình đã tự cột trói dính mắc vào người bạn dưới một dạng khác của ái tình, mà đây là ái tình bạn người cùng phái đồng chí hướng. Do đó, tôi lại suy ngẫm qua việc thế gian họ ái người khác phái cũng từ việc này, nên họ cảm thấy nhớ nhung khi thiếu vắng đối tượng đã để tâm lưu ý, vì vậy họ cứ trông mong gặp mặt và hẹn hò tâm sự. Thế nên có một nhạc sĩ sáng tác bài ca có câu thế này để diễn tả những người trong cuộc “...Những đêm thức giấc ngỡ ngàng, nghe lòng thương nhớ biết rằng mình yêu...”. Cho nên ái là sợi dây ràng buộc làm cho ta không được an ổn tự do, dù ở hình thức nào cũng thế.

    Đến đây nếu nói thật thì dễ mất lòng, nhưng sự thật vẫn là sự thật, chúng ta không thể làm méo mó được, một sự thật hiển nhiên đang dàn trải trước mắt khó mà chối cãi. Hầu như tất cả chúng ta đều đang bị vướng mắc ở trong vòng lẩn quẩn đó mà không biết cách thoát ra.

    Như quí trọng chiều chuộng lo cho sắc thân gọi là ái thân; những ý nghĩ, suy tưởng là hư ảo mà chấp làm thật mình là ái tâm; có tình cảm thương yêu với người khác phái gọi là ái tình; quí trọng những vật sở hữu, lo sợ mất mát cố gìn giữ, nếu lỡ hư mất thì hối tiếc buồn khổ gọi là ái vật. Trong kinh Lăng Nghiêm nói ái là những thứ nước trong người do sáu căn cảm thọ với sáu trần mà tiết ra ngoài như: Tâm nhớ nghĩ đến thức ăn ngon thì trong miệng nước miếng (bọt) tiết ra; khi gặp duyên xúc động không tự chủ được nên ở mắt nước chảy ra gọi là nước mắt; ở mũi chảy ra gọi là nước mũi; lúc tâm tưởng việc ân ái ở âm bộ tiết ra gọi là nước dâm…. Tất cả thứ nước đó do niệm dục ái cảm tiết ra ngoài đều gọi chung là nước ái.

    Ví như, ta thương một đứa con nào đó, nó đi xa lâu quá không về, mỗi khi có ai nhắc đến nó thì liền nhớ rồi bồn chồn buồn khóc. Hoặc có người nào đó hơi xích mích với mình, họ nặng lời thậm tệ, còn mình nói lý không lại rồi ấm ức buồn khóc v.v... Bởi do dính mắc với ngoại duyên, tâm bị rung động xúc cảm trước sự việc nên nước mắt, nước mũi mới chảy ra là do ái thân hay ái những sở hữu mà có, còn gọi là ái chấp. Cho đến mọi sự việc khác cũng vậy, chung quy không ngoài hai thứ: Ái ngã và ái pháp.

    Nói như thế có mâu thuẫn không khi trong kinh Phật có câu: “Phật ái chúng sinh như mẫu ái tử”, nghĩa là Phật thương chúng sinh như mẹ thương con. Phật và các vị Đại Bồ Tát thương chúng sinh là vì thương xót sự mê muội của họ lo sống trong ảo vọng chấp giả làm thật. Thành thử các Ngài mở rộng lòng từ bi mà tự nguyện xuống trần, gần gũi lăn lộn trong dòng đời cùng họ để tùy duyên hóa độ, mong họ thoát khỏi vòng sinh tử được an vui, chớ các Ngài không phải ái như chúng sinh, vì trong lòng các Ngài không còn tự ngã, nên việc làm đó là vị tha. Các Ngài giống như người bơi lội giỏi, thừa sức để cứu giúp những kẻ sắp bị chết chìm, nắm lấy họ lôi vào bờ mà không bị sóng nước dìm mình.

    Trước đây tôi có đọc bài thơ, trong đó tác giả nêu lên những khổ đau hệ lụy của tình yêu vị kỷ phát xuất từ lòng luyến ái si mê lầm lạc. Vì thấy nó có ý ở mục này nên xin ghi lại, để những ai đang thương yêu hãy ngẫm nghĩ xem mình đang bị ràng buộc giam hãm bởi tình thương vị kỷ thì hãy mở rộng lòng mà chuyển hóa thành tình thương đại đồng theo tinh thần từ bi bình đẳng.        

    Mình trót yêu thật tình mình thú tội

    Để làm chi, khi biết chẳng có chi

    Gạt gẫm lòng theo luyến ái mê si

    Bước lầm lạc cũng bắt đầu từ đấy

    Mình trót yêu đâu nghĩ là sai quấy

    Trái tim thề không gian dối một câu

    Mình đam mê ôm ấp buổi xuân đầu

    Nhưng lo sợ tạ từ giây phút cuối

    Rồi từ đó bước chân mình lầm lũi        

    Lang thang buồn trơ trọi ngắm trăng hoa

    Tình yêu kia rốt cuộc sẽ là gì?

    Đường sinh tử mỗi người đi mỗi lối

    Với tình yêu thật ra không có tội

    Nhưng yêu rồi thêm nặng nợ đeo đai

    Giam đời mình và giam cả đời ai !

    Tù đau khổ, nghiệp luân hồi muôn kiếp

    Tình yêu đó, Ai ơi ! đừng nối tiếp

    Yêu chi mà cho đày đọa nhau thêm

    Với tình ư? Đâu chỉ ngọt và êm

    Còn vị đắng, buộc ràng và hệ lụy

    Tình yêu ấy, chỉ bận tâm và rối trí

    Là đam mê, là ích kỷ ngu si

    Ta hãy yêu thật đúng nghĩa từ bi

    Yêu đại chúng và yêu ai cũng thế.

    Đa số chúng ta nói thương ai đó là vì mình chớ không phải vì người. Bởi ta thương vì bản ngã này ham thích cảm thọ theo bản năng của nghiệp chứ chẳng phải thương thật sự. Nếu thật lòng thương thì phải biết quên mình làm lợi ích cho tất cả không riêng ở cá nhân nào, khi gặp duyên liền ra tay nâng đỡ cứu giúp theo khả năng hiện có. Đó là một tâm hồn cao thượng, cho nên tình thương đó chan rải trùm khắp không phân biệt thân, sơ, không thấy có giàu, nghèo, thù, bạn, thương, ghét, vì thấy tất cả đều bình đẳng. Thật ra ở thế gian này có tình thương đó được mấy người? Phần nhiều chỉ vì mình là trên hết, do đó ai vừa lòng hợp ý thì yêu thương, còn trái lại thì oán ghét. Hầu như đó là tâm lý chung của nhân loại. Đáng lý chúng ta đừng làm khổ cho nhau và chớ giam hãm mình cùng người vào một khuôn khổ. Thế mà phần đông chúng ta lại vướng vào tình thương yêu ràng buộc, giam hãm và tạo ra vô vàn phiền não hệ lụy cho nhau quá nhiều.

    Bởi vì còn chúng sinh là còn ái mà bị ít hay nhiều tùy theo nghiệp cảm của mỗi người, cho nên ta mới thấy có cảm tình với đối tượng ấy và thích gần gũi để trò chuyện tâm sự. Ngẫm lại cũng chẳng có chi lạ, đó là vì có chủng duyên với nhau nhiều đời kiếp nên nay có duyên gặp lại liền sanh cảm mến, rồi mỗi ngày được duyên thân cận, lần hồi thắm đượm mà phát sanh tình cảm, và có thể là không nói đến tuổi tác lớn nhỏ nữa. Hình như phần đông hạng phàm phu tục tử chúng ta đều là như vậy.

    Chúng ta cũng giống như ổ bùi nhùi rơm vậy, hễ gần lửa thì dễ cháy, mà gần nước thì dễ thấm ướt ngay, cho nên hãy thận trọng chớ có thương quá và cũng đừng ghét ai cả. Thương thì chẳng được gần, mà ghét cũng đừng có xa mới không bị dính mắc, vì thương hay ghét gì cũng sẽ gặp nhau thôi, nhưng gặp nhau có thiện cảm hay ác cảm là một việc khác. Vì vậy, những việc gì có đến chúng ta đừng vội chống, vội ghét, cũng chớ vội theo, hễ theo là bị ái nhiễm, còn chống hay ghét cũng là một hình thức ái nhiễm ở mặt khác. Chúng ta phải khéo biết, khi gặp mặt nhau là đã có duyên với nhau rồi, nếu lỡ trong sự quan hệ có ác cảm ghét giận thì hãy xả bỏ, và nên chuyển hóa tái tạo lại nhân thiện cảm hòa nhã thì trong cuộc sống sẽ an lành vui vẻ. Đôi khi có người chỉ mới gặp nhau lần đầu mà ta cảm thấy thân thiện, kính mến muốn giúp đỡ lo cho người đó về mọi mặt. Điều ấy không phải là ngẫu nhiên, do họ và ta đã có thiện cảm nhau ở quá khứ, nay đủ duyên hội ngộ nên mới cảm mến như thế. Hay ngược lại, có người chỉ gặp lần đầu mà ta cảm thấy chán ghét oán hờn, là vì ta và họ đã có ác cảm thuở quá khứ, nay duyên đưa đẩy gặp lại mà có những hành động trái ý nghịch lòng không ưa nhau, hoặc trong cuộc sống đôi lúc ta bị người khinh rẻ, nói những xấu dở cũng là việc thường tình. Cho nên tất cả mối tương quan ở đời đều nằm trong định luật nhân quả, chúng ta phải khéo xử sự cho hài hòa, để ngay hiện tại và mai sau được tốt đẹp hơn. Đây là một thực tế, chúng ta hãy suy nghiệm kỹ để khỏi vấp phải sai lầm trong quan hệ hằng ngày.

    Ái là sợi dây vô hình có thể trói cột và làm khổ tất cả chúng sinh khó thoát ra được, bởi vì nó bồi bổ nuôi dưỡng cho bản ngã này. Nếu người nào chấp ngã nặng thì ái rất nhiều, cho nên chúng sinh đau khổ là từ ái ngã mà ra. Người biết thức tỉnh dùng trí tuệ sáng suốt thấu rõ bản chất tự ngã đừng chấp chặt nữa thì ái sẽ dần dần dứt.

    Cũng như Tôn Hành Giả và Ngộ Tịnh đi lấy nước ở suối rụng thai về cho Đường Tăng và Bát Giới uống thì mới hết đau khổ. Vì Tôn Hành Giả tượng trưng cho ý thức đã chuyển hóa thành trí tuệ sáng suốt không bị mê lầm. Còn Ngộ Tịnh là thức thứ bảy, khi ý thức chuyển thì thức thứ bảy cũng chuyển theo. Nên kinh Lăng Già nói: “Thức thứ sáu cùng thức thứ tám làm nhân và duyên cho nhau, nên thức thứ bảy y theo đó mà khởi, không có tự thể tánh, để chỉ lỗi là ở ý thức. Bởi ý thức góp cảnh giới ngoại trần vọng có phân biệt, dẫn phát tập khí làm tàng thức thêm mê, nên thức thứ bảy đồng thời chung khởi chấp ngã và ngã sở. Rồi từ tàng thức làm nhân hiện ra sáu trần cảnh giới của tự tâm nên thức thứ sáu theo đó phan duyên chấp trước nhóm thất thức tâm, do thức thứ sáu duyên theo cảnh giới tự tâm hiện ra làm gió thổi mà có sinh diệt. Nếu thức thứ sáu diệt thì thức thứ bảy tự dừng”. Thế nên nói Ngộ Tịnh và Tôn Hành Giả không uống nước là ý này.       Vì vậy, người hành đạo phải có trí tuệ giữ vững lập trường và có nghị lực ý chí mới vượt qua được những cạm bẫy của ái dục, nếu không sẽ bị chúng trói buộc bởi một phút ham vui. Nên có câu: “Một phút ham vui, cả đời nuối tiếc”. Hay “Một phút lỡ lầm suốt đời khổ hận”.

    Cũng như ở hồi 27, Bạch cốt yêu tinh mấy phen hóa ra ba người lương thiện để gạt lòng từ mấy thầy trò, nhưng bị Tôn Hành Giả phát giác nên nó chiến đấu không lại liền hoảng sợ bỏ chạy. Bạch Cốt yêu tinh là nói lên những tâm sở về tình cảm rất khó dứt trừ, do đó khi đọc truyện, ta thấy nó hóa ra người này, kẻ nọ bày mưu bằng tỏ sự cảm tình để gạt mấy thầy trò Đường Tăng, nhưng không thể qua mắt lửa con ngươi vàng của Tôn Hành Giả. Cho nên nếu không có chánh trí (Ngộ Không) thì chẳng dễ gì  vượt thoát.

    Còn Bát Giới thì bàn ra tán vô với Đường Tăng, cho rằng Tôn Hành Giả là người ác độc hay đánh chết người lương thiện. Đường Tăng vốn dạt dào tình cảm nên nghe lời Bát Giới liền đồng tình phản đối la mắng đuổi Tôn Hành Giả. Bởi Tôn Hành Giả tượng trưng cho trí tuệ sáng suốt thấy đúng lẽ thật bản chất các pháp không lầm lẫn; còn Đường Tăng tượng trưng cho tâm thức chỉ theo bản năng tình cảm. Khi năm giác quan ngoài (Bát Giới) tiếp xúc ngoại cảnh, do có tâm thức chứa sẵn chủng tử thiện ác nên thúc đẩy các giác quan bám chấp hòa nhập theo trần cảnh, vì không có trí tuệ phải bị ngoại cảnh chi phối gạt gẫm. Do vậy đọc truyện ta thấy Đường Tăng hay nghe lời Bát Giới mà luôn mắng đuổi và đọc thần chú “Cẩn cô nhi” hành hạ Tôn Hành Giả là vậy. Nhưng khi không có Tôn Hành Giả trong đoàn thì mấy thầy trò Đường Tăng liền bị nạn, tức là bị các pháp trói buộc. Nếu có Tôn Hành Giả (trí tuệ) hiện hữu thì yêu tinh (các pháp) không làm hại được, nên nói Tôn Hành Giả cứu mấy thầy trò Đường Tăng ra khỏi tay yêu tinh là thế; giống như ở hồi 55 yêu tinh động Tỳ Bà bắt Đường Tăng về động dụ dỗ để giao hoan, Đường Tăng một mực giữ vững ý chí nhưng vẫn bị yêu tinh cưỡng chế, may nhờ Tôn Hành Giả đến kịp cứu thoát nạn. Hay ở hồi 64 cũng vậy. Đường Tăng (tâm thức) do còn chủng tử thi ca nên đã bị nàng tiên do cây thành tinh hóa ra dẫn dụ đến nơi vắng vẻ thi họa qua lại, dần dần yêu tinh giở trò muốn cướp đoạt nguyên dương Đường Tăng, nhưng Đường Tăng liền thức tỉnh giữ lập trường theo sự hành đạo và tâm niệm luôn mong Tôn Hành Giả đến giải cứu. Đường Tăng vừa nghĩ xong, thì Tôn Hành Giả vừa tìm đến gặp thầy mình bị nạn, liền đánh đuổi yêu tinh biến mất.

    Cũng vậy, chúng ta phải gan dạ đối diện mọi hoàn cảnh, với từng tâm niệm, dùng trí để hóa giải đừng chạy trốn. Hãy nhìn lại chính mình mà chuyển hóa, chớ ngoại cảnh vốn dĩ như như bất động không có quyến rũ dụ dỗ, do vì chúng ta không có trí tuệ nên mê lầm thiếu tự chủ chỉ sống theo bản năng nghiệp thức mới đồng hóa hòa mình theo ngoại cảnh bị các pháp trói buộc sai sử. Nếu như chúng ta sợ ngoại cảnh rồi tìm cách trốn tránh một nơi nào đó để ẩn thân thì có trốn được chăng? Nếu chúng ta không chịu buông xả những vướng mắc ái chấp thì dù ở đâu cũng bị trần cảnh quấy nhiễu không yên ổn được. Chi bằng hãy đối đầu với thực tại để thấy lẽ thật bản chất của nó mà hóa giải. Muốn vậy thì những gì đã qua hãy để nó qua, ta đừng lôi kéo trở lại (hồi tưởng). Nếu lôi kéo trở lại thì ta hay đem hình bóng đó để đối chiếu với trần cảnh hiện tại, rồi so sánh thêm thắt, phân biệt phải quấy đủ điều chỉ làm ta thêm khổ thôi, mà không chịu thấy biết một cách thản nhiên bình lặng, do đó ta đang sống mà xem như đã chết (sống với quá khứ).

    Từ lâu ta nhận định các pháp một cách sai lầm, khi đã thấy nó thật rồi thì dù có trốn tránh ở đâu nó cũng là thật, hay có dụng công tu như thế nào đi nữa mà không thấy lẽ thật bản chất của nó thì vẫn khổ. Nếu dụng công thấy có kết quả thì chỉ trong một thời gian hạn định nào đó do dằn nén, khỏa lấp chớ không thật dứt, nó còn ngầm ẩn để chờ cơ hội đủ duyên sẽ bộc phát trở lại quấy nhiễu. Đạo Phật chỉ cho chúng ta thấy lẽ thật nơi các pháp để không bị dính mắc, chớ không phải chỉ cho ta trốn tránh các pháp. Dù trốn tránh ở nơi nào đi nữa thì các pháp vẫn hiển nhiên như vậy chớ nó không có biến đổi. Có biến đổi chăng là do chúng ta phát huy trí tuệ chuyển cách nhìn mà thấy an lạc hay đau khổ, các pháp không thiên vị cho người này vui, cho người kia khổ, cột trói người này, buông thả người nọ v.v… Có một câu chuyện nói về chối bỏ cảnh ngoài mà dính mắc chấp giữ hình bóng ở tâm như sau:

    Ngày xưa, có anh thư sinh mỗi ngày qua đò đi học. Thường ngày là bà cụ đưa hành khách sang sông, nhưng hôm đó vì bận việc cụ bảo con gái út thay thế. Vừa thấy cô, anh đã kinh ngạc trước nhan sắc mỹ miều nên liếc mắt nhìn mãi, cho đến khi đò sang bến mà anh chẳng hề hay biết.

    Lúc lên đò, cô gái đến lấy tiền công bảo anh trả gấp đôi. Anh ngạc nhiên hỏi “Sao người khác cô lấy có một đồng, còn tôi lấy tới hai đồng?”. Cô nói: “Vì người ta đi đò thản nhiên bình lặng không nhìn tôi nên tôi lấy họ một đồng, còn anh nhìn tôi thì phải trả thêm một đồng nữa”. Anh nghe mà lòng hơi thẹn, liền trả tiền rồi lặng lẽ lên bờ. Đến lúc trở về, anh sợ cô lấy tiền gấp đôi như lần trước nên chỉ cúi gằm mặt nhìn khoang thuyền, nhưng hình ảnh cô gái dễ thương ấy cứ thấp thoáng ở lòng làm anh tưởng tượng ao ước, mơ mộng viển vông... Khi đến bờ thì cô bảo trả bốn đồng, anh đỏ mặt nói: “Tôi đâu có nhìn cô, sao lại bảo trả bốn đồng?”. Cô mỉm cười trả lời: “Đồng ý anh không nhìn tôi bằng mắt, nhưng anh nhìn tôi bằng tâm, nên lúc nào tôi cũng ở trong lòng anh, vì vậy anh phải trả bốn đồng”. Anh không ngờ cô gái đã biết được tâm tưởng của mình nên chẳng mở miệng được, vội trả tiền đi thẳng lên bờ.

    Mẩu chuyện trên rất thâm thúy nói về người đã ái nhiễm trần cảnh. Nếu nhìn trần cảnh một cách bình lặng thản nhiên thì không có gì bận tâm rắc rối, do vì thấy các pháp là thật, tâm vướng mắc mà sanh ra việc này chuyện nọ. Nếu thấy đối tượng là thật rồi thì dù cho ta trốn tránh bằng cách nào đi nữa cũng không làm sao trốn khỏi được, vì nó đã in vào lòng rồi. Để thấy hình bóng cô gái trong đầu anh thư sinh là một hình ảnh biểu trưng cho bóng dáng năm trần in vào tạng thức. Vì vậy tất cả đều do tâm ta máy động mà phát sinh ra mọi chuyện (các pháp), ta chỉ chuyển đổi tâm chớ ngoại cảnh là phần trợ duyên phụ mà thôi. Cho dù ta có thay đổi hoàn cảnh môi trường đi nữa mà tâm ái nhiễm không chịu chuyển hóa thì ở nơi nào cũng bị ái nhiễm. Nếu thay đổi ở mặt hình thức bên ngoài thì không bao giờ hết khổ đau được. Giống như con chim cú, người ta ghét nó vì tiếng kêu nên nó đi đến đâu cũng bị người xua đuổi, chỉ khi nào nó biết đổi tiếng hay không kêu nữa thì dù ở nơi đâu cũng không bị ai ghét đuổi cả.

    Lại nữa ở hồi 82-83 cũng nói về việc ái này, xin lược dẫn một đoạn.

    ...Đường Tăng bị yêu tinh bắt về động ép thành thân, nhờ có Tôn Hành Giả dùng nhiều thủ thuật đến đánh mấy lần và lập kế vào được bụng nó, bắt nó phải trả Đường Tăng mới tha mạng. Yêu tinh đau quá đành phải chịu. Khi đưa Đường Tăng ra khỏi động, Tôn Hành Giả liền hóa phép ra khỏi bụng yêu tinh, yêu tinh nổi giận nên hai bên đánh nhau. Yêu tinh đánh không lại dùng kế lừa Tôn Hành Giả và Ngộ Năng cùng Ngộ Tịnh, hóa chạy đến chỗ Đường Tăng đang nghỉ bắt đem về động. Tôn Hành Giả tìm đến động, vào trong không thấy ai, chỉ thấy hai bài vị mà yêu tinh thờ là Thiên vương và Na Tra, Tôn Hành Giả liền biết là người thân của Thiên vương. Tôn Hành Giả lấy hai bài vị đi thẳng đến Thiên đình kiện, bảo trả Đường Tăng lại... Khi gặp Thiên vương trình hai bài vị, Thiên vương nói không có người con nào ở hạ giới... May nhờ Na Tra còn nhớ chuyện xưa nên nhắc lại Thiên vương có đứa con nuôi do ơn cứu mạng mà nó thọ nhận làm cha. Thiên vương nhớ ra nó là con chuột lông vàng thành tinh. Nên Thiên vương sai Na Tra xuống bắt nó phải trả Đường Tăng lại cho Tôn Hành Giả. Na Tra cùng Tôn Hành Giả xuống động, yêu tinh thấy Na Tra và Tôn Hành Giả liền đầu phục xin tha mạng...

    Thiển nghĩ, ở đây ám chỉ cho Thiên ma quấy phá những người đang hành đạo. Vì trong truyện Ngô Thừa Ân dẫn yêu tinh là con nuôi của Thiên vương, nên mới nói nó là Thiên ma. Vả lại, yêu tinh là loài chuột, mà chuột thì ái dục rất mạnh, khi lứa con nó đẻ trước chưa rả bầy thì nó đã sanh lứa con kế tiếp. Cũng vậy, khi ái dục ngự trị ở lòng người ta không sao an ổn được, niệm tưởng chập chùng cứ hết ý này nối tiếp niệm nọ không dứt. Cho nên khi nói về ái dục người viết mới dẫn đề mục là “Nguồn gốc của niệm”. Khi đã có trí tuệ thì niệm ái dục không làm hại được giới thân huệ mạng nên chúng phải chịu hàng phục. Nhưng nếu lơ là sẽ bị chúng gạt gẫm, giống như yêu tinh bị Tôn Hành Giả vào trong bụng làm quằn quại, khi đó mới chịu buông tha cho Đường Tăng, nhưng khi Hành Giả lơ đễnh thì Đường Tăng sẽ bị Yêu tinh bắt tiếp vậy.

    Đường Tăng với chí nguyện tu hành hết sức kiên định, dù bị yêu tinh bắt vào động dùng mọi hình thức quyến rũ khuyến dụ cũng không làm Đường Tăng lay động. Trong khi đó Đường Tăng lúc nào cũng trông mong Tôn Hành Giả đến giải cứu.

    Cũng như người xưa khéo ngụ ý diễn tả những cảnh trong đêm thành đạo của Đức Phật ngồi dưới cội Bồ đề sau 49 ngày đêm thiền định, đến đêm cuối cùng, lúc sao mai vừa mọc, Ngài hốt nhiên giác ngộ giải thoát không còn bị trói buộc trong vòng luân hồi sanh tử nữa. Đêm cuối cùng ấy tâm trí Ngài sáng suốt an định, hào quang chiếu khắp mười phương rung động cả vạn vật chung quanh và thấu đến cõi Thiên ma, làm cung điện chúng chao đảo chuyển động. Chúng vừa kinh sợ, vừa tức tối khi biết có người sắp thành đạo; người này không còn ở trong vòng kiềm tỏa của chúng, người này sẽ dẫn dắt bao người khác thoát khỏi ách nô lệ của chúng. Chúng tức tốc đem binh tướng xuống đến trước Phật, hóa phép nổi giông gió, sấm chớp, đất lở núi nghiêng mong làm cho Phật động tâm hoảng sợ. Nhưng Đức Phật vẫn tĩnh lặng ngồi thản nhiên như không có việc gì xảy ra. Thấy thế Thiên ma dùng đến oai lực, sai khiến cho binh ma, tướng quỷ nhe nanh cầm gươm giáo, bắn tên phun lửa vào mình Phật, nhưng Phật vẫn bất động an nhiên. Tất cả tên giáo và lửa không đụng đến da thịt Phật mà chúng rơi rớt chung quanh chỗ Ngài ngồi, chúng biến thành những bông hoa như để xông ướp hương thơm cúng dường quanh mình Ngài. Thiên ma thấy thế bèn nghĩ kế dùng danh lợi và nữ sắc để quyến rũ Ngài. Vì danh dễ làm khêu gợi lòng tự ái; lợi dễ gợi lòng tham muốn và sắc đẹp dễ rung động dục vọng luyến ái. Đó là những cái làm lòng người dễ xiêu, dễ động nhất để lay chuyển tâm Phật. Nhưng rồi cũng không làm Phật mảy may động lòng. Thiên ma thấy vậy hoảng sợ, xấu hổ nổi trận cuồng phong chạy về Thiên giới.

    Đức Phật luôn điềm tĩnh và hùng dũng trước mọi biến cố, không việc gì làm lay động được tâm Ngài. Ngài đã chiến thắng mà không cần dùng đến binh khí gì cả. Ngài chỉ an định và sáng suốt thấy rõ những ảo cảnh trong tâm và ngoại pháp, Ngài làm chủ tất cả không bị chúng chi phối sai khiến, nên chúng tự xấu hổ rút lui mà trả lại sự trống vắng thanh tịnh thản nhiên nơi Ngài đang ngự trị. Còn ngày nay đối với người hành đạo chân chính, khi tịnh tọa chỉ được đôi chút tỉnh giác thanh tịnh an nhiên, có nghĩa là được giác hạnh từng chút từng chút chớ hiện tại giác hạnh  chưa được viên mãn xuyên suốt như Đức Phật.

    Ở đây ta phải có cái nhìn rộng và sâu xa hơn một chút, Thiên ma không phải ở đâu xa tít lạ thường mà chính là cái lực lượng của vật chất, của dục vọng tội lỗi, của tối tăm tham, sân, si... hay mọi hoàn cảnh làm mình xao xuyến bất an. Bởi từ lâu chúng ta bị con Ma vương đang ngự trị ở lòng, nếu hơi lơ là thiếu tỉnh giác thì ma bên ngoài mới được dịp quấy rối, lôi cuốn ta vào vòng trói buộc mà phải bị nó sai khiến. Tóm lại là những vọng tâm và cảnh trần khích động khiến cho ta bị chao động nhiễu loạn.

    Xem truyện ta thường thấy có rất nhiều yêu tinh lúc nào cũng rình rập muốn tìm bắt Đường Tăng để ăn thịt, là bởi chúng cho rằng ăn được thịt Đường Tăng thì không già, bệnh và sẽ sống thọ. Và chúng cũng cho rằng Đường Tăng tu hành đắc lực như vậy thì cái Nguyên dương của Đường Tăng rất quí báu, nếu đoạt được cái Nguyên dương đó thì nó trở thành trường sanh bất tử và có sức mạnh phi thường không một cường địch nào đối chọi lại nó. Vậy Nguyên dương của Đường Tăng là cái gì mà quí báu đến thế? Ở đây ta phải hiểu rằng, Nguyên dương chẳng phải là thứ vật chất bất tịnh tầm thường như bao nhiêu người lầm tưởng, mà Nguyên dương là sự trinh bạch tinh khiết không bị ngoại duyên cám dỗ làm hoen ố thanh danh (giới tướng thanh tịnh). Còn nói sâu sắc hơn nữa Nguyên chính là nguồn cội. Dương là tính dương thuần tuý sáng suốt hơn hết, như mặt trời tỏa chiếu khắp vạn vật thì mọi u tối đều tan biến, là nguồn gốc phát sinh năng lượng tạo ra sự sống cho muôn sự muôn vật, tức ám chỉ cho Bổn tâm hay Tự tánh sẵn có ở mỗi chúng ta. Bởi vì tâm là nguồn gốc phát sinh ra vạn vật, nhưng do vì vọng chấp những ảo tướng hư ngụy, nhận giả làm thật mà quên lửng. Muốn rõ tâm hãy ngay muôn sự vật mà suốt biết vạn vật không ngoài tâm. Nếu không tâm thì vạn vật (các pháp) từ đâu mà an lập? Cũng như, chẳng có hư không thì các pháp an trú ở chỗ nào đây? Cho nên, chỉ có người hành đạo đắc lực mới có thể rõ ra được cái Nguyên dương này và luôn trưởng dưỡng nó hằng giây phút không chút sao lãng. Còn yêu tinh là ám chỉ những cảnh duyên kích động khiến dục vọng Thất tình, Lục dục… vọng tưởng sinh khởi không ngoài ba độc – Tham, sân, si đã ẩn trú đầy trong A lại da thức (Đường Tăng) làm cho con người thường tình phải đau khổ vì chúng hết đời này sang kiếp nọ luân hồi trong sáu nẻo, và khiến cho những hành giả tu tập phải khốn đốn vì nó cả ngày lẫn đêm (trong mộng mị) khó mà được bình lặng thản nhiên. Cho nên người hành đạo không khéo thì sẽ bị áng mây vô minh che khuất ánh sáng đại quang minh, tức là lúc nào thức tình và ngoại cảnh cũng chực chờ choán chỗ che án Tự tâm Bản tánh. Yêu tinh lúc nào cũng muốn chiếm đoạt cái Nguyên dương của Đường Tăng là ngụ ý Ma vương (trong kinh nói là vọng tâm) lúc nào cũng muốn phá hại người hành đạo để mở rộng bờ cõi của chúng, vì chúng cho rằng, nếu trên đời này có người giác ngộ thì thành trì và thuộc hạ của chúng sẽ tan rã, hoặc qui hướng theo ánh sáng trí tuệ và lòng từ bi của đấng giác ngộ ấy. Vì vậy trong kinh miêu tả, khi có người giác ngộ thì cõi yêu ma rúng động, và chúng sợ hơn hết là sự sống của chúng sẽ bị mai một. Bởi vì người giác ngộ lúc nào cũng mong muốn tất cả nhân sinh đều được giác ngộ, thấy đúng lẽ thật các pháp không còn lầm lẫn để tự tại an nhiên thoát khỏi sự kiềm tỏa của chúng ma, biến cảnh giới chúng thành cõi Tịnh độ thanh thoát an lạc nên chúng hoảng sợ rằng mình không được tồn tại lâu dài. Thành thử xem truyện lúc nào ta cũng thấy yêu tinh luôn luôn nhử mồi giăng bẫy để bắt cho được Đường Tăng, tức là vọng tình và ngoại cảnh luôn chực sẵn hãm hại phá hoại người hành đạo chân chính. Nếu hành đạo lơ mơ không có trí tuệ hiện diện thì sẽ rơi vào cạm bẫy ma, liền mất mình tức thời.

    Ở trong đoạn này ta thấy có nhân vật Na Tra xuống trợ giúp Tôn Hành Giả, vậy Na Tra là ai và có ý nghĩa gì? Na Tra là một trong năm vị Thái tử con của Tì Sa Môn Thiên Vương, là vị Thiên thần hộ trì Phật pháp, tay cầm kích quan sát khắp nơi, ngày đêm bảo hộ Tứ chúng đệ tử Phật tu hành chân chinh và các Quốc vương, Đại thần công minh liêm chính. Nếu có ai khởi tâm bất thiện sát hại những vị vừa kể trên thì Na Tra dùng kích kim cương đánh hoặc đâm vào tim. Vả lại, trong thiền tông có công án “Na Tra tích cốt hoàn phụ” (Na Tra chẻ xương trả cho cha). Công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa thiền sư Đầu Tử Đại Đồng và một vị tăng như sau:

    Hỏi: “Na Tra chẻ xương trả cho cha, lóc thịt trả lại cho mẹ, thế nào là thân bản lai của Na Tra?”

    Sư liền buông cây phất tử xuống đất.

    Theo công án này thì Na Tra là ám chỉ cho Bản Lai Diện Mục, tức Tâm Phật sẵn có ở mỗi người. Thiền sư Đại Đồng buông cây phất tử xuống là ý nói buông tất cả mọi ái chấp không còn bám víu vào một đối tượng nào dù đó là pháp tu và sở chứng thì mới có thể rõ ra tâm Phật chính mình.

    Khi trí tuệ đã phát sinh mới thấy lẽ thật gốc gác của niệm là ái. Từ cái ái thân, ái tâm và ái những cái sở hữu mới có niệm. Có thể nói ái là đầu mối sanh ra niệm, mà niệm còn thì đưa đến sinh tử luân hồi. Thế thì niệm với ái thường làm nhân làm duyên cho nhau. Nhưng nếu tâm không còn chao động thì dù có tiếp duyên với ngoại cảnh lòng vẫn an nhiên tự tại không bị trói buộc dính mắc, nên dục vọng không tác khởi.

    Chính niệm ái dục này đã làm cho ta sinh tử không biết bao nhiêu lần, cho nên người hành đạo dù tu pháp môn nào đi chăng nữa mà không đoạn cái nhân ái thì sẽ bị trôi lăn không cùng, chẳng đến được nơi an lạc giải thoát. Đây xin đi xa một chút để nói khi công phu hành đạo phải biết tâm ái này.

    Như có người hành pháp môn niệm Phật, nếu trong tâm chưa đoạn được ái thì dù có chân chánh niệm Phật cũng không được Phật tiếp đón, vì chẳng biết ái là chủ tể của sinh tử thì niệm Phật đó chẳng có rốt ráo. Nếu người trước lúc lâm chung có niệm Phật mà trước mắt không kiềm chế được những ái cảnh để xả bỏ thân tâm thì không thể nào tự chủ nhớ câu danh hiệu Phật để niệm. Vì thế cổ nhân có nói: “Nghiệp bất trọng bất sanh Ta bà. Ái bất đoạn bất sanh Tịnh độ”. Nghĩa là nghiệp chẳng nặng chẳng sanh Ta bà. Ái chẳng đoạn chẳng sanh Tịnh độ. Nếu không biết cội gốc của ái để dứt trừ thì dù có niệm Phật chỉ là niệm Phật ngoài da (chỉ có hình thức), cuối cùng không biết có được vãng sanh chăng? Điều này hãy hỏi lại chính mình thì rõ hơn. Nên người xưa nói: “Nếu xưng danh hiệu Phật cầu vãng sanh Tịnh độ mà không trì tịnh giới, phiền não không đoạn trừ, tâm địa còn cấu uế thì Phật bảo người này mãi chẳng thành tựu”. Vì vậy, muốn ứng dụng phương pháp trì danh hiệu Phật thì cần phải có những yếu tố như: Tín, Hạnh, Nguyện.

    Tín là tin chắc. Tín ở đây có hai mặt. Một là tín tự. Hai là tín tha. Đây nói về tín tha. Nghĩa là tin có cõi Phật A Di Đà và tin khi mình niệm Phật được nhất tâm thì sau khi chết sẽ có Phật A Di Đà đến rước về cõi Tây phương Cực lạc.

    Đọc kinh A Di Đà ta thấy Đức Phật Thích Ca diễn tả cõi Cực lạc đầy đủ tất cả những cảnh sung sướng, và cõi Ta bà này quá uế trược đầy mọi khổ đau, rồi mới dạy phương pháp hành trì. Tuy không biết cõi   Cực lạc có hay không nhưng chúng ta tin rằng Đức Phật Thích Ca không dối gạt. Phải có niềm tin vững chắc như vậy gọi là TÍN. Rồi y cứ theo lời dạy của Ngài trong kinh mà chuyên tâm trì niệm ngày đêm không trì trệ, gọi là hành trì hay gọi là HẠNH. Khi đối duyên xúc cảnh nhơ nhớp, khổ đau ở cõi này mà nguyện hồi bỏ, không ái nhiễm dính mắc, lại nguyện hướng về bên cõi thanh tịnh Cực lạc kia, đây gọi là NGUYỆN. Cho nên hành phương pháp niệm Phật phải lấy niềm tin ở lời Phật nói trong kinh, rồi khởi tâm ưa thích cõi Cực lạc để chán cõi Ta bà uế trược này mà phát nguyện hồi bỏ, kế tiếp nguyện hướng về cõi   Cực lạc làm đầu thì hành trì câu danh hiệu Phật A Di Đà mới đạt kết quả. Vì sao? Vì trong kinh Di Đà trước hết Đức Phật diễn tả cảnh trang nghiêm, đẹp đẽ ở cõi   Cực lạc như cây cảnh toàn là bảy báu, có mưa hoa, tiếng chim hót, suối chảy v.v... đều thành tiếng nói pháp hết. Và chủ cõi Cực lạc là Phật A Di Đà có vô lượng hào quang, có tuổi thọ không thể nghĩ lường và công đức không thể so sánh. Ngài đang vì tất cả chúng cõi ấy giáo hóa. Dân chúng ở cõi đó toàn là hàng Thanh Văn và các bậc Bồ Tát đang tu hành không lui sụt, toàn là những hạng người lành cao thượng cả. Bởi lẽ chúng sinh ở cõi này còn đầy lòng tham, khi nghe trong kinh Phật nói như thế thì rất mong muốn, ưa thích được sanh về cõi đó, vì nó trang nghiêm đẹp đẽ quá, toàn là của báu đầy dẫy, được tuổi thọ sống lâu và gần thầy thánh bạn hiền. Đây gọi là phương tiện dẫn dắt, gọi là dùng tình cảm để dẹp tình cảm, hay gọi là lấy gai lể gai, hoặc nói dùng một niệm đánh tan những vọng niệm để tâm được an định.

    Còn ở cõi Ta bà này nhơ nhớp xấu xa từ thân, tâm cho đến ngoại cảnh. Thân thì nhơ bẩn hôi hám do thập khiếu thải ra, nên mỗi ngày phải tắm rửa vệ sinh thay đổi áo quần luôn, đôi khi còn phải tô điểm phấn son, ướp nước hoa để át đi những hơi hôi hám do chất bất tịnh bên trong thải ra nữa.

    Về phần tâm thì tham lam, sân hận, si mê, ngã mạn, cống cao đủ thứ hết. Ngoại cảnh thì đất đai gò nổng, trũng thấp, sình lầy, khi lạnh khi nóng, thời tiết bất thường làm con người phải đối phó với thiên nhiên để được cuộc sống ổn định thật là khó khăn và khổ sở v.v... Nói sơ bao nhiêu đó thì tất cả chúng ta ai cũng cảm nhận được điều này rồi. Vì vậy Đức Phật nói ở cõi này là Ngũ Trược Ác Thế. Tức là năm cái nhơ nhớp ở thế gian như: Kiếp trược, Kiến trược, Chúng sinh trược, Phiền não trược, Mạn trược.

    - Kiếp trược: Là kiếp sống con người ở cõi Ta bà không trong sạch, từ hoàn cảnh đến môi trường. Vì vậy đi đến đâu ta cũng thấy sình lầy, rác rưởi, nước bẩn, bụi đất, mùi hôi thúi v.v...

    - Kiến trược: Là cái thấy lệch lạc không trong sạch, tức thấy không đúng sự thật. Như các pháp có là do nhân duyên hội đủ các yếu tố thành huyễn có, duyên ly tán thì nó huyễn không. Chúng ta chẳng thấy đúng lẽ thật như vậy, lại cố chấp cho là thật có rồi bảo thủ. Ví như chấp thân và tâm suy nghĩ loạn động cho là mình v.v... đại lược không ngoài năm cái (thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, tà kiến).

    - Chúng sinh trược: Là chỉ cho thân tâm mỗi chúng sinh không trong sạch. Về sắc thân thì do đất, nước, lửa, gió hòa hợp kết thành và nhờ sự bồi bổ của đất nước gió lửa bên ngoài (thức ăn, nước uống, không khí, hơi ấm) mới có sự sống, nên nó là một thứ nhờ vay mượn mới còn, nếu không thì sẽ tan hoại. Còn phần tâm thì tất cả những suy nghĩ tính toán cũng do hội đủ các yếu tố mới có, như căn có tiếp xúc cảnh thức máy động mà sanh ra tâm suy nghĩ, tưởng tượng, cho nên có danh từ gọi là vọng động hay vọng tưởng, vọng niệm. Do đó thân và tâm đều bị vẩn đục vì không được an định và trong sạch.

    - Phiền não trược: Là những hờn giận, phiền muộn, mọi niệm tưởng không trong sạch. Vì tất cả cuộc sống ở thế gian đều không được như ý mình muốn từ thân tâm đến hoàn cảnh, cho nên dễ sanh ra phiền não. Ví như ngay thân này ta muốn khỏe mạnh mà nó cứ đau ốm hoài.... còn tâm thì thích vui vẻ hạnh phúc an lạc mà nó cứ buồn phiền, trái ý nghịch lòng, lo lắng, sợ hãi… Còn hoàn cảnh thì không như mong muốn, như ta muốn nắng thì lại mưa, muốn yên tịnh lại bị ồn ào hay ngược lại v.v... Do vậy mà dễ làm cho ta sanh phiền não.

    - Mạng trược: Là mạng sống không trong sạch. Vì mạng sống quá ngắn ngủi, chỉ có một hơi thở ra không hít lại, hay hít vào mà không thở ra là mạng sống dứt đoạn. Nên nói không trong sạch vì quá ngắn ngủi.

    Đọc kinh Di Đà chúng ta mới thấy Đức Phật khéo dùng phương tiện để cho chúng sinh nhận định trước mà chọn hướng đi. Trước hết phải có tâm chán bỏ cõi Ta bà mà hướng về cõi Cực lạc. Vì Đức Phật Thích Ca biết chúng sinh ở cõi này còn đầy dẫy những tham vọng, sân, si, nên bày phương tiện để dẫn dụ chúng sinh hướng đến chỗ mà chúng hằng mơ ước như cõi  Cực lạc vậy.

    Bởi có tâm ưa thích say mê cảnh giới đẹp đẽ, an lạc như trong kinh diễn tả chúng ta mới chán ngán những cái xấu xa, nhơ nhớp ở cõi Ta bà để cho tâm lăng xăng ái nhiễm không còn ham đắm chạy theo dục lạc thế gian tạm bợ giả dối nữa. Rồi từ từ ta sẽ lạnh nhạt mọi cái giả tạm trần thế, thì chừng đó ứng dụng hành theo phương pháp trì danh hiệu Phật mới có kết quả. Vì có tâm chán là hồi bỏ, tâm ưa thích là hướng đến. Đó là tâm niệm chung của đa số chúng sinh.

    Khi chúng ta gặp những chướng ngại từ môi trường ngoại cảnh hay ở nội tâm làm phiền não đau khổ liền nghĩ cõi Ta bà không như ý mình, còn ở cõi   Cực lạc thì thanh tịnh an vui không ai quấy rầy nhiễu loạn, nên mong muốn sanh về đó mới mãn nguyện. Vì vậy gọi là hồi phiền não đau khổ mà hướng nơi Cực lạc. Hay ngẫm nghĩ ở cõi này mạng người quá ngắn ngủi không lâu dài, còn ở cõi Cực lạc thọ mạng đến vô lượng, nên liền hồi yểu mạng mà hướng về Cực lạc để được tuổi thọ vô lượng. Hoặc ở cõi Ta bà vì sinh kế vất vả nhọc nhằn kiếm ăn mệt mỏi, mặc thì chẳng lành hay không đẹp vừa ý, còn cõi Cực lạc muốn gì được nấy khỏi bận tâm lo lắng làm lụng, nên nguyện sanh về đó để được như ý. Gọi là hồi khổ sở mà hướng an vui. Khi có tâm ưa, chán và hồi hướng rồi thì bắt đầu trì niệm câu danh hiệu Phật A Di Đà luôn miên mật không gián đoạn, từ một ngày cho đến bảy ngày tâm không còn luyến ái, loạn động nữa, chỉ có câu danh hiệu Phật ở tâm gọi là nhất niệm, thì sẽ được sanh về cõi Cực lạc làm chúng bạn với các Thánh hiền bên đó. Đây gọi là Sự niệm Phật.

    Nhưng khi niệm Phật đến chỗ không thấy có mình là người niệm, không thấy có câu danh hiệu Phật để niệm, không còn tất cả tâm ưa, chán hay nguyện hướng v.v... nghĩa là không còn một mống niệm nào thì lúc đó Tâm chân thật sáng suốt an định hiện bày, nên có danh từ gọi là Nhất Tâm Chân Như. Thành thử niệm Phật đến chỗ không còn niệm gọi là thấy (tạm gọi) Tự tánh Bổn tâm. Rõ Bổn tâm thì cõi Tịnh độ ngay trước mắt, tức thấy Phật Di Đà, nên có câu “Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh độ”. Đây gọi là “tín tự”.

    Bởi Bổn tâm luôn hằng giác sáng suốt nên nói là vô lượng quang, Tự tánh Bổn tâm hằng thanh tịnh chưa từng bị sanh diệt mà nói là vô lượng thọ, vì tất cả mọi vọng tưởng luyến ái đắm nhiễm được vắng lặng, chỉ còn tâm an định sáng suốt nên kinh nói: “Tâm tịnh thì Phật độ tịnh”. Gọi là niệm Phật. Thành thử trong kinh Di Đà nói: “....Không thể nào lấy chút ít thiện căn, phước đức nhân duyên mà được sanh về bên cõi   Cực lạc...” là ý này vậy.

    Dù cho chúng ta ứng dụng phương pháp tu nào cũng thế, nếu tâm ái chấp vọng động không dừng lặng thì không thể nào nhận ra thể tánh sáng suốt an định nơi chính ta. Mà thể tánh đó có vô lượng quang, có vô lượng thọ và vô lượng công đức giống như Phật A Di Đà chẳng khác.

    Là hành giả đang hạ thủ công phu, nếu có những niệm ái khởi hiện hãy dùng trí tuệ sáng suốt nhìn tận gốc xem chúng từ đâu phát khởi. Khi nhìn lại thấy nó không đầu mối nguồn cội thì ngay đó niệm ái liền tan biến trở về lặng lẽ.

    Bởi thế trong thiền môn nói, khi nào hết niệm mới dứt sanh tử, còn niệm là còn sanh. Nếu niệm thiện thì sanh lên cõi trời hoặc trở lại làm người được toàn điều tốt lành. Còn có niệm ác thì theo hành nghiệp bị đọa lạc không thể cưỡng được. Vì thế trong kinh Di Đà nói niệm Phật đến chỗ nhất tâm bất loạn, tức là không còn một niệm mới được về nơi cõi Phật. Cõi Phật đó là do tự tâm vắng lặng, nên người xưa nói: “Nếu muốn tịnh cõi Phật thì phải thanh tịnh tự tâm”. Cũng vậy, muốn không còn trở lại sanh tử thì phải chặt dứt ngay niệm ái vừa mống khởi, đừng để chúng lôi cuốn, tâm mới không loạn. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Dù cho có được nhiều trí tuệ hiện tiền đi nữa mà tâm ái không đoạn trừ hẳn rơi vào đường ma. Nếu người không dứt tâm ái mà tu thiền định thì như nấu cát muốn thành cơm không thể nào được vậy”.

    Thế nên, phải có trí tuệ sáng suốt để thấy lẽ thật ái dục và tự chủ trước ngoại cảnh, đừng vì một chút cảm thọ cho bản ngã mà bị nó trói buộc. Bởi vì ái là đầu mối dẫn thân này thọ sanh tiếp nối. Tuy đã giác ngộ theo chánh đạo, nhưng niệm ái còn tàng ẩn trong tạng thức, nếu không có trí tuệ tự chủ nhận định lúc chúng hiện khởi thì sẽ bị nó dẫn đi, tâm không an định và lại có thể lạc vào tà đạo.

     

      *

     

  • 17. TAM ĐỘC

    TAM ĐỘC 

     

    Tam độc là tên khác của tham, sân, si. Chính nó là nhân dẫn dắt chúng sinh đọa lạc trong luân hồi lục đạo, và nó làm ngăn trở bước tiến giác ngộ giải thoát của người đang hành đạo nên nói là độc. Từ khi trời đất đã khai sinh thì có muôn loài thực vật và động vật sinh sống, nhưng loài nào cũng muốn sống thọ và sợ chết (tham). Mà trong cuộc sống muốn được sinh tồn và truyền nối mãi thì phải hợp hai thứ âm dương giao nhau mới sinh sôi nảy nở (si). Và để gìn giữ sinh mạng được lâu dài thì những loài mạnh, khôn hiếp loài yếu dại, tranh giành xâu xé lẫn nhau, tạo sự bất hòa không cân bằng mà sinh ra ganh ghét, thù hằn lấn áp để giành sự sống, do đó có sân hận từ đời này sang kiếp nọ. Vậy từ khi muôn loài hình thành là có tham sân si, bởi có tham sân si nên mới có ba cõi, sáu loài lên xuống thay hình đổi tướng, nhưng tùy theo nghiệp lực riêng của mỗi loài mà có sai biệt chênh lệch, sung sướng hay khổ đau.

    Người hành đạo hãy thận trọng đối với ba độc, phải biết nguồn gốc của nó và khéo dùng trí tuệ sáng suốt để vượt qua. Đây xin lược dẫn ở hồi 75-78 để nói lên gốc của ba độc.

    ... Mấy thầy trò đang đi trên đường bỗng gặp vị hộ pháp bảo phía trước có ba yêu tinh ở động Sư đà rất hung ác. Nghe vậy, Tôn Hành Giả đi dò xét gặp một tiểu yêu tuần núi, Tôn Hành Giả liền biến ra tiểu yêu ăn mặc giống y vậy để hỏi hạch tông tích của ba yêu tinh. Tiểu yêu vì không biết nên nói:

    - Đại vương Một có tài biến to lớn hả miệng thâu người, cho đến mười thiên binh nhà trời đều thâu hết,

    - Đại vương Hai có tài biến thân voi to lớn, dùng vòi cuốn người.

    - Đại vương Ba, không phải quái vật ở phàm, hay đè gió, giốc sông, có bảo bối là bình âm dương hai khí, người bị cuốn vào một lúc sẽ hóa ra nước.

    Tôn Hành Giả nghe nói cả ba yêu tinh đều muốn bắt Đường Tăng ăn thịt. Khi hỏi xong, Tôn Hành Giả đánh chết tiểu yêu đi tuần, rồi hóa lại giống tiểu yêu đó trở về động báo cáo. Do dò xét để sơ hở lộ ra nên Tôn Hành Giả bị bắt bỏ vào bình âm dương. Tôn Hành Giả dùng thủ thuật khoan thủng bình âm dương thoát thân. Yêu tinh Một nổi giận ra đánh Tôn Hành Giả, thấy đánh không lại, nó bèn hóa một người to há miệng thâu Tôn Hành Giả vào bụng. Tưởng là đắc thắng, ai dè bị Tôn Hành Giả ở trong bụng quậy đau quá phải van xin tha mạng và hứa sẽ đưa mấy thầy trò qua núi, nên Tôn Hành Giả mới chịu ra. Khi Tôn Hành Giả ra yêu tinh Hai và Ba trở mặt đánh. Yêu tinh Hai hiện thân voi to lớn lấy vòi cuốn đánh Tôn Hành Giả, bị Tôn Hành Giả dùng thuật nắm vòi đánh túi bụi, nó mới quy hàng chịu đưa mấy thầy trò qua núi... Khi về động yêu tinh Ba bày kế, khi đưa sẽ bắt Đường Tăng... Tôn Hành Giả lúc đó vui mừng không biết mưu mẹo của chúng nên đi trước dọn đường, bỗng thấy trước mặt có thành trì nhiều ác khí do yêu tinh hóa hiện, vừa dừng lại thì ba yêu tinh ở sau ra tay đánh phản. Bị đánh bất ngờ mấy thầy trò phản ứng không kịp nên bị bắt hết về động. Tôn Hành Giả dùng thuật thoát ra cứu thầy và các sư đệ trốn đi giữa đêm. Yêu tinh phát giác bắt lại nhốt mỗi người một nơi. Tôn Hành Giả thoát được vào động dò xét, yêu tinh Ba đánh lừa phao tin Đường Tăng đã bị ăn thịt, làm cho Tôn Hành Giả nản chí. Tôn Hành Giả tưởng thật, vừa tức vừa buồn, đi đến Như Lai tuần tự trình bày sự việc. Như Lai cười nói chớ có phiền não, vì Ngài biết tông tích của ba yêu tinh. Như Lai gọi A Nan đi mời hai ngài Văn Thù và Phổ Hiền đến rồi nói với Hành Giả “Đây là chủ của hai yêu tinh Một và Hai, còn yêu tinh Ba thì đích thân Như Lai mới thâu được”. Phật cùng hai Bồ Tát và Tôn Hành Giả đến động. Tôn Hành Giả vào khiêu chiến giả thua chạy về hướng Phật, ba yêu tinh không biết nên đuổi theo. Khi gặp hào quang của Phật, yêu tinh Một và Hai nhũn cả tay chân, chỉ có yêu tinh Ba thúc hai yêu kia cầm gươm tiến đến giết Như Lai và cướp lấy Lôi Âm (nơi Phật ngự). Yêu tinh Một và Hai vừa tiến lên liền bị ngài Văn Thù và ngài Phổ Hiền đọc thần chú, cả hai đều ngã xuống hiện nguyên hình là con sư tử lông xanh và con voi trắng. Còn yêu tinh Ba chưa chịu hàng phục, nên Như Lai dùng phép làm nó nhũn cả người không chạy được, hiện nguyên bản tướng là con Đại bàng Kim Sí Điểu xin đầu phục quy y theo Phật. Tôn Hành Giả đến động cứu thầy và sư đệ ra...

    Lược dẫn một đoạn cho thấy yêu tinh Một là ngụ ý chỉ cho tham, vì nó có tài biến hóa rất lớn, há miệng nuốt đến mười thiên binh nhà trời, ý nói lên lòng tham quá to tát, bao nhiêu cũng thâu gom.

    Yêu tinh Hai chỉ cho sân, tượng trưng cho voi, vì voi là một con vật có sức mạnh và khi nóng giận nó dùng sức mạnh để giết hại, hoặc phá nát tất cả những gì làm chướng ngại nó. Cũng vậy, niệm sân hận rất mạnh có thể phá hết tất cả công đức do mình đã tạo ra từ trước, cho nên người xưa nói: “Nhất niệm sân tâm năng thiêu vạn lâm công đức” là ý này vậy.

    Yêu tinh Ba ngụ ý cho si (cội gốc vô minh) là cái bất giác tiềm ẩn trong tạng thức do ta huân tập. Nó có bảo bối bình âm dương hai khí là tượng trưng cho sự si mê của chúng sinh, khi thấy hai tâm tưởng về nhục dục (nam nữ hay đực cái) đang ân ái, nơi âm dương giao nhau (noãn bào và tinh trùng hòa hợp) phát ra ánh sáng (lửa dục) thì thức thần bị hành nghiệp thúc dục tìm đến nơi đó khởi tâm tưởng ái dục vào đó để cảm thọ mà có sắc thân này, gọi là ái nghiệp, giống như khi bắt bỏ vào bình âm dương thì bị ra nước. Tức là khi vướng vào ái nghiệp (chấp mắc vào nhị nguyên – âm dương hai khí) thì sẽ mất Thân huệ mạng mà chỉ có nước ái đượm nhuần. Và chúng ta phải hiểu sâu xa hơn về hai chữ ái nghiệp này; có nghĩa là ái chấp, ái nhiễm quá sâu đậm, chớ ái dục chỉ là một phần trong ái chấp mà thôi.

    Còn khoa học ngày nay cấy tinh trùng (dương) vào noãn bào (âm) cho vào ống nghiệm để tạo ra con người, thì cũng là do âm dương gặp nhau phát ra ánh sáng, do sức mạnh của hành nghiệp thúc dục thần thức thấy ánh sáng đó mà phát lửa dục chiêu cảm đến thọ nhận gá vào, nên có đời sống mới tiếp nối.

    Đây nói tham không phải chỉ tham đắm ngũ dục bên ngoài thôi mà là lòng tham tột đỉnh tiềm ẩn trong tạng thức để nuôi lớn tự ngã này. Hoặc giả như hành đạo muốn biết được tâm người, mong có thần thông, tu cho mau giác ngộ, giải thoát để độ sinh v.v... mà không biết đó cũng chính là tham.

    Nếu khởi nhân tham để hành đạo thì không bao giờ đạt kết quả giác ngộ giải thoát. Vì tham là nhân sanh diệt, nếu được kết quả đi chăng nữa thì chỉ là cái quả trong sanh diệt chớ chẳng phải đúng quả chân chánh. Một khi trí tuệ hiện hữu thì tham, sân vắng bóng. Ngược lại tham sân ngự trị ở lòng thì trí tuệ bị lu mờ, giống như yêu tinh Một bắt được Đường Tăng, nó ôm cứng lại sợ Tôn Hành Giả đến cứu vậy (hồi 75). Nhưng muốn đạt đúng chánh quả thì phải chọn đúng chánh nhân. Nếu là chánh nhân thì trong ấy không có bóng dáng tham, sân, si, mà tham, sân, si là từ có niệm khởi động, nếu còn vọng niệm tức không ngoài chấp ngã và chấp pháp. Thành thử, muốn chọn đúng nhân an lạc giải thoát phải nhận định rõ về hai trạng thái (tạm nói) tâm ở chính ta, xem cái nào sanh diệt vô thường khi có khi không thì đừng chấp mắc, hãy buông xả, và thấu rõ nơi ta có cái thanh tịnh sáng suốt thường hằng bất biến. Chính cái đó xưa nay chưa từng sanh diệt và chưa từng động huống nữa là tịnh (có động nên mới lập tịnh), vượt cả những danh từ trên nhị nguyên đối đãi. Cho nên giác ngộ là nhận ra cái thanh tịnh sáng suốt không sanh diệt, luôn hằng sống thì làm lợi ích mới không dính mắc, vì trong đó không còn ngã chấp, nên khi làm là vì lợi tha, mà ngã chấp hết thì pháp chấp cũng không còn. Song hễ còn ngã tức là còn pháp, vì ngã pháp do tương đãi nhau mà lập.

    Là người hành đạo phải có trí tuệ sáng suốt tận thâm tâm chiếu soi muôn pháp mới đi đúng đường giải thoát không sợ lầm lạc, nên lòng tham phải chịu khuất phục chẳng sanh khởi, nếu không thì dễ bị rơi vào lối tẽ, giống như Tôn Hành Giả vào bụng yêu tinh thì nó đành phải chịu thua vậy.

    Khi lòng tham không được như ý muốn nên dễ sân hận, lúc nó phát khởi khó mà kiềm chế được, giống như voi san bằng tất cả những chướng ngại khi nó nổi giận. Nếu có sáng suốt và định tỉnh hiện hữu thì niệm sân mới không bộc phát. Giống như yêu tinh Hai dùng vòi cuốn Tôn Hành Giả mà cuốn không được, trái lại bị Tôn Hành Giả dùng gậy đánh vào mặt và nắm vòi dẫn đi.

    Si là vô minh, là cái bất giác lầm lẫn không biết lẽ thật, do si dẫn dắt thành ra có tham, tham không được nên có sân. Vì vậy si là cái khởi đầu để bắt cầu cho tham và sân. Cho nên lúc yêu tinh Một và Hai hàng phục còn yêu tinh Ba không chịu mà bày kế để bắt Đường Tăng, và hai yêu tinh kia nghe lời nên thắng trận. Lại phao tin Đường Tăng đã bị ăn thịt để Tôn Hành Giả nản chí thối tâm không tìm hang động của chúng cứu Đường Tăng nữa cũng là yêu tinh Ba. Cho đến gặp Như Lai nó còn bảo yêu tinh Một và Hai tiến lên đánh cướp Lôi âm nữa. Phải biết si là cái mê tối thâm căn chẳng biết thế nào là chân ngụy, chánh tà…, chỉ làm càn theo bản năng thú tính phải bị trôi lăn lẩn quẩn trong ba nẻo sáu đường mà trong kinh gọi là “căn bản vô minh” .

    Bởi cái thanh tịnh sáng suốt an nhiên thênh thang đó chưa hề chao động, nhưng do một niệm bất giác hướng ngoại lao theo muôn pháp, si mê không biết lối về nên tạo không biết bao nhiêu tội lỗi. Khi đã thức tỉnh giác ngộ biết sai lầm hồi đầu mà tập nghiệp vẫn còn. Nó là cái bất giác vi tế, tuy có trí tuệ nên không đến nỗi bị hại đến thân huệ mạng nhưng chưa dứt hẳn.

    Người hành đạo phải thận trọng đối với si, khi có một niệm bất giác nó sẽ dẫn ta đi không cùng, giống như Tôn Hành Giả vui mừng khi nghe ba yêu tinh chịu đưa mấy thầy trò qua núi, vì chủ quan không biết mưu mẹo của chúng nên mấy thầy trò đều bị bắt, chỉ có Tôn Hành Giả là thoát được.

    Nếu trên đường hành đạo mà dễ dàng thì ai ai cũng thành Phật hết khỏi phải khổ tâm nhọc sức. Bởi vì những tập nghiệp do huân nhiều đời kiếp nên nay phải có công phu để chuyển hóa. Khi nào chuyển hóa sạch được trong trắng thì mới hưởng an lạc thái bình, còn đang trên đường hành đạo phải gian nan nhọc công bởi gặp những chướng nạn trở ngại. Thành thử, từ nhân đến quả phải đánh đổi một giá rất đắt. Ngài Hoàng Bá có dạy: “Chẳng phải một phen xương lạnh buốt. Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương”. Nghĩa là muốn hưởng được mùi hương hoa mai thì phải chịu cái lạnh buốt xương của mùa đông vậy. Cho nên Ngô Thừa Ân viết: “Là người ai chẳng qua rừng gai góc, gai góc phương Tây mới khác thường” (hồi 64).

    Làm người ở trên đời chẳng có ai mà được suôn sẻ mọi việc hoàn toàn như ý muốn. Nói chung ai ai cũng đều gặp phải hoàn cảnh khó khăn trở ngại (gai góc), nhưng con người có biết chuyển hóa và vượt qua được hay không là tùy thuộc vào ý chí của mỗi người.

    Còn gai góc phương Tây khác thường là thế nào? Đây nói người hành đạo gặp phải những chướng ngại khó khăn từ ngoại cảnh đến nội tâm, chúng giống như là gai góc làm cản trở bước tiến hành giả đang trên đường giải thoát, nên nói là khác thường. Vì vậy, Ngô Thừa Ân viết, khi mấy thầy trò đi đến Kinh cức lĩnh (núi gai góc) thấy có hai câu đề rằng:

    “Gai góc quấn chằng tám trăm dặm.

    Từ xưa có lối, ít người đi”.

    Thật vậy, từ ngàn xưa chính Đức Phật và chư Tổ vạch đường mở lối đi đến nơi an lạc giải thoát, thế mà cho đến nay trong nhân gian có được mấy người đang đi đúng đường của Phật, Tổ vạch sẵn? Khi Bát Giới mở đường thấy hai câu đó, liền hứng chí làm thêm hai câu:

    “Tới nay Bát Giới tài khai phá.

    Sang tận Tây phương lối phẳng lì.”

    Ở đây ta thấy, tại sao Ngô Thừa Ân chỉ nói Bát Giới khai phá rừng gai góc, mà không nói Tôn Hành Giả hay Sa Tăng khai phá? Vì Bát Giới chỉ cho năm thức bị thức thứ sáu hòa đồng thành “ý thức ngũ câu” kéo năm thức vượt khỏi cảm giác thuần túy như đã nói ở trước, nên năm thức dễ dàng đắm nhiễm trần cảnh. Nhưng khi ý thức đã chuyển hóa thì năm thức khi đối cảnh có trí tuệ chủ động nên năm thức hạn chế dần dần chẳng ái nhiễm dính mắc trần cảnh nữa. Do đó nói vượt qua rừng gai góc để sang tận Tây phương là do Bát Giới mở lối. Bởi ở thế gian con người còn đầy dẫy tham, sân, si nên có rất nhiều sự khổ não, nhưng người hành đạo thì ngược lại, là phải dứt hết ba thứ đó mới an lạc giải thoát được.

    Trong thiền tông có thuật ngữ “Kinh cức” (gai góc) để tượng trưng cho sự khó khăn gian khổ, mà người tu phải trải qua trong quá trình hành đạo. Như bài tham thiền kệ ca trong Thiền Tịnh Hợp Yếu của thiền sư Phương Tụ Thành ghi:

    Pháp tham thiền bậc nhất

    Có gì để nuối tiếc

    Buông quách cả toàn thân

    Thấu qua rừng gai góc.

    Thật vậy, người hành đạo là đi ngược dòng sinh tử nên khác hơn người thế gian. Như khi chưa thức tỉnh giác ngộ, sáu căn tiếp xúc với sáu trần theo đuổi tìm mọi thú vui dục lạc để cảm thọ thành thói quen. Nay phải đi ngược lại không cho dính mắc đắm nhiễm, đó là những khó khăn gian lao mà người hành đạo phải trải qua để tiến đến cứu cánh giác ngộ giải thoát.

    Thành thử muốn dứt hết tham, sân, si phải dùng trí tuệ biết gốc gác của nó phát xuất từ đâu mới diệt tận gốc được, giống như Tôn Hành Giả đến Như Lai cầu cứu, Như Lai mời hai vị Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền xuống động hàng phục yêu tinh vậy.

    Bồ Tát Văn Thù là hình ảnh tượng trưng Căn Bản Trí; đọc thần chú chỉ cho định tâm; con Sư Tử Ngài cưỡi là phương tiện, ý nói là diệu dụng của trí tuệ. Nhưng khi trí tuệ chưa phát sinh thì lòng tham trỗi dậy làm cho tự ngã càng ngày càng lớn, không biết những người chung quanh miễn sao vừa ý đẹp lòng mình mà thôi, đó là cái dụng của tâm thức chúng sinh được tượng trưng cho yêu tinh Một. Sau đó yêu tinh gặp chủ của mình là Bồ Tát Văn Thù và nghe câu thần chú thì hiện nguyên hình sư tử, là ý nói lúc đã giác ngộ có trí tuệ và định tâm thì lòng tham tự kỷ mất, luôn vì chúng sinh giúp ích lợi lạc họ xem như là tham, nhưng mà tham vì lợi tha, nên nói từ tự tánh trí tuệ khởi diệu dụng làm lợi ích. Vì vậy Trí và Bi phải đầy đủ, khi công hạnh tròn đầy lên ngôi Chánh quả.

    Ngài Phổ Hiền là hình ảnh biểu trưng nói lên lập hạnh vị tha, cũng có nghĩa là từ bi hóa độ. Con Voi trắng là phương tiện để Ngài cưỡi, đọc thần chú là định tâm. Nhưng khi không có lòng từ bi thương người vật và chẳng định tâm thì con người lúc gặp cảnh trái ý nghịch lòng dễ phát sinh niệm buồn phiền sân hận, cho nên luôn tật đố ích kỷ mà tạo ra muôn vàn tội lỗi, đó là cái dụng của tâm chúng sinh được tượng trưng là yêu tinh Một. Vì vậy khi lập hạnh vị tha vì người giáo hóa, nếu không định tâm thì dễ sinh phiền não sân hận. Vì chúng sinh rất kiên cường, nghịch ngợm khó tiếp dẫn độ họ, nên lập hạnh cứu giúp chúng sinh phải có lòng từ bi và định tâm chuyển hóa sân hận làm tăng sức mạnh (vị tha tượng trưng cho voi trắng). Vì làm chủ được mình (định) là có một sức mạnh không sức mạnh nào bì kịp nên sân hận không có mầm phát triển được.

    Si là cội gốc bất giác mê lầm, mà Phật thì toàn giác, tức tâm thanh tịnh sáng suốt an lạc giải thoát. Khi đã giác ngộ hoàn toàn thì bất giác không còn nữa.

    Và ở hồi 17 cũng nói về nghiệp tham, sân. Xin lược dẫn một đoạn.

    Đường Tăng và Tôn Hành Giả đi đến tự viện Quan Âm vào xin tá túc qua đêm... Đường Tăng hỏi thăm sức khỏe vị trụ trì và chúc mừng qua lại, rồi Tôn Hành Giả hứng chí đem chiếc y Ca sa mới đẹp của Đường Tăng ra khoe. Lão Hòa thượng khi thấy y Ca sa đẹp liền sanh lòng tham muốn chiếm đoạt nên hỏi mượn về phương trượng xem kỹ sáng sẽ trả lại. Tôn Hành Giả liền đưa. Do tham đắm không muốn rời chiếc y đẹp, Lão Hòa thượng không ngủ được, các đệ tử đến hỏi thì lão nói muốn giữ chiếc y không muốn trả, nên có hai đệ tử bày mưu chất củi đốt giết thầy trò Đường Tăng để lấy y Ca sa. Tôn Hành Giả biết được thức dậy thổi gió ngược lại nên chỗ Đường Tăng nghỉ không cháy, còn tất cả nơi nhà tăng ở đều bị cháy sạch... Yêu Gấu động Hắc Phong đang ngủ giật mình thấy lửa cháy liền đến giúp chữa. Vì lão Hòa thượng cùng với yêu tinh kết bạn làm thân với nhau. Yêu Gấu vừa đến thấy ánh hào quang của y Ca sa tỏa ra biết là vật quý bèn đánh cắp trốn về động chớ không chữa cháy. Hôm sau yêu Gấu mời các bạn đến xem vật quý và ăn mừng khánh tuế... Tôn Hành Giả tìm đến động để lấy y Ca sa lại cho thầy, rồi hai bên đánh nhau, yêu tinh đánh không lại bỏ trốn vào động mấy lần nên Tôn Hành Giả không làm gì được mới đi cầu viện Bồ Tát Quan Âm đến giúp.

    Bồ Tát cùng Hành Giả đến động. Giữa đường Tôn Hành Giả gặp bạn của yêu Gấu tên Lăng Hư Tử đang trên đường đến chúc mừng bạn. Nó có đem theo hai viên tiên đơn, Tôn Hành Giả liền đánh chết rồi lập kế nói với Bồ Tát: “Bồ Tát nên biến ra yêu tinh, còn Tôn Hành Giả uống một viên tiên đơn, sẽ hóa lại một viên to hơn, để Bồ Tát biết mà dâng viên to cho yêu tinh, khi nó nuốt vào, Hành Giả sẽ ở trong bụng thì nó mới chịu hàng”. Bồ Tát đồng ý. Khi Bồ Tát biến làm Lăng Hư Tử, Tôn Hành Giả nói: “Bồ Tát là yêu tinh hay yêu tinh là Bồ Tát”.

    Bồ Tát nói: “Ngộ Không, Bồ Tát, yêu tinh đều là nhất niệm, nếu bàn đến gốc đều là không có”.

    Bồ Tát Quan Âm biến giả làm Lăng Hư Tử  cầm hộp đựng hai viên trường sinh đi đến động, yêu Gấu tưởng là bạn thật tiếp đón trọng hậu. Lăng Hư Tử giả liền lấy viên tiên đơn to (do Tôn Hành Giả biến ra) đưa chúc mừng yêu Gấu. Yêu Gấu nhận lấy uống vào thì Tôn Hành Giả hiện nguyên hình trong bụng quậy phá lung tung, Nó đau quá nên đành chấp nhận chịu trả y Ca sa, Tôn Hành Giả mới chui ra khỏi bụng yêu Gấu. Sợ nó vô lễ, Bồ Tát lấy vòng chụp lên đầu và đọc thần chú, yêu Gấu chịu không thấu xin quy hàng tha mạng. Tôn Hành Giả định giết thì Bồ Tát ngăn lại nói để đem về cho làm thần giữ núi...

    Lược dẫn một đoạn cho thấy, nếu người hành đạo mà vướng mắc trong phương pháp mình tu hay sở chứng đều là tham cả.

    Đây nói chiếc y Ca sa của Đường Tăng là chỉ cho vật quí báu nên người xuất gia đệ tử Phật không được cách xa đêm – Y pháp bất ly thân (y, pháp chẳng lìa thân), đồng thời đây cũng là phương tiện để biểu trưng cho sự giải thoát của người chân chinh hành đạo khi mặc chiếc y, do đó khi đắp y thì đọc bài kệ:

    Lành thay áo giải thoát

    Áo ruộng phước vô thượng

    Nay tôi đầu đội nhận

    Đời đời thường chẳng lìa. 

    Bởi vì người đã phát tâm xuất gia đắp y Ca sa, là người có chí nguyện mong vươn lên vượt ra khỏi trần lao khổ hãi để tự tại an nhiên giải thoát, thì vị đó không phải là hạng tầm thường mà phải có nghị lực và ý chí lắm mới có thể đạt được như nguyện. Nhưng trên đường tiến đến mục đích tối thượng ấy có rất nhiều chướng ngại đang rình rập, ngăn đón cản lối làm trở ngại bước tiến của hành giả. Nếu hành giả mà vượt qua được thì mới gọi là người xuất cách.

    Nghe đâu Đức Phật ở trên núi Linh Thứu nhìn xuống cánh đồng lúa chín mênh mông phía dưới, Ngài khéo phương tiện liền bảo các đệ tử hãy nên may y Ca sa có nhiều mảnh vải ghép nối dọc nối ngang (gọi là Điều – y 5 điều, 7 điều…), giống như những bờ đê ruộng phân chia từng ô ngang, ô dọc trên mảnh đất rộng ngăn nước để gieo cấy lúa vậy. Để nói lên rằng các đệ tử Phật khi đắp y Ca sa phải biết mình là người đang hành đạo giải thoát vượt mọi phiền trược đắm nhiễm ái chấp, là nơi cho mọi người làm chỗ nương tựa học hỏi noi theo đức hạnh cao thượng ấy, và cũng là chỗ để họ gieo duyên tạo phước báo nhân thiên. Giống như là họ gieo cấy lúa trên mảnh đất có đê ngăn giữ nước cho lúa được phát triển tươi tốt đến kết hạt và  thu hoạch như ý nguyện vậy.

    Đây nói rằng, tuy phương pháp mình ứng dụng tu là quí báu nhưng đó chỉ là phương tiện, nếu chúng ta mắc kẹt trên phương pháp không dám buông xả thì vẫn bị trói buộc, nên có câu: “Mạc vàng tuy quí nhưng rơi vào mắt vẫn bị xốn”. Hay là chấp có sở chứng, nghĩa là có chỗ để an trú (chấp nhận ở quả vị nào đó dù là quả vị Niết bàn), tức bị dính mắc pháp không tiến đến cứu cánh viên mãn. Nếu vướng mắc các phương diện đó đều gọi là tham, giống như lão Hòa thượng thấy chiếc y của Đường Tăng mà tham đắm vậy. Hễ còn chỗ trụ bám thì chưa xả bỏ hết, vì còn NGÃ tức chủ thể (thấy có mình là người tu, người chứng); hễ có chủ thể tức có đối tượng là NHÂN - chỗ mình nương tựa (là pháp tu hay quả vị pháp tu); có ngã nhân là có những việc chung quanh bên ngã nhân, tức có các pháp là CHÚNG SINH (thấy có mình tu, mình chứng và pháp tu, quả vị pháp tu); có ba thứ trên tức có sự thưởng thức cảm thọ trên pháp là THỌ GIẢ (thấy có mình đang ở trong trạng thái an lạc tỉnh sáng). Từ chỗ nhìn này ta thấy, nếu người bị kẹt trong tứ tướng là chưa đạt rốt ráo cứu cánh. Nên người xưa nói: “Đã đến vô tâm, vô cũng thôi” thì mới thấy không còn bốn tướng.

    Đây nói yêu tinh động Hắc Phong là chỉ cho niệm phiền não sân hận. Từ chỗ có lòng tham nên nó đi đôi với niệm sân. Tự hỏi lý do tại sao có sân? Vì không vừa ý mình nên sân hận phát khởi. Vì sao không vừa ý như lòng? Vì còn lòng tham sinh khởi, muốn các đối tượng phải theo như ý mình (làm gì mà được hoàn toàn như ý?), nên có sân. Lại hỏi vì sao có tham? Vì thấy có ngã nên có tham. Nếu không có ngã thì tham cái gì bây giờ ! Hễ còn ngã tức là còn tham, (tham ái, tham chấp) bởi tham không được nên sân vậy. Do đó trong truyện nói lão Hòa thượng làm bạn với yêu Gấu là thế. Còn Tôn Hành Giả biết mưu kế lão Hòa thượng mà vẫn để cho làm chớ không ngăn cản, lại còn lấy “gậy ông đập lưng ông” làm cho lão phải đập đầu chết. Đây ý nói khi trí tuệ hiện diện thì lòng tham không còn tác động.

    Sau đó, Tôn Hành Giả đánh với yêu Gấu, nó đánh không lại phải dùng kế hoãn binh về động đóng cửa làm Tôn Hành Giả cụt hứng, nên phải đi mời Bồ Tát Quan Âm đến để dụng kế lừa nó thì Tôn Hành Giả mới vào được trong bụng, lúc đó Yêu tinh mới chịu quy hàng. Đây ý nói rằng khi niệm sân hận bộc phát chỉ có trí tuệ bên trong (tâm tĩnh lặng sáng suốt) thì niệm sân hận mới quy phục về nơi rỗng lặng. Nếu dùng trí tuệ bên ngoài do học hỏi để áp dụng thì niệm sân chưa dứt hẳn mà nó còn ngầm ẩn bên trong (yêu Gấu đánh không lại Tôn Hành Giả chạy về động đóng cửa) để chờ đủ duyên phát khởi. Tóm lại muốn niệm sân dứt hẳn tận gốc phải có trí tuệ tự thâm tâm phát xuất, và có lòng từ bi đối với muôn loài, muôn vật thì niệm sân mới không phát khởi.

    Xin dẫn câu chuyện nói về niệm sân thế này:

    Tướng công Vu Địch hỏi thiền sư Đạo Thông ở núi Tử Ngọc: “Thế nào là ngọn gió dữ thổi chiếc thuyền trôi dạt vào cõi nước La Sát”.

    Ngài Đạo Thông bảo:

    - Kẻ khách Vu Địch hỏi việc vớ vẩn đó để làm gì?

    Vu Địch liền đổi sắc mặt (đỏ mặt).

    Sư liền chỉ Vu Địch bảo:

    - Đó hắc phong thổi trôi dạt vào cõi nước quỷ La Sát.

    Vu Địch liền biết lỗi.

    Tướng công hỏi câu đó ở trong kinh Pháp Hoa, nguyên chánh văn là “...Giả sử hắc phong xuy kỳ truyền phưởng, phiêu đọa La Sát quỷ quốc, kỳ trung nhược hữu nãi chí nhất nhơn, xưng Quan Thế Âm Bồ Tát danh giả, thị chư nhơn đẳng giai đắc giải thoát La Sát chi nạn...”. Nghĩa là, nếu có những người vào trong biển lớn đi tìm các thứ báu, giả sử bị gió lớn (gió lốc) thổi ghe thuyền họ trôi dạt nơi nước quỷ La Sát, mà trong số ấy nếu có người xưng danh hiệu Bồ Tát Quan Thế Âm thì họ đều được thoát khỏi nạn quỷ La Sát hại.

    Ở đây cho thấy, niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Thế Âm theo kinh Lăng Nghiêm thì Phật nói: “Bồ Tát Quan Thế Âm tu hạnh phản văn văn tự tánh”, tức là xoay lại sống với tự tánh hằng nghe bất động thì mọi chướng nạn đều qua hết. Ví như có người tranh chấp sự việc gì đó với mình, họ có những lời nói, hành vi hung dữ mà mình biết phản quan lại tự tánh nghe thì mình không có niệm giận hờn để ăn thua đủ với họ, đó là Bồ Tát Quan Thế Âm cứu mình rồi. Người hỏi nếu bị hắc phong thổi vào chỗ quỷ La Sát thì Ngài Đạo Thông không theo lời hỏi để giải và cũng chẳng nói hắc phong là gió thổi ào ạt mây đen mù mịt, mà Ngài nói hắc phong là niệm sân phát khởi ở con người, nên Ngài dùng phương tiện chỉ thẳng ngay đương sự tự cảm nhận lấy. Còn quỷ La Sát là chỉ cho ngọn lửa sân. Bởi có gió (hắc phong) tức là động, mà động là vọng động hay vọng niệm, có ý niệm sân hận nên lửa sân mới bộc phát ra thân và khẩu.

    Bồ Tát Quan Âm là tượng trưng cho tâm từ bi, chiếc vòng chụp lên đầu yêu tinh là giới, câu thần chú là định. Niệm sân ẩn tàng ở đâu không thấy, nhưng khi gặp đủ duyên thì phát khởi. Trong cuộc sống nhiều lúc những nghịch cảnh đến làm ta dễ sân hận, tuy có trí tuệ mà không từ bi và định tâm thì khó yên được. Nếu có yên chỉ yên bề ngoài, nhưng trong lòng vẫn ấm ức còn mống niệm hờn dỗi không dứt đến tận gốc, giống như Tôn Hành Giả khi chưa cầu Bồ Tát mà đánh với yêu tinh vậy. Nên phải định tâm và phát khởi từ bi thì niệm sân hận tự hóa tán. Vì thế Tôn Hành Giả nói: “Bồ Tát là yêu tinh hay yêu tinh là Bồ Tát”.

    Bồ Tát bảo: “Ngộ Không, Bồ Tát, yêu tinh đều là nhất niệm, bàn đến gốc đều là không có”. Đây  nói trí tuệ, từ bi hay sân hận đều từ tâm dấy khởi, nếu luận đến gốc của tâm thì không có dấu vết .

    Như trước đã nói, Bồ Tát Quan Âm là tượng trưng cho tánh nghe. Nếu đang lúc sân hận hãy trở về với tánh nghe thì niệm sân dừng lặng. Bởi tánh nghe là khi có tiếng hay không tiếng thì cái hằng nghe luôn hiện hữu; lúc có tiếng gọi là sanh, khi tiếng mất gọi là diệt, còn cái Rõ Biết rỗng lặng ở tai khi có tiếng thì rõ biết có tiếng, khi không tiếng rõ biết không tiếng. Chính cái Rõ Biết đó chưa từng có không, chưa từng sanh diệt. Do chúng ta quen chạy theo trần cảnh mà quên đi cái hay nghe hằng hữu này nên tâm trí bị mờ, vì thế tham sân mới có dịp dẫn chúng ta tạo không biết bao nhiêu tội lỗi. Khi những cảnh thuận hay nghịch có đến phải luôn nhớ trở về sống với tánh nghe thì không bị ngoại cảnh chi phối, niệm sân mới chẳng khởi, giống như khi Bồ Tát Quan Âm đến động thì yêu tinh phải chịu đầu phục vậy.

    Và ở hồi 71, sau khi Tôn Hành Giả dụng kế dụ yêu tinh lấy ba bảo bối “Nhạc vàng” của y. Khi giao chiến, Tôn Hành Giả lắc lên thì lửa, khói, cát vàng bủa khắp đốt yêu tinh. Nó sợ hãi cuống cuồng thì Bồ Tát Quan Âm xuất hiện dùng nước trong tịnh bình rưới tắt lửa, khói, cát. Yêu tinh gặp Bồ Tát liền phũ phục hiện lại nguyên hình là con Sấu lông vàng của Bồ Tát dùng để cưỡi. Bồ Tát bảo Tôn Hành Giả trả lại ba bảo bối, nên có hai câu thơ như vầy:

    Ai cởi nhạc vành trên cổ Sấu

    Nhạc vàng kẻ cưỡi hỏi người đeo.

    Đây ý nói rằng, người hành đạo, nếu hoàn cảnh sống thiếu vật chất hoặc gặp khó khăn gì đó nơi thân thì người khác có thể giúp đỡ mình lúc hoạn nạn ấy. Nhưng tham lam, phiền não, sân si, cho đến vọng niệm bất giác, vô minh nhiều đời không có ai giải quyết cho mình, mà chỉ có mình mới giải trừ cho mình được. Hoặc mình có oan trái nghiệp lực nặng như thế nào đi chăng nữa thì phải tự mình hóa giải lấy, chớ người ngoài như thầy bạn là thiện tri thức đi nữa cũng không làm hết hẳn khổ cho mình được mà chỉ trợ duyên một phần nào đó thôi. Cho nên ngài Hoài Nhượng nói: “Tất cả các pháp đều từ tâm sanh, tâm không chỗ sanh pháp không thể trụ. Nếu đạt tâm địa việc làm không ngại, không phải thượng căn dè dặt chớ nói”.

    Và ở hồi 40 - 43 cũng nói về nghiệp sân. Xin lược dẫn một đoạn.

    ...Yêu tinh Hồng Hài Nhi đi bắt Đường Tăng, nhưng thấy mấy đồ đệ Đường Tăng nhiều thủ thuật nên dè dặt, nó bèn giả một hài nhi bị trói để đánh lừa lòng từ của Đường Tăng. Đường Tăng xiêu lòng cứu giúp bảo Tôn Hành Giả cõng... Tôn Hành Giả biết là  yêu tinh nên dùng thủ thuật giết đứa bé. Nó liền xuất thần, thừa cơ hội hóa làm trận cuồng phong bắt Đường Tăng về động... Tôn Hành Giả gọi Thổ địa hỏi ra mới biết yêu tinh là Hồng Hài Nhi con của Ngưu Ma vương, nên Tôn Hành Giả đến động nhìn người nhà và cứu thầy... Bởi khi Tôn Hành Giả còn là Tề Thiên Đại Thánh hay kết bè bạn với sáu Ma vương, trong đó có Ngưu Ma vương làm anh cả, còn Tề Thiên Đại Thánh là em út... Đến nơi, Hồng Hài Nhi không nhìn nên hai bên đánh nhau... Hồng Hài Nhi phun lửa khói, Tôn Hành Giả không chịu được khói phải chạy về cùng Sa Tăng bàn cách đối phó. Sa Tăng nói: “Lửa xung khắc với nước, nếu có nước dập lửa thì mới thắng được”... Tôn Hành Giả liền đến Long vương cầu viện làm mưa để dập lửa... Tôn Hành Giả đến khiêu chiến, yêu tinh dùng chiêu thuật trước... Tôn Hành Giả gọi Long vương làm mưa xuống, nhưng nước đến đâu lửa cháy lan tới đó, Tôn Hành Giả sợ khói phải chạy, vì nóng quá nên nhảy xuống nước bị cúm người suýt mất mạng... Khi tỉnh lại sai Bát Giới đến cầu viện Bồ Tát Quan Âm. Trên đường đi bị yêu tinh biết trước, nó hóa ra Bồ Tát bắt Bát Giới đem về động... Tôn Hành Giả hay được phải gắng đi đến Bồ Tát Quan Âm cầu cứu... Bồ Tát dùng tịnh bình lấy đầy nước cùng Tôn Hành Giả với chim sáo trắng đi xuống động... Tôn Hành Giả vào động khiêu chiến, yêu tinh lại phun lửa khói. Bồ Tát lấy nước trong tịnh bình tưới dập tắt ngọn lửa, yêu tinh bại trận bị Bồ Tát thâu  phục.

    Bồ Tát lấy dao cạo tóc còn chừa ba chỏm, nhưng chưa dẹp được dã tính hung hăng, nó định gây sự Tôn Hành Giả, Bồ Tát lấy chiếc vòng “Tam khẩn cấm” của Như Lai cho vung lên biến thành năm chiếc vòng, tròng vào cổ và hai tay, hai chân rồi đọc thần chú, các vòng xiết chặt lại làm yêu tinh đau đớn, căm giận cầm giáo đâm Tôn Hành Giả, Bồ Tát liền nói: “chấp”, hai tay Hồng Hài Nhi chấp trên ngực không tài nào buông xuống được. Bồ Tát thâu phục về làm

    người hầu.

          Ở đây nói Hồng Hài Nhi là con của Ngưu Ma vương và Bà La Sát. Ngưu Ma vương chỉ cho tâm vọng thức mà trong nhà thiền gọi là con trâu đen hay con trâu cuồng. Còn Bà La Sát chỉ sự độc ác giận dữ. Hồng Hài Nhi là chỉ cho niệm sân hận ngầm ẩn bên trong gọi là phiền não nên được tượng trưng qua hình  dáng một con yêu bé nhỏ. Tuy nhỏ nhiệm nhưng vô cùng nguy hại, nó như một đốm than hồng âm ỉ trong lòng chỉ chờ đủ duyên (khi cảnh phấn kích, tâm vọng

    động) là bùng lên thành ngọn lửa sân tác oai tác quái làm hành giả khó tự chủ, tuy biết nhưng không dừng được. Vì lửa sân bộc phát biểu lộ hiện tượng trên thân,

     

    khẩu là hình thức thô dễ thấy nên chúng ta có khả năng chặn đứng ngăn ngừa được; còn chủng tử sân hận ẩn ở lòng rất tế nhị khó nhận ra, nó thật lanh lẹ dù biết mà vẫn phát khởi khó kiềm chế. Nên một niệm sân rất tai hại đối với người hành đạo, nếu không tỉnh giác và định tâm thì nó sẽ bộc phát ra thân khẩu. Thành thử nói Tôn Hành Giả không sợ lửa mà sợ khói là ý này. Vì thế có câu: “Một niệm sân hận thiêu hết cả rừng công đức”. Ví dụ như, chúng ta tu hành hay là làm rất nhiều điều thiện được mọi người xa gần biết đến, nhưng hôm nào đó đi cứu trợ một nơi gặp cảnh khó khổ, vì vật dụng có hạn, khi đã cho hết quà mà người còn quá đông, họ đến vây mình xin, trong đó có những người đã nhận quà rồi; lúc ấy ta vừa mệt, vừa đói và còn nghe họ nói cho người này kẻ kia mà không cho họ, chợt bất giác ta lớn tiếng cáu gắt cùng những hành vi không tốt với họ, thì mọi người trong đoàn và dân địa phương sẽ đánh giá và chê trách mình chẳng phải là người thật tốt; từ đó, bạn hữu ít giao du đến gặp mình. Đó là một việc nhỏ. Hay là câu chuyện của đạo nhân tên Suy Hải, trước kia được vua Lương tiếp rất trọng hậu, sau đó bị thử thách bạc đãi ngược lại, do sân si tột độ phải vỡ tim chết đọa vào loài chim theo sự phát nguyện trong sự giận dỗi “...sống nơi rừng núi làm bạn với cỏ cây muông thú, không đến chốn cung đình phồn hoa nữa”. Liền khi ấy thiền sư Chí Công biết trước việc, nên nói với vua sai người đến bìa rừng hướng đông, có cây cổ thụ lên cháng ba bắt chim con về. Thiền sư cầm chim lên khai thị xong liền bóp chết chim, thần thức xuất ra nhập vào thân đạo nhân Suy Hải lại; thiền sư bảo về tu hành cho chân chính. Cho nên chúng ta hãy cẩn trọng chớ có xem thường niệm sân.

    Bởi tâm sân này tiềm ẩn khi gặp duyên trái ý nghịch lòng mới xuất hiện, dù có dùng những phương tiện nào bên ngoài vẫn không trừ được tận gốc, giống như Tôn Hành Giả cầu Long vương làm mưa dập tắt lửa để giết yêu tinh vậy. Dù Tôn Hành Giả có biết được tận gốc rồi, nhưng cũng phải giao chiến gần mất mạng mà nó cũng chưa chịu hàng phải đi cầu viện Bồ Tát Quan Âm đến thâu phục.

    Cũng vậy, tuy có trí tuệ biết rằng niệm sân từ tâm phát khởi, nhưng khi gặp nghịch cảnh đến cũng khó tự chủ được là bởi vì thiếu lòng từ bi (Quan Âm) và định tâm (nước trong tịnh bình).

    Ví như ta và người làm ăn hay có việc qua lại, vì một sự hiểu lầm gì đó nên người đến nói ta gian lận, lấn hiếp rồi mắng nhiếc thậm tệ. Nếu không bình tĩnh (định tâm) thì sẽ dễ khởi niệm phiền hận, nếu không bộc phát ở ngoài nó sẽ ngấm ngầm bên trong làm cho tâm không yên ổn. Còn thương nghĩ đến họ và bình tĩnh xét lại những việc của mình xem có làm gì cho họ hiểu lầm là gian lận và lấn hiếp họ hay không? Nếu có thì thành thật đến xin lỗi và bồi hoàn mọi sai sót ấy. Còn tự xét không có lỗi thì nên cảm thương họ hơn là trách, vì họ hiểu lầm lại nông nổi mới có hành vi như thế hãy thông cảm bỏ qua, có vậy mới chẳng còn ôm ấp niệm sân hận.

    Vì từ bi là đối ngược với sân hận. Khi sân hận nổi lên thì từ bi ẩn khuất nên dễ tạo nghiệp đưa đến trầm luân đọa lạc. Ngược lại có từ bi thì sân hận hóa tán liền được an lạc. Các pháp thiện ác ở thế gian đều từ tâm thể rỗng lặng mà có, tâm thì không hình tướng, bởi không hình tướng mới trùm khắp thênh thang như hư không. Còn những niệm thiện ác đều có tướng, hễ cái gì có tướng thì đều bị phạm trù giới hạn, là dối sanh dối diệt. Cho nên vọng niệm thể của nó vốn là không nhưng do bám chấp mà thành sự. Người trí (Bồ Tát) thấy nó có như huyễn hóa nên tâm không chao động.

    Đọc truyện chúng ta thấy rằng có một vấn đề đặt ra là, tại sao Tôn Hành Giả khi còn là Tề Thiên Đại Thánh dùng gậy Như Ý đánh tới đâu thì các nơi đó đều quy phục? Như đánh với yêu tinh đến giành động Thủy Liêm trong thời gian đi học đạo về, hay thiên binh nhà trời đều đánh không lại với gậy Như Ý. Nhưng sau khi được Đường Tăng cứu thoát khỏi núi Ngũ Hành, Tôn Hành Giả phủ phục tôn Đường Tăng làm thầy và hộ trì sang Tây Trúc thỉnh kinh, trên đường đi có yêu tinh ngăn cản, dùng hết sức đánh đôi lúc cũng không thắng, có khi còn bị thu mất gậy Như Ý phải đi cầu viện nơi khác đến giúp. Sao lạ vậy?

    Bởi khi còn là chúng sinh không biết đạo lý, ý thức làm theo bản năng tự ngã, hễ nghĩ điều chi có lợi cho bản thân thì làm chớ chẳng chịu xem xét chín chắn việc ấy có tổn hại đến người, đôi khi làm càn bướng theo bản năng thú tính chẳng biết phải trái và hậu quả của nó ra sao cả, chỉ cố tranh giành tính toán trăm phương ngàn kế mong đạt được lợi về mình mà thôi. Đó là nói khi còn là Tề Thiên Đại Thánh dùng gậy Như Ý đánh đâu được đó.

    Còn lúc hộ trì Đường Tăng cũng dùng gậy Như Ý đánh với yêu tinh không phân thắng bại, đôi lúc đánh chẳng lại nó phải đi cầu cứu Phật, Bồ Tát nữa. Là ý nói khi ý thức đã chuyển hóa thì có trí tuệ mở sáng soi thấu rõ lẽ thật nơi các pháp, không hòa hợp với những tâm tham, sân, si và vọng tình ngoại cảnh. Cho nên nói là đi nghịch dòng thế gian, vì còn đang trên đường đi đến Phật quả mà tập nghiệp quá nhiều, phải gian truân đối đầu với yêu ma của nội tâm. Do những chủng tử đó quá mạnh, tuy có trí tuệ mà vẫn bị chúng làm trở ngại lúc công phu hành đạo, giống như Tôn Hành Giả đánh với yêu tinh không lại phải đi cầu viện Bồ Tát và Phật đến giải nạn vậy. Vì thế khi trực diện chúng phải biết lẽ thật để uyển chuyển hoá giải mới không bị sai khiến.

    Bồ Tát Quan Âm dùng nước trong tịnh bình dập tắt lửa yêu tinh là hình ảnh ngụ ngôn, ngụ ý nói Bồ Tát Quan Âm là hạnh từ bi, tịnh bình là giới, nước trong tịnh bình là định. Để thấy phải là bình trong sạch mới đựng được nước cam lồ. Còn cành dương liễu chỉ cho sự nhẫn nhục, vì dương liễu là loại cây mềm dẻo lại khó gãy, khi gió thổi mạnh nó chỉ ngã cong, lúc gió dừng nó lại đứng thẳng.

    Cũng vậy, ngoài lòng từ bi ra còn phải có giới hạnh trong sạch và tâm an định thì niệm sân sẽ không tác khởi, trong cuộc sống mới không ái nhiễm dính mắc thì có thể giúp người được. Nhưng trong khi làm phải nhẫn nại chịu đựng những khó khăn trở ngại, bởi chúng sinh hay ngang ngược khó tiếp độ. Vì thế khi Bồ Tát Sĩ Đạt Đa đã thành chánh giác, Ngài dùng Phật nhãn biết tất cả chúng sinh rất cố chấp và vướng mắc các pháp, thấy rất khó độ họ mà muốn vào Niết bàn. Nhưng may nhờ có Chư Thiên đến tán thán ca ngợi và cúng dường lúc Ngài thành đạo, mới thỉnh cầu Ngài ở lại cõi Ta bà này hóa độ chúng sinh. Ngài vừa thương vừa kham nhẫn nên dùng mọi phương tiện thuyết giảng cho chúng sinh biết rõ lẽ thật của thân tâm cùng muôn pháp, để họ nương theo lời dạy đó mà thực hành thoát khỏi mê lầm. Cũng như đứa bé đang đau nó dễ nóng giận, ai đụng vào là khóc lóc la lối, nếu bác sĩ không kiên nhẫn định tâm và thương nó để chịu đựng những cử chỉ đó thì không thể nào khám bệnh và điều trị cho nó được.

    Bởi có ý nghĩa như thế nên người xưa mới thần tượng hóa, họa tạc và vẽ hình ảnh Bồ Tát Quan Âm cầm tịnh bình trút ngược xuống đổ nước, với chú tiểu đồng tóc chừa ba chỏm đeo mấy chiếc vòng ở cổ và hai tay, hai chân, đứng chắp tay hầu Ngài cùng với chim sáo trắng là bắt nguồn từ tích truyện Quan Âm thâu phục Hồng Hài Nhi này mà ra.

    Và ở hồi 59-60 cũng nói lên ý nghĩa sân này. Xin lược dẫn một đoạn.

    ... Mấy thầy trò đi đến Hỏa Diệm sơn, vì nóng quá không qua được nên dừng lại hỏi thăm. Có người nói phải có quạt Ba tiêu của Bà La Sát quạt thì lửa mới tắt, chớ chẳng có phương cách nào hết nóng được. Nghe vậy Tôn Hành Giả liền đến mượn. Trên đường đi đến động, gặp một tiều phu hỏi thăm thì lòng hơi lo vì phải đối đầu với oan gia, bởi trước đó Tôn Hành Giả đánh con bà là Hồng Hài Nhi, nên tiều ông khuyên: “Đại trượng phu xem mặt xét sắc, chỉ nói đến mượn quạt, chuyện cũ bỏ qua thì sẽ mượn được”. Tôn Hành Giả nghe phải vội đi... Khi đến, Bà La Sát thấy Tôn Hành Giả liền giận dữ không cho mượn rồi hai bên đánh nhau... Bà La Sát đánh không lại, lấy quạt Ba tiêu quạt Tôn Hành Giả bay đến núi Tu Di... Tôn Hành Giả tìm đường vào gặp Bồ Tát Linh Cát hỏi thăm. Bồ Tát Linh Cát nói: “Tôn Hành Giả có pháp lực níu mây nên bị quạt tới đây chớ gặp người thường phải bay tám muôn bốn ngàn dặm. Từ đây đến Hỏa Diệm sơn có hơn năm vạn dặm... Rồi được Ngài cho một viên Định phong đan, khi nuốt vào nếu có bị quạt gió không thổi bay. Tôn Hành Giả trở lại mượn quạt bị Bà La Sát quạt như trước nhưng không nhúc nhích, lại còn dùng thủ thuật vào bụng bà, nên bà đành phải cho mượn mà chỉ đưa quạt giả... Tôn Hành Giả không biết đem về quạt, càng quạt lửa càng bốc lên cao, nên Bát Giới nói: “Chọn lối nào không có lửa mà đi”... còn Sa Tăng nói: “Nơi có kinh lại có lửa, nơi không có lửa lại không có kinh, thật là khó bề tới lui”... Khi ấy Thổ địa đến nói Tôn Hành Giả đã bị Bà La Sát lừa, nếu muốn tìm quạt thật nên gặp Ngưu Ma vương...

    Đây cho thấy Bà La Sát là chỉ cho sự độc hại của ngọn lửa sân hận. La Sát là tên chỉ chung các loài ác quỷ, có nghĩa là hung ác đáng sợ. La Sát nam mình đen, tóc đỏ, mắt xanh; còn La Sát nữ là người đàn bà tuyệt đẹp, nên Bà La Sát có biệt hiệu là Thiết Phiến Tiên. Có thể nói La Sát là loài A Tu La một trong sáu loài chúng sinh. Kinh nói, loài A Tu La do tiền kiếp có tạo nhân phước thiện nhưng vì tâm còn sân hận nhiều nên phải đọa vào loài này. A Tu La nam hình tướng xấu xí nhưng người nữ thì rất đẹp, tuy có thần lực và cung điện nhưng rất sân hận nên gọi là Phi thiên. Cõi A Tu La có gái đẹp nhưng không có thức ăn ngon, còn các cõi Trời Dục Giới có thức ăn ngon mà không có gái đẹp bằng nên hai bên ghét nhau, luôn đánh nhau.

    Hồng Hài Nhi là tượng trưng cho sự sân hận ngấm ngầm ở nội tâm (khởi niệm), khi gặp duyên nghịch cảnh thúc đẩy sẽ bộc phát bùng lên thành ngọn lửa mạnh được thể hiện ra thân và khẩu, vì thế được tượng trưng bằng hình ảnh Bà La Sát. Còn cây quạt Ba tiêu là nói công năng của sự sân hận. Mỗi khi nó phát khởi khó mà tự chủ, nếu đương sự không định tâm sẽ bị nó sai khiến, giống như Tôn Hành Giả bị Bà La Sát quạt bay đến núi Tu Di vậy.

    Là đại trượng phu đang tiến bước đến cứu cánh giải thoát thì dù có đối đầu những chướng ngại của nghịch cảnh cũng phải thẳng đường mà đi chớ không vì một chút khó khăn trở ngại lại dừng bước. Cũng như lời tiều phu nói: “Trượng phu chỉ xem mặt xét sắc, chỉ nói chuyện mượn quạt, chuyện cũ bỏ qua tức mượn được”. Đây cũng cho thấy, những gì ta ôm ấp phiền hận dính mắc ở lòng hãy buông xả thông qua tất cả để sống với hiện thực thì cuộc sống mới cởi mở an ổn; còn như đeo mang mãi thì rất đau khổ khi trực diện với các đối tượng ấy.

    Tuy có trí tuệ mà vẫn bị chúng làm xiểng niểng là vì thiếu định tâm. Nhưng khi đã định tâm và tỉnh sáng thì dù có những nghịch cảnh trái lòng vẫn thản nhiên đối đầu khi nó đến, giống như Tôn Hành Giả khi chưa gặp Bồ Tát Linh Cát lại bị quạt gió thổi bay, nhưng sau khi gặp Bồ Tát cho viên Định Phong Đan thì gió thổi không bay nữa.

    Ở thế gian, phàm phu chúng ta gặp những hoàn cảnh sự việc như ý muốn thì cho là thuận duyên tốt lành may mắn. Ngược lại gặp những hoàn cảnh bất như ý thì cho rằng nghịch duyên xui xẻo làm chướng ngại thân tâm. Nhưng nếu có cái nhìn sâu sắc hơn thì những nghịch cảnh chính là thuận cảnh, thuận cảnh là nghịch cảnh. Vì sao trái ngược vậy? Vì nếu trên đường hành đạo được suôn sẻ thuận duyên thì chúng ta ít thấy tiến bộ, muốn tiến nhanh phải có trực diện với những cảnh khó khăn trở ngại mới thấy công phu của mình tiến ra sao. Nếu gặp những điều trái ý nghịch lòng mà tâm vẫn thản nhiên không sân hận thì đó là đã tiến, vì mình làm chủ được nghịch cảnh không bị nó lôi kéo trói buộc. Cũng như trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật đã tán thán Đề Bà Đạt Đa là thiện tri thức của Ngài, nhờ Đề Bà Đạt Đa mà Ngài mau thành Chánh-đẳng-chánh-giác. Trong khi đó những hành động của Đề Bà Đạt Đa toàn là hại Phật và gây rối loạn trong tăng đoàn. Vậy mà Ngài vẫn thọ ký cho Đề Bà Đạt Đa về sau cũng thành Phật. Cho nên đối với người biết tu thấy đúng lẽ thật các pháp thì những nghịch hạnh là yếu tố cần có, họ xem đó là thuận cảnh, là thiện tri thức thúc đẩy mình mau tiến đến quả vị cứu cánh, nên trong thiền môn có đoạn “...Lấy chướng ngại làm giải thoát. Lấy lợi sơ sài làm giàu sang. Lấy oan ức làm cửa hạnh...”. Còn người mới phát tâm xem đó là những cảnh chướng ngại làm ngăn trở trên đường hành đạo.

    Vả lại, còn một thứ nghịch hạnh mà phần đông xem thường ít ai hay biết để vươn lên, đó là những thuận duyên tạo hoàn cảnh làm cho ta vừa ý cảm thích dễ chịu nên hớn hở sanh tâm vui mừng không như nhiên bình lặng. Giả như, vừa nghĩ tính làm việc gì đó liền được người hỗ trợ giúp đỡ, hoặc đang có danh vị lợi dưỡng ai ai cũng ca tụng tán dương…. Tóm lại là ta  đắm mắc ái nhiễm vào những thuận cảnh đã làm thỏa mãn vừa lòng, nên sanh tâm vui mừng không kiềm chế được, hay đạt được thành tích nào đó liền trụ bám chấp chặt. Nhưng đối với người trí xem đó như là sự chướng ngại của việc tu đạo; giả như được duyên gặp những thuận cảnh liền không trụ chấp mới có thể tiến trên đường hành đạo. Có thể nói gặp những thuận cảnh là cái duyên tốt, nhưng nếu chẳng khéo không dám lìa thì nó chẳng khác nào cạm bẫy đưa hành giả vào chốn mê cung, vì nó êm ái nhẹ nhàng quá khó chối từ dứt ra được, mà chẳng biết đó cũng là sự chướng ngại tế nhị trên đường giác ngộ giải thoát.

    Vì vậy Sa Tăng mới nói: “Nơi có kinh lại có lửa, nơi không có lửa lại không có kinh”.

    Thật vậy, muốn tìm Bồ đề (kinh) phải ngay nơi phiền não (lửa) mà tìm, giống như muốn tìm hoa sen thì phải tìm chỗ bùn nhơ nước đọng mới có, chứ đến nơi sỏi đá khô cằn thì không thể nào gặp được hoa sen. Cũng vậy, ngay những nghịch cảnh trái lòng mà mình sáng suốt định tỉnh không bị nó chi phối quấy nhiễu thì ngay cảnh đó tức là Bồ đề. Như nghe người ta nói nặng lời, hay trái ý thì mình bình tĩnh lại, dùng trí rõ biết lời nói là giả dối không thật, sở dĩ có là do hơi từ bụng đưa ra cổ họng rồi lưỡi uốn qua uốn lại mới thành lời, nên nó có là do duyên hợp không thực thể. Vậy ngay lời nói nặng của người nếu không dính mắc, không khởi niệm giận hờn thì ngay đó tức thành Bồ đề, mà Bồ đề là giác, giác tức chẳng mê (vô minh). Vả lại, do có giác mới thấy rõ được hành tướng của phiền não để hóa giải. Bởi vì phiền não là do ta chấp cảnh mà có, chớ những lời nói vừa xong thì đã qua mất, tại ta ôm giữ những lời ấy nên phải chịu khổ thôi! Thế thì nhờ phiền não mà ta mới có giác ngộ, mới được giải thoát. Cũng một cảnh duyên đó, nhưng do mỗi người nhìn khác nhau nên nói có mê có giác sai biệt. Người xưa nói: “Phiền não tức Bồ đề” là ý này vậy. Song nói có giác ngộ, được giải thoát là một lối nói, chớ lúc không còn tham sân si phiền não ở lòng thì chính khi ấy tỉnh sáng an lạc tự tại thản nhiên mà tạm gọi là giải thoát thôi. Đến đây xin đi xa một chút nói về cây hoa hồng, vì thấy nó nói lên ý nghĩa ở đây.

    Hoa hồng thì có nhiều màu, nhưng hồng đỏ được người thế gian biểu trưng cho tình yêu, nên khi họ yêu thương ai thì thường tặng cho nhau hoa hồng, để nói lên tâm tình của mình cho đối tượng biết là lòng đã yêu thương.

    Còn trong đạo Phật đến mùa Vu lan, hoa hồng nói lên sự hiếu thảo của người con đối với cha mẹ. Ai được diễm phúc còn mẹ thì cài hoa hồng màu đỏ, đó là để nói lên sự may mắn là mẹ mình còn trên đời, mà ta thì phải có bổn phận lo phụng dưỡng từ vật chất đến tinh thần khi Người già yếu. Người nào mẹ đã mất thì cài hoa hồng màu trắng để nói lên sự bất hạnh ở mình khi tình thương của mẹ đối với mình không còn nữa, mà hết lòng tưởng nhớ công ơn song thân đã vì ta cưu mang và nuôi dưỡng dạy dỗ đến thành nhân, ta phải sống đúng lương tâm hợp với nhân nghĩa để khỏi phụ lòng mẹ cha nơi suối vàng.

    Nhưng theo người viết thì hoa hồng tượng trưng cho sự an lạc giải thoát.

    Hoa hồng đẹp đẽ có mùi hương nhẹ nhàng thanh thoát, nhưng cây sinh ra nó thì mình đầy gai góc. Nếu ta muốn chiêm ngưỡng nét đẹp và thưởng thức mùi hương của hoa hồng thì không thể rời cành hồng gai góc mà có được; phải ngay cành hồng gai góc đó ta khéo chiêm ngưỡng nét đẹp và mùi hương của hoa mà không chạm vào gai thì đó là biết thưởng thức hoa. Vì hoa là hoa, gai là gai, tuy thấy hoa và gai có khác nhau nhưng cả hai đều từ cành hồng mà ra. Nếu thấy cành hồng đầy gai rồi sợ chẳng dám lại gần thì không thể chiêm ngưỡng và thưởng thức hoa hồng được.

    Cũng vậy, chúng ta muốn thưởng thức quả vị an lạc giải thoát thì cũng đừng rời nơi phiền não sân hận, hãy ngay đó bình tĩnh sáng suốt thì phiền não sân hận không sai khiến được, mà ta lại cảm thấy an lạc nhẹ nhàng do không bị dính mắc trói buộc. Cho nên an lạc hay đau khổ đều từ gốc tâm mà ra.

    Người hành đạo phải biết chuyển hóa tham, sân, si thành giới, định, huệ, chuyển tất cả hành vi xấu thành những cử chỉ tốt để làm lợi ích cho nhân sinh. Nếu thắng được tham, sân, si là ta có sức tự chủ mạnh không bị chúng lôi kéo, mà lại hóa giải chúng trở về bản thể rỗng lặng. Thế nên trong kinh Pháp Cú có câu:

    Thắng vạn quân không bằng chiến thắng mình. Thắng mình mới là chiến công oanh liệt”.

     

  • 18. TÂM THỨC

    TÂM THỨC

     

    Trên đường hành đạo nếu có trí tuệ mà không có giới là một việc thiếu sót. Giới là thành trì bảo vệ cho trí tuệ phát triển để tiến đến giải thoát. Khi hành giả đã thể nhận cái chân thật nếu không có giới để bảo hộ thì khó mà an định. Giới đây là một niệm vọng động phát khởi. Còn như trí tuệ không hiện hữu thì dễ bị rơi vào lối tẻ, khi đã nhận lầm thì càng bước càng xa không thể đến mục đích cứu kính giải thoát được. Như ở hồi 50-52 nói lên ý này. Xin lược dẫn một đoạn.

    ... Tôn Hành Giả trước khi đi xin cơm mới vẽ cái vòng mời mấy thầy trò vào trong chớ có ra ngoài thì không ai làm hại được... Ngồi lâu quá không thấy Tôn Hành Giả về, Bát Giới nôn nóng nói: “Sư huynh chơi đùa bắt mấy thầy trò mình ngồi tù ở đây”, liền bàn nói với Đường Tăng “Thầy trò mình nên tìm chỗ kín gió để nghỉ”. Đường Tăng đồng ý rồi cùng ra khỏi vòng... Đi được một đoạn gặp tòa nhà hoang vắng do yêu tinh hóa ra, mấy thầy trò vì không biết nên đi vào thì bị yêu tinh bắt đem vào động... Tôn Hành Giả trở lại không thấy Đường Tăng liền kêu Thổ địa hỏi nguyên do rồi tìm đến động khiêu chiến... Tôn Hành Giả đánh không thắng lại bị yêu tinh thâu mất gậy Như Ý, nên lên  Thiên đình tìm hỏi gốc yêu tinh vẫn không biết ở đâu, mới cầu viện binh trời đánh tiếp, nhưng cũng bị thua trận và tất cả binh khí đều bị bảo bối yêu tinh thâu hết... Tôn Hành Giả mới đến cầu viện Như Lai. Như Lai biết gốc của yêu tinh nên bảo mười tám vị La Hán đi giúp Tôn Hành Giả và dặn dò hai vị trong số La Hán ấy rằng: “Nếu không thành công thì bảo Tôn Hành Giả đến Thái Thượng Lão Quân, đó là chỗ xuất phát ra yêu tinh”... Các vị La Hán xuống trợ giúp cũng bị bảo bối yêu tinh thâu hết binh khí, nên hai La Hán nói với Tôn Hành Giả: “Yêu tinh này chủ của nó là Thái Thượng Lão Quân”... Tôn Hành Giả đến cầu Thái Thượng Lão Quân thì Ngài mới hay con trâu xanh đã ăn cắp chiếc vòng kim cương xuống trần. Thái Thượng Lão Quân cùng Tôn Hành Giả xuống động. Tôn Hành Giả dụ yêu tinh ra, Thái Thượng Lão Quân đứng trên không trung đọc thần chú và dùng quạt quạt một cái, yêu tinh mới chịu đầu phục và hiện nguyên hình là con trâu xanh. Lão Quân thâu phục đem về...

    Đây cho thấy cái vòng Tôn Hành Giả vẽ là chỉ cho giới. Giới đây không phải giới tướng mà là giới thể. Nếu ở trong vòng giới thì không có việc gì xảy ra cả. Bởi ra khỏi vòng giới mà trí tuệ không hiện hữu nên gặp phải đủ chuyện. Khi tâm động là đã ra khỏi giới mới bị niệm dẫn đường (ma đưa lối quỷ dẫn đường) . Nếu trí tuệ không hiện hữu thì phải nương nơi giới mà trí đã vạch sẵn để hộ thân huệ mạng. Bằng ngược lại, tâm không tự chủ liền bị các giác quan (Bát Giới) chủ động sai khiến hướng ngoại, lần lượt rơi vào tập nghiệp cũ sẽ bị ngoại cảnh lôi kéo, đó cũng là lệ thông thường khi chưa có trí tuệ rõ ra lẽ thật các pháp, cho nên bị u mê mù quáng, không còn sáng suốt như có một ma lực siêu nhiên bắt phải làm theo, mới thọ lãnh hậu quả nhọc nhằn khổ sở, giống như Tôn Hành Giả trước khi đi xin cơm vẽ một cái vòng bảo Đường Tăng và các sư đệ vào trong chớ có ra ngoài thì sẽ không có gì hại được. Bởi Đường Tăng không tự chủ, lại bị Bát Giới nói bàn theo lẽ phải của bản năng vô trí rồi đồng tình nghe theo mà phải bị nạn rơi vào tay yêu tinh. Trong Sa di luật giải có một sự tích nói ý này:

    Thuở xưa có vị Tỳ kheo đi dạo quanh hồ sen nghe mùi hương khởi niệm ngửi. Ngay khi ấy có vị Thần hiện ra quở: “Sao ông trộm hương sen của tôi?”. Vị Tỳ kheo không biết trả lời. Khi đó có người lội xuống hồ bẻ hoa nhổ ngó làm cho sen ngã rạp. Vị Tỳ kheo nói: “Tôi chỉ ngửi hương sen mà ông nói tôi trộm hương, nay người kia nhổ ngó, bẻ hoa sao ông không quở họ?”. Vị thần bảo: “Đó là kẻ thế tục không biết tội lỗi. Ví như chiếc áo đen dù có năm, mười vết mực dính vào cũng không thấy, còn ông tu hành giống như chiếc áo trắng, chỉ một vết mực nhỏ cũng thấy rõ, nên tôi trách ông”.

    Qua câu chuyện trên cho thấy, người hành đạo khi xúc duyên với tất cả pháp tâm vừa mống khởi dính mắc là đã ra khỏi giới liền bị niệm dẫn. Người giữ giới miên mật là đối cảnh lòng không xao động tức là được định, trong giới đã có định, trong định là giới. Giới định có mà trong ấy không khởi tưởng đây là giới là định, tức là huệ vậy. Thế nên Đường Tăng nói: “Nếu biết đừng ra khỏi vòng thì làm gì có nạn này!”. Tôn Hành Giả liền nói: “Vì không tin cái vòng của con, thầy mới lọt vào vòng của người khác. Biết bao là khổ sở!”. Do đó cuối hồi 50 Ngô Thừa Ân viết:

    Đạo cao một thước, ma cao (một) trượng

    Rối tính, mê tình, nhận lẫn nhà

    Đáng giận ai kia ngồi chẳng vững

    Niệm đầu hành động quá sai ngoa.

    Bởi bất giác có niệm nên bị trôi lăn quên đi nguồn cội rồi tạo không biết bao nhiêu nghiệp mà kể. Một khi đã lầm nhận thì bị nó dẫn đi không lúc nào dừng, hết niệm này tới niệm nọ nối tiếp. Bởi từ lâu quên đi nguồn cội, hướng ngoại buông thả theo dục vọng không biết hồi đầu tỉnh giác nên càng bước càng xa. Dù nay đã giác ngộ có trí tuệ, tuy không hòa nhập theo và thấy rõ sự vận hành của nó, nhưng nó còn quá mạnh chưa chịu khuất phục. Trạng thái ấy tuy không thấy có niệm khởi thô thiển, nhưng hình như có sự máy động lăn tăn nhỏ nhiệm không rõ ràng cho lắm, thì biết đó là dòng tâm thức đang trôi chảy rất tế vi bên trong, nếu dùng những hình thức phương tiện bên ngoài để dẹp trừ thì chỉ tạm dừng ở hạn định thời gian nào đó chớ chẳng phải thật lắng lặng hoàn toàn. Phải dùng trí xét biết tận gốc của dòng tâm thức phát xuất từ đâu thì mới không bị lầm lẫn. Do đó nói Tôn Hành Giả đến Như Lai cầu viện.

    Con trâu xanh là chỉ cho tâm thức vọng động, Thái Thượng Lão Quân chỉ cho Tâm chân thật, và vòng kim cương là nói công năng diệu dụng của tâm, mà tâm thức là từ nơi Tâm chân thật lưu xuất, giống như Thái Thượng Lão Quân là chủ của con trâu xanh vậy. Tâm thức là niệm bất giác mà trong kinh nói là Căn bản vô minh (chủng tử bản hữu tiềm ẩn trong tạng thức), do vì mê lầm bám chấp sống với tâm thức mà quên Tâm chân thật, nên tâm thức cũng có công năng rất mạnh, tuy có trí tuệ đó nhưng tâm thức vẫn trôi chảy chưa chịu dừng, giống như Tôn Hành Giả đánh không lại yêu tinh phải đi cầu viện binh Trời tướng Phật đến trợ giúp.

    Khi các vị La Hán dùng Kim Đơn Sa làm yêu tinh mờ mắt không thấy đường để cho Tôn Hành Giả đánh thì nó không sợ lại dùng bảo bối thâu hết. Vì Kim Đơn Sa ví như phương tiện làm dừng nhân vọng động hiện tại không cho ý thức tạo nghiệp chớ chưa rõ ra Bổn Tâm chân thật, cho nên câu “Mạt vàng tuy quí nhưng rơi vào mắt vẫn bị xốn” là chỉ cho ý này. Để nói lên cái phương tiện tuy quí nhưng chỉ tạm dùng trong một thời gian hạn định nào đó để đối trị tâm bệnh, như sân hận lấy từ bi đối trị; tham lam lấy bố thí trị; tham sắc dục lấy quán bất tịnh trị v.v... Cho nên A La Hán chỉ mới dứt nhân ý thức không còn tạo nghiệp hiện tại được ra khỏi sanh tử, nhưng câu sanh vô minh (chủng tử bản hữu) vẫn còn, là cái bất giác của quá khứ còn đọng lại trong tàng thức, nên A La Hán sợ sanh tử mà vào Niết bàn, chứ không biết những niệm bất giác đó gốc từ Chân tâm lưu xuất. Vì vậy trong kinh Lăng Nghiêm nói A La Hán chưa thoát khỏi thức ấm, bởi A La Hán khi thấy ý thức đứng lặng rồi dừng trụ ở đó không chịu tiến thêm. Nhưng cái đứng lặng đó không phải thật lặng, bên trong nó như một dòng nước chảy liên tục, ở xa trông như vệt trắng, vì chảy nhanh quá nên không thấy rõ, chớ nó do từng hạt nước, từng hạt liên kết nhau trôi chảy không dừng. Cũng như mấy năm trước ta đã từng thấy một vật lạ, rồi trải qua nhiều năm không hề nghĩ đến. Về sau bỗng nhiên thấy lại vật đó hoặc nghe ai kể nhắc lại thì liền nhớ rất rõ ràng. Đó là những ký ức chấp giữ vi tế in sâu trong tạng thức, nó thuộc về thức ấm, do bất giác ở quá khứ mà từng niệm, từng niệm chịu sự huân tập thành chủng tử hư vọng. Nó lăn tăn nhỏ nhiệm không rõ ràng cho lắm mà trong kinh gọi là vọng thức vi tế sinh diệt. Cũng giống như mặt biển vốn phẳng lặng, nhưng bởi do duyên có gió nên mặt biển nổi sóng to; đến khi gió đã dừng rồi mà mặt biển vẫn còn dư ba trước đó nên thấy có những gợn sóng nhỏ ngầm lăn tăn, chớ mặt biển chưa trở lại phẳng lặng như xưa; cho nên đến khi nào thể nhận và hằng sống với thể tánh trọn vẹn thì thức ấm mới dừng.

    Trong Đại Trí Độ Luận nói ngài Xá Lợi Phất tuy chứng A La Hán phá được ba độc mà khí phần ba độc và sở tri chướng chưa hết, nên nói Ngài vẫn còn dư tập khí sân nhuế. Ví như cái hộp đựng hương, tuy hương đã lấy ra nhưng mùi hương nó vẫn còn, như người mới cởi bỏ được xiềng xích đi chưa vững vàng.

    Hay vị A La Hán Tất Lăng Già Bà Sa bị bệnh đau mắt. Một hôm đi khất thực qua sông Hằng nói với thần sông rằng: “Con tiểu tỳ! Hãy cho nước ngưng chảy, để ta qua sông”. Thần sông đến bạch Phật về sự việc này. Phật bảo ngài Tất Lăng Già Bà Sa phải đến trước thần sông sám hối. Ngài vâng lời Phật đến trước thần sông nói rằng: “Tiểu tỳ, ngươi chớ giận, nay ta đến sám hối với ngươi đây”.

    Cả chúng phá lên cười: “Như vậy là sám hối hay mắng nữa đấy?”

    Sau đó Phật bảo thần sông: “Ông thấy vị Tỳ kheo ấy chắp tay sám hối chăng?”

    Thần sông thưa: “Dạ có, bạch Thế Tôn”.

    Phật dạy: “Tỳ kheo ấy sám hối thành tâm không kiêu mạn, lời nói như vậy chẳng phải là lời nói ác. Tỳ kheo này 500 năm về trước, sanh trưởng trong nhà Bà la môn thường tự kiêu tự mãn rằng, mình là con nhà quí phái, do thói quen mà nói vậy, chớ thật tâm chẳng còn kiêu mạn nữa”.

    Và kinh Pháp Hoa cũng nói A La Hán vẫn còn bị kẹt chỗ Hóa thành, là trạm để dừng chân chớ chưa đến Bảo sở.

    Đứng về danh từ A La Hán thì Từ điển Phật học có phân làm bảy loại. Nhưng đọc trong truyện ta thấy A La Hán dùng bảo bối Kim Đơn Sa ném xuống đánh yêu tinh mà nó không sợ, nên mới dẫn ý A La Hán đây là bậc thứ tư của quả vị Thanh Văn. Nhưng theo trong kinh Phật giáo phát triển và Thiền tông thì bậc A La Hán này chưa nhận ra bổn tâm sáng suốt trong lặng.

    Đối với phàm phu do quen nhìn theo nghiệp cảm không biết lẽ thật nên ngay sắc thân nhơ nhớp (bất tịnh) này lại cho là sạch; tâm suy tính nghĩ tưởng biến đổi sanh diệt không dừng (vô thường) mà nghĩ là thường; các pháp không chủ thể nhất định (vô ngã) lại cho là có thực thể; cuộc đời này khổ (Sanh khổ, Lão khổ, Bệnh khổ, Tử khổ, Cầu bất đắc khổ, Ái biệt ly khổ, Oán tắng hội khổ, Ngũ ấm xí thạnh khổ) mà cố chấp cho là vui nên phải bị lang thang, trôi nổi trong sanh tử. Đó là bốn cái điên đảo của phàm phu. Còn hàng Thanh Văn A La Hán thì thấy ngược lại, nhìn trên sắc thân này là bất tịnh; tâm sinh diệt là vô thường; các pháp là vô ngã; thế gian này là đau khổ. Do có cái nhìn như thế mà không chấp trước ái nhiễm trên thân tâm và các pháp nên được an định, gọi là vô ngã, rồi an trụ nơi tịch lặng cho là Niết bàn. Vì thấy khổ thật, sinh tử thật có để diệt và thấy có Niết bàn thật để chứng, nên gọi là còn kẹt pháp. Do đó nói A La Hán chưa thể nhận được bổn tâm, rõ bản tánh trên pháp chỉ chấp chỗ tịch lặng cho là rốt ráo. Nhưng đối với các vị đại Bồ Tát và Phật thì cho rằng A La Hán cũng có bốn cái điên đảo nữa. Vì sao? Vì Phật và đại Bồ Tát đã thể nhận được ngay báo thân nhơ nhớp này có cái chưa từng bị nhơ sạch (Chân tịnh); chưa từng bị khổ vui (Chân lạc); chưa từng bị sanh diệt (Chân thường); luôn hằng hữu rỗng lặng sáng suốt (Chân ngã). Đó là Chân tâm hay Phật tánh. Do các Ngài nhận thấy được như vậy mà nói A La Hán có bốn cái thấy đảo ngược, và cộng bốn cái điên đảo của phàm phu nên trong kinh gọi là Bát đảo, và nói đại Bồ Tát được bốn đức Niết bàn (chân thường, chân lạc, chân ngã, chân tịnh). Bởi A La Hán chỉ nhìn trên giả tướng xác định các pháp có sinh, có diệt, có thành, có hoại mà xa lìa không ái nhiễm, nhưng chưa thấy được trong vô thường có cái hằng thường bất biến, đó là thể tánh bất sanh bất diệt của các pháp. La Hán do thấy các pháp thật vô thường, thật khổ… nên sợ rồi chán lìa mà an trụ trong an định. Còn Đại Bồ Tát thấu rõ ngay thân tâm và các pháp vô thường đó có cái hằng thường bất biến. Các pháp tuy có tướng sinh diệt vô thường, nhưng cái sinh diệt vô thường của các pháp là huyễn sanh, huyễn diệt, huyễn vô thường. Song nếu chấp các pháp là huyễn sanh, huyễn diệt thì chỉ mới thoát khỏi cái tướng sinh diệt của các pháp chớ chưa rốt ráo, mà phải không chấp lấy chỗ bất sinh bất diệt nữa kia, vì bất sinh bất diệt cũng còn đối đãi với sinh diệt. Cho nên đến mục đích cứu cánh phải không thấy có sinh diệt vô thường, không thấy có thường trụ bất biến, lìa được hai tướng đối đãi mới là chân thật tuyệt đối.

    Nói như thế để thấy do tâm hành giả nhìn các pháp thế nào đó mà có dính mắc hay phân chia ra Tiểu thừa, Đại thừa hay Tối thượng thừa. Có phân chia ra như vậy là do trí hành giả có cao thấp mà ra, chớ rốt ráo của Phật pháp không có Tiểu, Đại.

    Ở đây là vì so sánh với cái nhìn cứu cánh hay chưa cứu cánh chớ không phải nói thấp các vị A La Hán, bởi chúng ta chưa dứt hết ái kiến mà các vị La Hán đã sạch hết ái kiến không còn sanh trong ba cõi và các Ngài được lục thông tự tại, trong khi đó chúng ta thì chưa được như vậy.

    Nhưng tóm lại A La Hán chia làm hai hạng:

    1- Hạng Bất Hồi Tâm Độn A La Hán: Ở nơi không vọng động tự thỏa mãn an trú trong đó, chỉ tự lợi riêng mà không làm lợi ích gì cho ai, nên Đức Phật quở là trầm không trệ tịch, là phương tiện nghỉ chân chớ chưa cứu cánh.

    2- Hồi Tâm Đại A La Hán: Là vị có trí linh động cầu tiến, thấy sự liên hệ giữa mình và nhân sinh nên phát tâm rộng lớn chớ không tự mãn ở nơi tịch lặng đã được, mà chuyển sang tâm Bồ Tát để tiến tu, hành Bồ Tát hạnh, đến khi công hạnh được viên mãn, đức tánh tròn đầy mới lên Phật quả.

    Đối với các vị Bồ Tát và Phật thấy các pháp cùng thân tâm không thật có, tất cả đều từ tự tâm hiện. Bản chất nó có do hội đủ các yếu tố của nhân và duyên, có như huyễn như hóa, thể tánh vốn là không. Bởi các Ngài đã thể nhận được Bổn tâm, do đó nhìn các pháp vốn không ngoài vòng ánh sáng của tâm nên không bị nó lôi cuốn.

    Để cụ thể việc này hơn, ta hãy tưởng tượng như vầng thái dương luôn tỏa ánh sáng khắp nơi, nhưng khi bị mây che phũ, kẻ vô trí vì không nhận được nguồn sáng trên cao kia nên chỉ thấy có mây (vọng tưởng), không thấy mặt trời (bổn tâm). Đây chỉ cho phàm phu không biết bổn tâm mà nhận vọng tưởng, vọng niệm là mình.

    Đến một lúc nào đó mây tan hết thì thấy bầu trời trong lặng không mây. Có mây và không mây là hai trạng thái đối lập. Do chưa thấy được mặt trời đang tỏa chiếu trùm khắp bầu trời (Chân tâm) và chẳng bao giờ thiếu vắng dù chỉ trong phút giây. Tất cả những gì ở trong bầu trời, khi có mây hay không mây cũng đều được ánh sáng đó soi chiếu nên chúng đều hóa sáng theo ánh sáng của mặt trời. Bởi ở địa vị của ánh sáng mặt trời nên không quan tâm đến mây và không mây. Khi có mây hay không mây ánh sáng mặt trời vẫn luôn bất động trùm cả bầu trời. 

    Do không thấy được ánh sáng mặt trời là vì ta thấy có mây, rồi cho mây thật có lại bám vào mây (phàm phu), mà không biết nhờ có ánh sáng mặt trời mới thấy mây đang biến chuyển thay đổi. Thấy mây là biết có ánh sáng mặt trời, do vì chỉ nhận mây mà quên đi cái ánh sáng rỗng lặng đang phũ trùm bầu trời. Lại khi không mây thì thấy có bầu trời thênh thang, cho cái bầu trời thênh thang đó là chỗ nơi để an trụ (A La Hán), mà chưa thấy được mặt trời tỏa chiếu khắp bầu trời. Hơn nữa, lại chẳng biết nhờ có ánh sáng đó mới thấy bầu trời thênh thang không mây.

    Khi đã rõ được ánh sáng mặt trời trong lặng bất động thì thấy rõ tột cội gốc của mây là ảo huyền, nó có trong sự tạm bợ, chợt còn, chợt mất, không dừng trụ nhất định, và cái bầu trời thênh thang không mây kia cũng ở trong ánh sáng mặt trời. Nhưng ở ánh sáng mặt trời bất động thênh thang thì chẳng có mây và không mây. Cũng như mặt gương vốn sẵn trong suốt bất động luôn chiếu soi. Bởi chính trong gương không một vật nên mới trong suốt, nhưng vật gì ở trước nó đều hiện rõ trong ấy. Khi có bóng vật ở gương, biết bóng không phải là gương, bóng chợt đến, chợt đi. Còn mặt gương ngay khi có bóng hay không bóng, vẫn luôn trong suốt chiếu soi bất động.

     Cũng vậy, khi không vọng niệm lúc đó ta vẫn rõ biết, khi vọng niệm khởi cũng rõ biết là đang có vọng niệm. Chính cái RÕ BIẾT khi có vọng (mây) và không vọng (không mây) thì cái RÕ BIẾT đó luôn hiện hữu, chỉ đừng hòa nhập lao theo vọng niệm thì cũng như mặt trời luôn tỏa sáng vậy.

    Nếu đã nhận rõ Bổn tâm thì có trí tuệ mới không bị dòng tâm thức câu thúc. Vì sao? Vì khi trí tuệ đã tỏa sáng thì những vọng thức cũng ở trong vòng ánh sáng của trí tuệ nên nó tự hóa thành sáng theo ánh sáng ấy. Nếu lúc nào ta cũng nuôi dưỡng ánh sáng đó thì vọng niệm dù còn nhưng nó không lôi dẫn ta được.

    Tuy rằng có trí tuệ mà chưa định tâm thì vẫn bị bất giác quấy nhiễu, do đó nói Tôn Hành Giả không thắng nổi yêu tinh là ý này. Còn như biết rõ gốc tâm thức từ nơi rỗng lặng sáng suốt (Thái Thượng Lão Quân) phát sanh và tâm an định lại (câu thần chú) thì ngay đó nó liền hóa tán (yêu tinh quy phục). Nên có bài:

    Bao năm lầm nhận than khổ mãi

    Xét tới tận cùng mới hay ra

    Từ nơi rỗng lặng lao theo chiếu

    Quên bỏ nguồn chân viếng ngoại trần

    Và ở hồi 60-61 cũng nói lên ý nghĩa tâm thức này. Xin lược dẫn một đoạn.

    ... Khi Tôn Hành Giả nghe Thổ địa mách muốn mượn quạt nên tìm Ngưu Ma vương ở động Ma Vân... Tôn Hành Giả đến động gặp Ngưu vương hỏi mượn quạt, Ngưu vương kể lể rồi không cho nên hai bên đánh nhau. Đang đánh Ngưu vương bỏ ngang chạy đi dự tiệc... Tôn Hành Giả lén theo đến chỗ, trộm con vật Ngưu vương cưỡi và hoá giả làm Ngưu vương đến chỗ Bà La Sát... Bà La Sát không biết tưởng là Ngưu vương chồng mình nên đưa bảo bối quạt Ba tiêu thật. Tôn Hành Giả liền hiện nguyên hình đi về. Ngưu vương dự tiệc xong ra không thấy con vật mình cưỡi liền nghi Tôn Hành Giả trộm, vội về chỗ Bà La Sát mới hay Tôn Hành Giả gạt lấy quạt. Ngưu vương liền biến ra Bát Giới đón đường Tôn Hành Giả đang trên đường về, gạt lấy quạt lại và quạt Tôn Hành Giả. Tôn Hành Giả nhờ trước đó nuốt Định Phong Đan nên không bị bay, rồi hai bên đánh nhau. Ngưu vương đánh không lại biến thành con trâu trắng to giao chiến... Tôn Hành Giả đuổi theo bắt lấy, trên dưới đều có quân Trời, tướng Phật trợ sức nên Ngưu vương bị Na Tra và Tôn Hành Giả thâu phục dẫn về nơi Phật nộp trả...

    Đây cho thấy Ngưu Ma vương là chỉ cho tâm vọng thức hướng ngoại lang thang rong ruổi tìm những thú vui của dục lạc. Một khi đã quên gốc thì càng bước càng xa nên đường trước mịt mờ không biết lối ra, giống như Ngưu vương nay thọ hưởng dục lạc ở động Ma Vân, mai dự tiệc nọ ở động Long Tinh v.v...        Trước đó, khỉ và trâu đã giao du và kết tình nghĩa anh em, lúc đó hai bên tài đều ngang nhau, nhưng ngày nay thì:

    Khỉ đã hồi đầu theo chính giác

    Trâu kia đau đáu hướng ngoại trần.

    Cũng vậy, nay tuy đã giác ngộ có trí tuệ nhưng vọng thức vẫn còn máy động, phải luôn luôn sáng suốt định tỉnh chẳng hòa hợp theo thì chúng không sai khiến ta được, giống như Ngưu vương dùng quạt Ba tiêu quạt Tôn Hành Giả không bay nên đánh chẳng lại phải chạy.

    Con trâu xưa kia vốn là trâu trắng của Như Lai, do bất giác hướng ngoại đi hoang nên bụi bùn bám đầy hóa thành trâu đen lang thang khắp nẻo. Nay muốn nó trở về cũng phải đánh đổi bao nhiêu công lao khó nhọc thì mới chịu hồi đầu hiện rõ bản tướng là trâu trắng như xưa.

    Cũng thế, từ lâu chúng ta chấp vọng thức là mình nên bị trôi lăn ba cõi sáu đường. Nay có trí tuệ và an định mới biết nó giả dối hư ảo. Từ chỗ chân thật rỗng lặng sáng suốt chỉ do bất giác mà có muôn sai ngàn khác trở thành xa cách.

    Khỉ và trâu là những hình ảnh tượng trưng cho tâm thức hư vọng. Nhưng ở đây nói Tôn Hành Giả là chỉ cho tâm ý đã chuyển hóa, hồi đầu không chạy theo những ý tưởng hư vọng và trần cảnh huyễn ảo gọi là tâm tỉnh giác. Còn Ngưu Ma vương là nói tâm thức mê mờ phụ họa với sáu căn ái nhiễm dính mắc sáu trần làm cho tâm thêm vẩn đục.

    Tóm lại chỉ có mê và ngộ. Khi mê sáu căn tiếp xúc sáu trần, tâm mống niệm hướng ngoại nên bị các cặp đối đãi xoay chuyển. Khi tỉnh thức giác ngộ thì cũng căn cảnh tiếp xúc nhau, nhưng tâm bình lặng thản nhiên chỉ biết vậy, không có niệm thêm bớt, thấy chỉ thấy, nghe chỉ nghe, rõ biết tất cả. Nghĩa là lúc đối diện với sáu trần không bị vướng mắc cái chi hết, khi ấy thật an tịnh sáng suốt không bị ngoại cảnh chi phối, nên gọi là giác ngộ, chứ không phải nhắm mắt, bịt tai không nghe biết chi. Bởi vì giác ngộ là thấy rõ tận gốc của cái mê không tiếp nối, thì cái mê tự dừng mà trả lại cái xưa nay hằng trống vắng linh diệu, chưa từng hoen ố vẩn đục. Thế nên, thiền sư Pháp Loa có dạy “Trong mười hai giờ, ngoài dứt các duyên, trong tâm không loạn. Vì tâm không loạn động nên cảnh đến vẫn an nhàn. Mắt không vì cái sở duyên của thức mà chạy ra (mắt không vì cảnh mà thức chạy ra dính mắc), thức không vì cái sở duyên của cảnh mà vào (thức không vì mắt thấy cảnh mà thâu vào). Ra vào không giao thiệp nên gọi là ngăn dừng. Tuy nói ngăn dừng mà chẳng phải ngăn dừng. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như thế”. Nhưng muốn được vậy cũng phải nhờ sự trợ duyên giữ giới luật và công sức hành thiện cùng lòng hổ thẹn của chính mình khi lơ là giải đãi trên đường hành đạo, vì có hổ thẹn mới tăng thêm nghị lực và ý chí, giống như Tôn Hành Giả giao chiến với Ngưu vương lại có binh Trời, tướng Phật trợ lực với Tôn Hành Giả vậy.

    Bao kiếp nổi trôi trong vòng luân hồi, con trâu đen đã bao phen dãi nắng dầm sương, thăng trầm trong cuộc sống lãng du. Nay biết thân phận không còn dám càn bướng hung hăng như trước mà đã biến thành con trâu trắng trở về nguồn cội xưa, đang phũ phục trước mặt Như Lai tỏa vạn ánh hào quang rạng ngời an lạc. Thật hạnh phúc thay trong giây phút hiện tại này, một hạnh phúc tuyệt vời không gì đánh đổi được, một niềm vui bất tuyệt không gì so sánh bằng. Nó đã làm thay đổi hẳn mọi cách nhìn, cách sống theo tập quán thường nhật, chẳng còn hệ lụy bởi mọi biến chuyển thăng trầm trong cuộc đời. Nhưng phải giữ trạng thái đó miên viễn thì mới thật sự rốt ráo an lạc. Cũng như Ngài Đại An ở núi Qui nói: “Này các hành giả muốn làm Phật, chỉ cần không có những tâm điên đảo, tâm vin theo, tâm vọng tưởng, tâm nghĩ ái, tâm cấu đục chẳng sạch của chúng sinh, tức các hành giả là Phật chánh giác mới phát tâm đâu có cái gì khác nữa ! Thế nên Đại An này ở tại núi Qui 30 năm, ăn cơm núi Qui, đại tiện núi Qui mà không học thiền núi Qui chỉ coi chừng con trâu. Nếu nó lạc đường hay vào trong cỏ, liền lôi nó lại. Nếu có ăn lúa mạ của người liền đánh đập điều phục nó. Đáng thương đã lâu chịu người rầy rà, hiện giờ nó đổi thành con trâu trắng đứng trước mặt, trọn ngày hiện sờ sờ đuổi cũng chẳng đi”.

    Nếu sống với Tâm chân thật bất động được đôi chút mà tâm vọng động còn nhiều thì giống như trâu chỉ trắng ít phần trên thân, đến lúc nào đó trên mình con trâu đã trắng hoàn toàn luôn hiện sờ sờ trước mặt, tức là Tâm chân thật không lúc nào vắng. Khi ấy dù có đối diện tất cả trần cảnh, tâm cũng không bị chao động, luôn linh hoạt sáng suốt làm chủ trước ngoại duyên.

    Trâu đen hay trắng cũng chỉ là con trâu (tâm) mà thôi chớ không khác, chỉ khác ở đen (vọng động) là mê lầm rong ruổi đắm nhiễm ngoại cảnh, tẩm nước ngũ dục thân tâm ô nhiễm mà trong kinh nói là Bối giác hợp trần; còn trắng (chân thật) là an tịnh thuần hòa sáng suốt không lầm lẫn là Bối trần hợp giác. Cho nên có kệ nói rằng:

    Bởi do hướng ngoại nên lang bạt

    Tỉnh giác hồi đầu chẳng đổi hình

    Niệm trước sai lầm thành xa cách

    Niệm sau sáng tỏ chốn cũ về.

    Nói về là một lối nói trên ngôn ngữ, nếu cho có chỗ để về tức vẫn còn mê lầm vì chưa dứt năng sở, ngã pháp; hơn nữa Bổn tâm xưa nay đâu có đi, có đến mà về. Nói rõ hơn chỉ là nhận lại và hằng sống trọn vẹn không máy động mà tùy duyên phóng khoáng chẳng có cái chi ràng buộc, luôn an nhiên thanh thản trong cuộc sống.

    *

  • 19. TRÍ & THỨC

    TRÍ  & THỨC

     

    Khi đọc tới hồi 57-58, tôi thấy Ngô Thừa Ân khéo dẫn truyện và hình ảnh để diễn đạt đạo lý thật hay về ý nghĩa “phân biệt là ý thức và phân biệt tức không phải ý (trí)”. Đây xin lược dẫn môt đoạn nói về ý này.

    ... Trên đường đi mấy thầy trò bị bọn cướp đón đường, nên Tôn Hành Giả đã nặng tay đánh chết hết mấy người, Đường Tăng không nhịn được bèn đuổi Tôn Hành Giả... Tôn Hành Giả ra đi không trở về động mà đến Bồ Tát Quan Âm cáo chứng... Không có Tôn Hành Giả, Bát Giới phải đi xin cơm…. Đường Tăng thấy Bát Giới xin cơm lâu quá mà chưa về mới bảo Sa Tăng đi tìm. Đường Tăng ở lại một mình bị Tôn Hành Giả giả đánh ngất đi rồi lấy hết hành lý về động Thủy Liêm... Đường Tăng tỉnh lại nghĩ rằng Tôn Hành Giả thật làm phản nên bảo Sa Tăng đến động Thủy Liêm năn nỉ xin lại hành lý... Khi Sa Tăng đến nơi, Tôn Hành Giả giả không đưa mà còn biến ra Đường Tăng, Bát Giới, Sa Tăng và Ngựa Bạch giả chuẩn bị lên đường sang Tây thiên thỉnh kinh, để về Đông thổ xưng danh làm Tổ... Sa Tăng mới biết không phải sư huynh mình, giận quá đánh chết Sa Tăng giả rồi tẩu thoát đến chỗ Bồ Tát Quan Âm cầu cứu thì gặp Tôn Hành Giả thật ở đó... Sa Tăng thuật chuyện đã xảy ra cho Bồ Tát nghe. Bồ Tát sai Tôn Hành Giả thật đến động xem Tôn Hành Giả giả là ai mà dám làm thế... Khi gặp nhau cả hai chiến đấu không phân thắng bại, còn Sa Tăng đi theo muốn đánh giúp sư huynh mà không biết ai thật, ai giả đành đứng nhìn. Tôn Hành Giả thật vừa đánh vừa dẫn dụ đi đến chỗ Bồ Tát nhờ đọc thần chú để Sa Tăng nhận ra ai thật ai giả. Bồ Tát đọc thần chú cả hai đều đau đầu nên cũng không phân biệt được, bèn lên nhờ đến Thượng đế... Thượng đế cũng không nhận ra. Dẫn xuống U minh nhờ Bồ Tát Địa Tạng sai con Đế Thính ngửi xem ai thật, ai giả. Vì ở Thượng đế và U minh Tôn Hành Giả có đến, nên hai vị này có biết qua nay nhờ phân định dùm. Đế Thính biết nhưng cũng không nói được và không thể giúp sức bắt yêu tinh, vì thần thông yêu tinh không kém với Tôn Hành Giả... Địa Tạng nói: “Như vậy làm sao diệt trừ”. Đế Thính nói: “Phật pháp vô biên”. Ngài Địa Tạng tỉnh ngộ bèn chỉ đến Đức Phật mới biện được, nên cả hai đồng ý cùng đến trước Phật... Phật nhìn liền biết hết cả và nói lai lịch về Tôn Hành Giả giả. Tôn Hành Giả giả nghe Phật nói rõ gốc gác của mình bèn hóa thành con ong bay chạy, Phật liền tung bát tộ úp lấy. Mọi người đến cầm lấy bát lên, nó hiện rõ bản tướng là con Lục nhĩ hầu (khỉ sáu tai), Tôn Hành Giả không nhịn được liền đánh chết...

    Đây cho thấy khi trí tuệ không hiện hữu thì trên đường hành đạo sẽ gặp trở ngại, giống như Đường Tăng đuổi Tôn Hành Giả liền gặp nạn vậy. Trên đường hành đạo, nếu chúng ta nhận định kỹ thì sẽ thấy có hai hành giả nơi cõi lòng mình là một thật, một giả như trong truyện nói đã.

    1- Là chỉ cho ý thức ở sáu căn khi còn mê tối vọng động, lầm thấy các pháp là thật. Tức là con khỉ sáu tai (Tôn Hành Giả giả).

    2- Chỉ cho ý thức đã chuyển hóa thành trí tuệ sáng suốt rõ biết các pháp đúng như thật (Tôn Hành Giả thật).

    Con khỉ sáu tai là nói đến ý thức ở sáu giác quan, tức là sáu thức chớ chẳng phải cái chi khác. Nếu dùng ý thức để tu thì không thể nào đến quả vị giải thoát được. Vì ý thức là cái sinh diệt khi có, khi không, nó không phải là chánh nhân giải thoát. Nếu có kết quả chỉ là thành quả trên bản ngã, làm cho tự ngã càng ngày càng to, lầm lẫn mà chẳng hay. Vì là nhân sinh diệt thì quả của nó cũng phải sinh diệt, giống như Tôn Hành Giả giả hóa ra mấy thầy trò Đường Tăng giả sang Tây thiên thỉnh kinh về Đông thổ cầu làm Tổ vậy.

    Ở đây chúng ta thấy rất khó phân biệt được cái nào là ý thức và cái nào là trí tuệ. Nhưng đối với người đã rõ ra Phật tâm sẽ có cái nhìn sáng suốt thì việc này chắc không khó lắm. Như chuyện ngài Huyền Giác đối đáp với Lục Tổ như sau:

    Ngài Huyền Giác đến gặp Lục Tổ mà không lễ, nên bị Tổ quở: “Là Sa môn phải đủ ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, Đại đức từ phương nào tới đây, sanh đại ngã mạn?”

    Huyền Giác thưa: “Sanh tử là chuyện lớn, vô thường mau chóng”.

    Tổ bảo: “Sao chẳng thể nhận cái vô sanh, liễu không mau ư”?

    Huyền Giác thưa: “Thể tức vô sanh, liễu vốn không có mau”.

    Tổ bảo: “Như thế, như thế !”

    Huyền Giác mới đầy đủ oai nghi lễ bái, trong                                           chốc lát liền cáo từ.

    Tổ bảo: ‘Trở về mau chóng vậy?”

    Huyền Giác thưa: “Vốn tự không động há có mau, chậm ư”?

    Tổ bảo: “Ai biết chẳng động?”

    Huyền Giác thưa: “Nhơn giả tự sanh phân biệt.”

    Tổ bảo: “Ông rất được cái ý vô sanh”.

    Huyền Giác thưa: “Vô sanh há có ý sao?”

    Tổ bảo: “Nếu không có ý thì ai biết phân biệt?”

    Huyền Giác thưa: “Phân biệt cũng không phải ý.”

    Tổ bảo: “Lành thay ! Hãy dừng lại một đêm”.

    Qua sự đối đáp của hai Ngài đến câu ngài Huyền Giác nói: “Phân biệt cũng không phải ý” thì ngài Lục Tổ nói: “Lành thay ! Hãy dừng lại một đêm” là câu ấn chứng cho ngài Huyền Giác đã triệt ngộ. Cho nên câu “Phân biệt không phải ý” là nói đến “tự tánh phân biệt” của ý thức chung khởi cùng năm thức trước với cảm giác hoàn toàn thuần túy về thấy, nghe hiểu biết... khi chưa có phân biệt sự thức (tùy niệm phân biệt và kế đạt phân biệt) như đã nói ở trước.

    Đây có một thí dụ để chúng ta nhận định chắc cũng không khó. Khi đi ra đường mắt chúng ta thấy tất cả nào là xe đạp, xe máy, cội cây, người nam, người nữ v.v... thấy rõ ràng tất cả mọi vật nhưng cái nào ra cái nấy không xen tạp lẫn lộn với nhau, mà đừng khởi niệm đặt để gán cho các sự vật một danh từ nào cả, và không phân biệt so sánh xe này đẹp, xe kia xấu, người nọ trắng đẹp hơn người kia v.v..., thì đó là phân biệt mà không phải ý. Vì sao? Vì chiếc xe không phải là cội cây, cội cây không phải là con người, người nam không phải là người nữ v.v... mỗi cái ở vị trí riêng của nó. Cho nên trong kinh Pháp Hoa nói: “Các pháp ở nơi bản vị riêng của nó, tướng thế gian thường tự vắng lặng”. Hay ngài Ngưỡng Sơn hỏi ngài Qui Sơn: “Trăm ngàn muôn cảnh đến phải làm sao?”. Qui Sơn đáp “Xanh chẳng phải vàng, dài chẳng phải ngắn, các pháp mỗi pháp ở địa vị của nó, chẳng can hệ đến việc của ta”.

    Còn phân biệt mà có ý là khi ta nhìn chiếc xe liền khởi niệm nghĩ xe này xấu quá, là vì ta đem hình ảnh chiếc xe hiệu y như vậy còn mới toanh bày bán ở cửa hàng ra so sánh, nên nói xe hiện thấy xấu hơn. Hay nhìn người nào đó khởi niệm nói đẹp là ta đem hình ảnh một người đen đúa nhăn nheo hoặc xấu xí hơn ở trong tiềm thức ra để so sánh, nên nói người hiện thấy đẹp hơn, hoặc theo nhãn quan định kiến của nghiệp cảm liền so sánh phân biệt với đối tượng hiện tại này nọ v.v... Khi có niệm nghĩ đẹp xấu, cũ mới thì niệm vui buồn, khen chê theo đó tiếp nối, cho nên niệm  chồng niệm, tiếp nối không dừng.

    Để thấy đẹp xấu, khổ vui... là hai hình thức đối lập nhau, nhờ có cái xấu làm đối tượng nên cái đẹp mới hình thành, nếu không có cái xấu để so sánh thì cái đẹp không dựa vào đâu làm điểm tựa đối chiếu mà biết nó là đẹp được; ngược lại cũng vậy. Vì vậy, đẹp xấu là hai hình thái nương nhau có, thảy đều do tâm chấp mắc mà đặt định. Từ đây ta suy ra những việc thuận nghịch, phải quấy, được mất v.v... cũng lại như thế. Cho nên hết thảy các pháp chỉ là giả định, có như huyễn ảo đều do tâm dựng lập cả.

    Cũng là đối tượng đó và có đôi mắt như nhau mà một cách nhìn ý động, còn một cách ý không động. Mà ý động phân biệt là sinh diệt lúc có lúc không, còn phân biệt ý không động thì luôn luôn hiện hữu. Vì thế người có trí thấy chỉ thấy không ý niệm phân biệt. Nên có vị thiền sư nói: “Thấy sắc như mù, nghe tiếng như điếc” là vậy. Mù mà chẳng phải mù vì thấy biết rõ ràng. Điếc mà không phải điếc vì nghe tất cả tiếng, chỉ không khởi niệm so sánh đẹp xấu hay dở, phải quấy v.v… Nếu được như thế thì khi đối diện tất cả trần cảnh chúng ta mới có cái nhìn giữa mình và trần cảnh không còn cách khoảng, cái nhìn đó chỉ là nhìn mà không thấy ta là người đang nhìn, kia là cảnh sắc bị nhìn, chính khi ấy không có năng và sở.

    Thế nên trong kinh nói: “Bát Nhã vô tri, vô sở bất tri”. Nghĩa là Bát Nhã (trí tuệ) thì không có thấy biết so đo (không thấy có chủ thể và đối tượng), mà không chỗ nào là chẳng biết (hay rõ biết tất cả cảnh vật).

    Đó là nói căn mắt thấy sắc, còn các căn kia cho đến ý cũng vậy. Khi pháp trần có hiện khởi vẫn thấy biết rõ ràng, nhưng đừng có ý hòa theo, nó hiện khởi rồi tự lặng. Còn cái rõ biết sáng suốt không động luôn hiện hữu nên mới rõ biết được khi có niệm khi không niệm.

    Nên có bài:

    Khi ẩn khi hiện

    Không mời tự đến

    Không đuổi tự đi

    Như ma như quỷ

    Nhà người quậy phá

    Ta hằng rõ biết

    Không tiếp không đón

    Chẳng nói chẳng rằng

    Chúng tự hổ thẹn

    Lặng lẽ ra đi

    Không lưu dấu vết

    Cửa thì mở rộng

    Chẳng nói đón đưa

    Ta luôn hiện hữu

    Không lúc nào vắng

    Không tâm nơi vật

    Ngại gì vật chuyển

    Nếu người chuyển vật

    Là đại tu hành

    Luôn luôn tự tại.

    Nói chuyển là một lối nói, đã không tâm nơi vật thì nói gì là chuyển với chẳng chuyển !

    Người tu thiền là biết trở về sống với thực tại. Bởi vì quá khứ đã qua mà ta sống với quá khứ thì giống như người chết. Nếu hướng đến tương lai thì tương lai chưa đến, cái gì chưa đến mà cầu mong là chuyện không đâu, nó còn mờ ảo chưa biết ra sao, chưa chắc thật đúng như ý nguyện của mình, nhưng nếu có được chăng thì đó cũng là do phước duyên nhân lành những kiếp trước, nay quả đến nên thấy trùng hợp với ý tưởng. Còn hiện tại thì không dừng trụ, vì mới nói hai tiếng hiện tại thì nó trở thành quá khứ mất rồi. Nếu biết sống với hiện thực thì ngay cuộc sống đừng đắm nhiễm trói buộc liền đó giải thoát. Muốn được như thế thì phải không có tâm vọng cầu, tâm vẩn đục ích kỷ, tật đố, san tham, sân hận, si mê v.v... Mỗi hành động nào cũng phải tự chủ sáng suốt không bị ngoại cảnh chi phối hay những vọng niệm lừa gạt thì lúc đó mới được tự do tự tại. Cho nên trong kinh Lăng Nghiêm nói: “Biết, Thấy lập biết tức là gốc vô minh. Thấy, Biết mà không thấy đây tức Niết bàn”. Vì vậy con Đế Thính nói là Phật pháp vô biên, ngài Địa Tạng tỉnh ngộ liền chỉ qua Phật.

    Thế nên công năng của cả hai đều ngang nhau khó phân định được đâu là chân, đâu là ngụy, vì cả hai phát xuất từ tâm, cái thật thì biết cái giả, mà cái giả nương cái thật để lừa gạt. Để thấy có ý thức là còn tham vọng, tức còn ngã, nhân... tứ tướng hiện rõ. Thành thử trong tứ y có câu “Y trí bất y thức”, nghĩa là hãy nương nơi trí mà chẳng nương nơi thức. Nên có bài:

    Đêm đêm cùng chung ngủ

    Ngày ngày vẫn bên nhau

    Sớm tối chẳng tách rời

    Này nhé ! nhớ chớ quên

    Chỉ biết niệm (nhớ) hiện thực

    Đừng thêm niệm thứ hai

    Nếu có niệm thứ hai (tác ý)

    Hai đầu không thôi dứt.

    Bởi lúc chúng ta chưa thức tỉnh giác ngộ ý thức thường ở nơi sáu căn hay quấy rối. Như mắt thấy sắc liền phân biệt đây đẹp kia xấu, này dễ nhìn kia khó coi, tai nghe tiếng này hay, lời kia vụng, mũi ngửi đây hôi, kia thơm v.v... Nên chúng ta thấy có đủ thứ chuyện. Vì nó hoạt động theo bản năng tự ngã, cái nào hợp với bản ngã thì thích khen, còn không hợp lại chê. Đó là ý thức tượng trưng Tôn Hành Giả giả. Còn khi rõ được lẽ thật như thế thì cũng thấy biết rõ ràng tất cả mà đừng vọng động phân biệt so sánh, lòng định tỉnh thản nhiên trước mọi cảnh. Do đó thấy muôn pháp không có ngăn ngại nên nói chúng đều Như mà tâm mình cũng Như. Đó là trí tuệ. Nên có câu:

    Tâm như các pháp đều lặng lẽ

    Một niệm vừa sanh bị che lòa.

    Ta thấy trong truyện vì sao hai vị Bồ Tát lại không biết được đâu là Tôn Hành Giả thật và Tôn Hành Giả giả mà chỉ có Phật mới thấy rõ? Ở đây là nói về quả vị nơi Phật và Bồ Tát có sai biệt. Vì Phật là bậc toàn giác chỉ cho cái thể thanh tịnh sáng suốt như như bất động hiện hữu, thì khi ấy thức ở sáu căn tan biến mà trí tuệ luôn hiện diện (Tôn Hành Giả giả bị Tôn Hành Giả thật đánh chết). Còn hai vị Bồ Tát không phân định được là ý nói Bồ Tát còn biến dịch sanh tử (sanh tử biến đổi như chứng sơ địa phải xả bỏ để lần lần tiến lên đến quả vị Phật). Bồ Tát tuy đã thể nhận được pháp thân nhưng vì còn vô minh vi tế (ba hoặc), nên chưa thể nhập trọn vẹn với pháp thân, mà phải trải qua nhiều đời kiếp tiến tu, đến khi nào loại bỏ sạch hết nghiệp tướng vô minh, đức tánh đã tròn đầy thì thể nhập pháp thân trọn vẹn mới gọi là Phật. Bởi Bồ Tát do phá được một phần hoặc vi tế thì pháp thân tỏ sáng một phần nên cũng gọi là “Pháp thân Bồ Tát”. Do đó chỉ có Phật mới dứt sạch lậu hoặc và thấy biết rốt ráo gốc gác của vô minh. Và như ở hồi 78-79 cũng nói lên khi đã có trí tuệ thì rõ biết tất cả các thứ tâm thiện và bất thiện đều hư vọng. Đây xin lược dẫn một đoạn.

    ... Vua nước Tỳ Kheo bị Quốc trượng (yêu tinh hoá ra) làm mê hoặc sanh bệnh, nó bày phải lấy một ngàn trái tim trẻ con để làm thuốc trị cho vua. Vua nghe lời tin theo sai quan quân tìm bắt một ngàn đứa bé chuẩn bị sáng mai lấy tim. Khi mấy thầy trò Đường Tăng đi đến nghe dân chúng nói liền động từ tâm, nên đêm đó Tôn Hành Giả dùng phép cứu một ngàn trẻ đem ra khỏi thành. Hôm sau Tôn Hành Giả hóa làm con ong theo Đường Tăng vào yết kiến vua để đổi giấy thông hành. Đường Tăng đối đáp với vua và Quốc trượng một lúc rồi lui ra. Khi ấy có quan vào báo rằng một ngàn đứa trẻ đêm hôm đã mất tích. Nhà vua buồn và than thì Quốc trượng nói: “Xin Ngài đừng buồn đã có một thứ quí hơn một ngàn tim đứa trẻ, đó là tim của Hòa thượng vừa ra”. Nhà vua cho quan đi mời Đường Tăng đến để xin tim... Lúc Đường Tăng về, Tôn Hành Giả còn ở lại nghe Quốc trượng nói xin tim của Đường Tăng, vội trở về bàn với Đường Tăng nên đổi làm hình tướng của mình, còn Tôn Hành Giả biến làm Đường Tăng thì mới bắt yêu tinh được. Đường Tăng bằng lòng... Khi quan triều đến mời Đường Tăng thì Tôn Hành Giả biến làm Đường Tăng giả đi. Đến nơi nhà vua liền hỏi việc xin tim, Đường Tăng giả không ngần ngại bảo đem dao đến và nói: “Tôi có mấy thứ tim, vậy chớ Ngài cần tim nào?”. Quốc trượng đứng bên nói: “Ta cần tim đen của ngươi”. Đường Tăng giả cầm dao rạch bụng moi ra một đống tim, nhưng lựa không thấy tim đen mà chỉ thấy tim đỏ, trắng, vàng, tim gian lận, tim lợi danh, tim ghen ghét, tim so bì, tim hiếu thắng, tim mách khóe, tim cống cao, khinh rẻ, độc ác, sát hại, và các loại tim bất thiện v.v... Nhà vua quá hoảng sợ bảo thu vào. Đường Tăng giả thâu vào rồi hóa phép lành lại như cũ và nói: “Người tu hành như chúng tôi không có tim đen, duy có Quốc trượng của Ngài mới có tim đen, để tôi lấy dùm cho bệ hạ làm thuốc”. Yêu tinh nghe nói thế, nhìn kỹ Đường Tăng giả đã hiện rõ nguyên hình là Tôn Hành Giả, nên nó hoảng sợ hóa chạy...

    Lược dẫn một đoạn trên cho thấy, khi tâm còn mê mờ thì làm việc gì cũng làm theo bản năng của nghiệp, là tượng trưng cho yêu tinh, nên nó nói cần tim đen để làm thuốc, trong khi đó tim của yêu tinh lại là tim đen. Bởi tâm mê mờ đen tối thì hành động nào cũng trái với chánh đạo mà tự chẳng biết như tâm mách khóe, gian dối, độc ác, sát hại... các việc bất thiện. Nhưng khi đã phát sanh trí tuệ mới thấy rõ tất cả tâm thiện và bất thiện nó đang diễn biến, từ đó không còn lầm lẫn hành động theo những nhân bất thiện nữa. Vì thế nói Đường Tăng giả moi ra một đống tim thấy đủ các thứ tim.

    Ở đây cho thấy trí tuệ là cái rõ biết trong lặng thấy các pháp không lầm lẫn, phải có cái thấy này mới thấu rõ mọi lẽ thật hư của cuộc sống, để hóa giải những mê lầm theo bản năng của nghiệp từ bấy lâu nay. Nên nói yêu tinh khi thấy Tôn Hành Giả nó liền hóa chạy vậy.

     

  • 20. HỶ XẢ

    HỶ XẢ 

     

    Khi hành đạo đôi lúc nội tâm biến cbuyển do bị ức chế hay được an tịnh nhẹ nhàng đôi chút mà tâm hiện ra những cảnh giới lạ, hoặc là thấy cảnh giới Phật, thấy thân tướng Phật vàng sáng hoặc Bồ Tát hiện đến dạy bảo về Phật pháp v.v... Nếu không tỉnh giác sáng suốt thì sẽ bị những cảnh ấy làm mê hoặc, hay cho mình đã đến cõi Phật rồi sanh tâm vui mừng, ngã mạn, nên bị lạc lối không tiến đến giải thoát.

    Đây xin lược dẫn ở hồi 65 nói lên ý này.

    ... Mấy thầy trò đi đến chân núi thấy một tự viện trang nghiêm thanh tịnh. Khi đến gần thấy bảng hiệu là Tiểu Lôi Âm Tự. Đường Tăng, Bát Giới và Sa Tăng thấy vậy tưởng là đến Linh Sơn cõi Phật liền quỳ xuống lạy. Nhưng Tôn Hành Giả nhìn biết có hung khí nên nói với Đường Tăng “Nơi này lành ít, dữ nhiều, nếu có nạn thầy đừng trách con”. Đường Tăng không tin lời nên cùng Bát Giới và Sa Tăng vào chùa lễ Phật, còn Tôn Hành Giả thì đứng nhìn không lạy. Hòa thượng (do Yêu tinh hóa ra) thấy vậy quở Tôn Hành Giả. Tôn Hành Giả liền rút gậy giao chiến thì bị yêu tinh lấy nạo bạc vàng úp nhốt lại... Tôn Hành Giả dùng đủ thần thông và nhờ các Thần lập kế mới ra được... Tôn Hành Giả đi cầu viện Thiên binh hai lần đến đánh đều bị yêu tinh thâu hết vào bao vải, chỉ có Tôn Hành Giả biết trước nên thoát khỏi... Tôn Hành Giả đang ngồi than thở thì có người gọi liền nhìn lại thấy Bồ Tát Di Lặc, Tôn Hành Giả chào rồi nói việc của mình và hỏi Bồ Tát “Yêu tinh đó ở đâu? Còn bao vải của nó là bảo bối gì?”. Bồ Tát Di Lặc nói: “Nó là đồng tử giữ khánh cho ta, nhân ta đi khỏi nó ở nhà trộm lấy bảo bối, cái bao vải là túi Nhân Chủng, gậy Lang Nha là dùi đánh khánh”... Rồi Bồ Tát dùng kế nói với Tôn Hành Giả để bắt yêu tinh... Bồ Tát biến ra ruộng dưa, rồi vẽ vào lòng bàn tay Tôn Hành Giả một chữ Cấm bảo đến dụ yêu tinh chạy lại đây... Tôn Hành Giả đến động khiêu chiến rồi xoè tay ra, yêu tinh thấy chữ Cấm đánh đuổi theo đến ruộng dưa. Tôn Hành Giả liền biến ra quả dưa chín, yêu tinh theo đến nơi không thấy Tôn Hành Giả, lại gặp ông già giữ ruộng dưa (do Bồ Tát biến ra) nên đến xin ăn. Ông già hái trái dưa (do Tôn Hành Giả biến ra) biếu cho. Yêu tinh không biết nên nhận lấy ăn. Khi nuốt vào, Tôn Hành Giả hiện nguyên hình quậy trong bụng làm nó đau quằn quại. Bồ Tát hiện trở lại, yêu tinh thấy chủ liền đầu phục. Tôn Hành Giả biến ra khỏi bụng yêu tinh. Bồ Tát lấy bao vải thâu yêu tinh đem về...

    Đây nói hành giả nào tu khá lắm mới gặp những cảnh này.

    Lôi Âm là cảnh giới Phật đang ở, ý nói là tâm rỗng lặng sáng suốt. Còn Tiểu Lôi Âm là chỉ cho cảnh giới Phật do tâm tạm an định nhẹ nhàng mà vọng hiện ra cảnh giới ấy. Nếu không có trí tuệ sáng suốt thì sẽ bị ảo cảnh đó làm mê hoặc rồi dính mắc, cũng như Đường Tăng không biết Tiểu Lôi Âm là cảnh giới giả, lại không tin lời của Tôn Hành Giả đi vào lạy Phật nên mấy thầy trò bị ma bắt hết, chỉ có Tôn Hành Giả biết trước mới không bị nạn. Tôn Hành Giả thấy biết không phải Lôi Âm thật là vì đã có đến đôi lần xin cầu cứu lúc gặp nạn.

    Cũng vậy, trước đó giác ngộ nhận ra cái chân thật (lúc gỡ lá bùa Tôn Hành Giả ra khỏi núi) thì ý thức đã chuyển hóa thành trí tuệ, nên biết rõ cảnh giới hay trạng thái đó như thế nào rồi. Vì thế, trên đường hành đạo dù ai có nói hoặc chỉ cái gì là thật đi nữa người đó cũng không lầm. Một khi thể nhận cái chân thật rồi khó mà quên được. Chỉ có trí tuệ sáng suốt mới biết đâu là thật, giả, đâu là chân, ngụy, giống như Tôn Hành Giả chỉ đứng nhìn chứ không chịu lạy, vì biết cảnh đó chẳng phải Lôi Âm thật.

    Đọc truyện ta thấy Ngô Thừa Ân khéo dẫn truyện ghép ngài Di Lặc và ngài Bố Đại Hòa thượng vào đây. Xin nói sơ lược về hai Ngài.

    Đức Di Lặc là một vị Phật tương lai trong hiền kiếp sẽ nối tiếp Đức Phật Thích Ca ra đời giáo hóa chúng sinh.

    Trong kinh nói đức Di Lặc hiện là Bồ Tát ở cung trời Đâu Suất, chờ khi nào giáo lý của Đức Phật Thích Ca không còn trụ ở thế gian nữa thì Ngài mới thị hiện xuống làm Phật (vì ở thế gian không có giáo lý trùng lập của hai Đức Phật). Nhưng hiện giờ Ngài thường hay hóa thân trong mười phương thế giới thuyết pháp độ sinh.

    Còn ngài Bố Đại Hòa thượng ở Trung Hoa thuộc đời Ngũ đại nước Lương (có thuyết nói Ngài hiện thân là một Hòa thượng tại đất Minh Châu, huyện Phụng Hóa). Thân hình Ngài mập mạp, trán nhăn, bụng lớn, mọi người không biết tên họ là chi mà chỉ thấy Ngài thường mang theo cái túi vải lớn và cầm cây gậy, không khi nào Ngài rời hai vật ấy nên mọi người hay gọi là Bố Đại Hòa thượng.

    Thường khi Ngài đi vào thành thị hoặc thôn quê để xin ăn, hễ ai cho vật chi hay thức ăn Ngài đều nhận, khi ăn xong còn dư lại bao nhiêu đều bỏ vào túi vải, nên túi vải của Ngài đựng rất nhiều thứ. Khi đến nơi chợ quán, Ngài ngồi xuống mở túi vải lấy những đồ ăn dư đưa lên nói: “Các người xem coi đó là vật gì?”. Rồi kêu mấy đứa nhỏ cho nó.

    Ngài hay khôi hài và chỗ ngủ nghỉ không cố định, rày đây mai đó, lúc ở chùa, khi nhà đàn việt, lúc đầu chợ v.v... Mấy đứa nhỏ khi gặp Ngài ở đâu hay chạy theo trêu chọc, đùa giỡn và xin bánh... Nhưng Ngài đi đâu rồi cũng lại trở về chùa Nhạc Lâm trú ngụ. Khi có người hỏi Ngài có pháp hiệu gì không?

    Ngài liền đọc bài kệ:

    Ta có cái túi vải

    Rỗng rang không quái ngại

    Mở ra khắp mười phương

    Thâu vào quán tự tại.

    Lại hỏi thêm: “Hòa thượng đi đây có đem hành lý gì hay không?”

    Ngài đáp bài kệ:

    Bình bát cơm ngàn nhà

    Thân chơi muôn dặm xa

    Kẻ tri âm ít gặp

    Mây trắng hỏi đường qua.

    Ngài sống rất tự tại và tùy duyên hóa độ rất nhiều người. Sau một thời gian thì Ngài tịch có để lại một bài kệ:

     Di Lặc thật Di Lặc

    Phân thân ngàn trăm ức

    Thường thường chỉ dạy người

    Người đời tự không biết.

    Cho nên người sau nương theo bài kệ này mà nói hiện thân ngài Bố Đại Hòa thượng là hóa thân của ngài Di Lặc. Ở đây nói bảo bối yêu tinh là chỉ cho cái bao đãy của Bố Đại Hoà thượng, nên Tôn Hành Giả cầu viện bao nhiêu đều bị bảo bối bao đãy thâu hết. Bảo bối túi vải đó có tên là Nhân Chủng, tức là chỉ cho tạng thức khi còn mê chứa những nhân chủng tử thiện ác nhiều đời kiếp, cho nên ta thấy yêu tinh dùng nó thâu tất cả các binh tướng và vũ khí của Thiên đình. Nhưng lúc đã giác tỉnh hoàn toàn thì chuyển tạng thức trở thành Như Lai Tạng Tâm (Phật) luôn rỗng lặng sáng suốt trùm khắp không giới hạn, tự tại thong dong chẳng có chi làm chướng ngại, giống như bài kệ khi có người hỏi pháp hiệu của ngài Bố Đại hòa thượng vậy.

    Còn vẽ chữ Cấm trong lòng bàn tay Tôn Hành Giả là ý nói không được thâu vào, nhưng tạng thức thì luôn gom chứa, nên ta thấy yêu tinh rượt đuổi Tôn Hành Giả để thâu vào bao vải là ý này, mà yêu tinh không ngờ đó là kế của Bố Đại hòa thượng và Tôn Hành Giả lừa nó đến gặp chủ, để bắt lại nó. Còn cái nạo bạc vàng úp nhốt Tôn Hành Giả là cái bát của Ngài.

    Nếu lúc đầu chúng ta khởi tâm bằng lòng tham để tu thì dễ bị rơi vào những cảnh giới này, vì tu mà có tâm cầu mong mau chứng quả, mong thấy cảnh giới Phật v.v... Vì vậy khi mới phát tâm đừng bằng lòng tham, cũng đừng mong cho mau hết vọng, mong được giác ngộ, chỉ thấy rõ từng ý niệm máy động không hòa nhập theo thì từ từ nó tự lặng, tâm thể hiện bày. Thế nên, trong lúc công phu tâm được an định đôi chút, có những cảnh nào hiện ra phải sáng suốt mà bình thản an nhiên chớ chấp cho là thật, hãy điềm tĩnh cười khi thấy chúng thì những giả cảnh ấy tự tan biến. Hay trong kinh Pháp Hoa nói: “Khi tâm đã an định đó chỉ mới là Hóa thành, nên buông xả đừng trụ chấp để tiến đến Bảo sở”. Tức là thể nhận cái sáng suốt trong lặng linh hoạt mới được viên mãn.

    Bởi ngài Di Lặc hay ngài Bố Đại Hòa thượng là ngụ ý cho hạnh hỷ xả, nếu không hỷ xả thì sẽ bị vướng vào cảnh giới ma. Vì sao? Vì có sở đắc, do còn kẹt trên bốn tướng (ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả). Thế nên trong bài Bát Nhã Tâm kinh có câu “...Vì không có chỗ được nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa tâm không ngăn ngại, vì không ngăn ngại nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo mộng tưởng đạt đến cứu cánh Niết bàn...”. Bởi không có sở đắc nên mới cứu cánh rốt ráo là do hành hỷ xả. Vì vậy trong kinh Lăng Nghiêm nói có 55 thứ bậc tu chứng của các vị Bồ Tát, nếu không chịu hỷ xả lại an trụ nơi ngôi vị mình chứng đắc thì không thể nào tiến lên quả vị kế tiếp, chỉ khi nào đến quả Diệu giác mới cứu cánh viên mãn. Nhưng đã đến nơi rốt ráo rồi thì không còn thấy ngôi vị thứ lớp, cho đến những khái niệm về giác ngộ giải thoát và những sở chứng phải buông sạch hết, chỉ một trạng thái (một lối nói) trong lặng sáng suốt an nhiên vậy.

    Hình tượng ngài Bố Đại Hòa thượng mà chúng ta thường thấy miệng cười toe toét, chung quanh có sáu đứa bé trêu ghẹo đùa giỡn (có thuyết nói năm đứa là chỉ cho năm trần cảnh). Đứa thì thọc lét, đứa xỉa mắt, đứa móc tai, đứa xỉa mũi, đứa móc miệng… là hình ảnh tượng trưng cho sáu trần quấy nhiễu sáu căn, do biết hỷ xả chẳng vướng mắc nên thức không tác khởi, vì vậy lúc nào cũng thấy Ngài thản nhiên tươi cười không có phiền não.

    Trên thế gian này, đa số chúng ta đều bị những nghịch cảnh đưa đến làm cho không được vừa lòng như ý muốn, nên ít hay nhiều gì cũng bị đau khổ, do chúng ta không biết hành hạnh hỷ xả. Bởi vì hỷ là vui vẻ, là hân hoan phấn khởi. Còn xả là buông bỏ, không dính mắc đắm nhiễm.

    Hỷ xả có nghĩa là vui vẻ buông bỏ những ái nhiễm chấp trước trói buộc từ thân tâm cùng hoàn cảnh thuận hay nghịch đưa đến và vui xả bớt những cái sở hữu. Vì vậy hỷ xả có hai mặt.

    1- Là vui vẻ xả bỏ tiền tài vật chất. Nếu tài vật có dư dả hãy nên chan sớt giúp đỡ cho những người bần cùng khốn khổ hơn mình, trong khi họ lâm vào cảnh bế tắc không ai cứu giúp. Bởi đa số chúng ta có cái tật là hay nhìn lên chứ không chịu nhìn xuống. Vì sao? Vì nhìn lên thấy người ta giàu sang hơn mình, cứ ngóng trông làm sao để được như người giàu, có tất cả mọi thứ, do đó mãi lo tính làm ra tiền của thu vào cho thật nhiều, chứ không dám bỏ ra, nên ít khi vui vẻ buông xả. Nếu chúng ta chịu nhìn xuống một chút mới thông cảm thương người. Vì sao? Vì bởi mình có phước hơn những người nghèo túng thiếu. Tuy không giàu sang như người ta, nhưng lại không đến nỗi thiếu thốn. Còn thương người là vì họ thiếu phước hơn mình, họ bữa đói bữa no, gặp lạnh thiếu áo không đủ ấm, tật bệnh chẳng thuốc thang v.v... chúng ta hãy trải rộng lòng ra mà thương giúp tùy theo khả năng hiện có, đừng bủn xỉn ích kỷ, tuy của ít nhưng lòng nhiều. Và chúng ta cũng nên nhớ lại câu người xưa nói: “Mình ăn thì hết, người ăn thì còn”. Sâu sắc hơn nữa thì thấy ai có duyên với mình hãy chỉ bảo cho họ thấu rõ tường tận bản chất thân tâm của chính họ, và khuyên họ nên hành hạnh hỷ xả giảm ái chấp thân tâm để bớt khổ. Vì vậy muốn lập hạnh hỷ xả, bước đầu hãy vui vẻ xả bớt tài vật giúp người. Muốn vậy thì phải khởi lòng thương trước, mà lòng thương không vụ lợi mới có thể đem của dư đó giúp người không chút luyến tiếc, thì mới gọi là hỷ xả tài vật. Hơn nữa được giàu có sang trọng hiện đời hay đủ ăn, đủ mặc là do nhiều đời kiếp bố thí biết buông xả tài vật nên nay mới được hoàn cảnh sung túc đầy đủ như thế, chớ không phải ngẫu nhiên mà có.

    2- Là vui vẻ xả bỏ thân tâm. Hỷ xả tài vật tuy khó nhưng có thể làm được hơn là hỷ xả thân tâm. Ví như khi có người làm mình buồn phiền thì gương mặt (thân) liền ủ dột hay nhăn nhó bực bội. Tâm thì ôm ấp đeo mang chuyện người làm mình phiền giận, hoặc hoàn cảnh đưa đến làm không vừa lòng nên sanh tâm buồn khổ. Nếu không biết hành hạnh hỷ xả thì sẽ bị khổ đau từ đời này sang kiếp nọ, cho nên muốn hết buồn khổ phải vui vẻ mà buông bỏ tất cả. Nhưng hỷ xả bằng cách nào? Về phần thân thì phải xem nhẹ đừng coi trọng, khi có ai nặng lời thậm tệ thì hãy bỏ qua chớ có lớn tiếng trả đũa hoặc thô bạo dùng vũ lực hành hung. Hay thấy việc gì có lợi ích cho mọi người thì hãy đem công sức ra làm, tùy theo sức khỏe và khả năng của mình mà không tính toán kể lể công cán. Nói sâu xa hơn, phải xem thường xả bỏ thân này trong khi hành đạo, dù bất cứ mọi hoàn cảnh hoặc hình thức nào đến thử thách hãy cố gắng vượt qua. Còn phần tâm thì đừng cố chấp dính mắc những tư tưởng, hay ý kiến mình đề ra với mọi người trong cộng đồng cuộc sống, mà phải biết tôn trọng lẫn nhau để hài hòa cởi mở vui vẻ trong sinh hoạt. Vì tư tưởng, ý nghĩ là hư dối, tạm mượn dùng chứ nó không thật, phải biết thông cảm mà bỏ qua khi lỡ có bất đồng ý kiến với nhau hoặc những hoàn cảnh bất như ý có xảy ra hãy nên hỷ xả. Tóm lại muốn không còn buồn khổ thì phải thấy cuộc đời là vô thường tạm bợ, là duyên hợp tạm có, cuộc sống này chỉ là vay mượn. Mượn một ít không khí đem vào mà không trả ra, hoặc trả ra mà không mượn vào là đã qua đời khác. Cho nên cái chết nó gần kề như thế mà chẳng ai chịu lo thương giúp lẫn nhau. Nếu nghĩ cái chết cận kề như vậy thì hãy vui vẻ xả đi những gì làm mình phiền giận, khổ đau. Vì buồn phiền chỉ làm mình khổ chứ không ai có thể thay thế cái khổ đó cho mình được! Nếu không thì tự mâu thuẫn với chính mình. Vì sao? Vì ai cũng mong muốn vui sướng và đẹp xinh, vậy khi mình buồn giận thì gương mặt còn đẹp tươi chăng hay là ủ dột và lòng mình có vui vẻ thảnh thơi không? Do đó, hạnh hỷ xả không thể thiếu trong cuộc sống, nếu ai muốn khỏe vui và trẻ đẹp thì phải biết ứng dụng sẽ có lợi cho mình ngay hiện tại. Nhưng muốn được vậy tự thâm tâm phải phát huy trí tuệ thì thực hành mới không vướng mắc trên các pháp, lòng sẽ thản nhiên an ổn, giống như Tôn Hành Giả ở trong bụng yêu tinh thì nó mới không hành hung nữa. Còn dùng trí hời hợt bên ngoài sẽ không thể nào làm nổi, nếu có làm được đi chăng nữa thì cũng dễ bị phiền não khổ đau vì cố chấp dính mắc, giống như Tôn Hành Giả trước đó đánh không lại yêu tinh vậy. Vì thế hỷ xả có hai điều lợi:

    1- Vui vẻ mà buông xả cho nên không ái nhiễm chấp mắc, hành đạo dễ giác ngộ.

    2- Buông xả để được thảnh thơi, tức là do không chấp mắc ái nhiễm thì sẽ hết khổ được thanh thản bình yên.

    Vì vậy, khi có hạnh hỷ xả thì mọi chướng ngại ở nơi tâm hay ngoại cảnh đưa đến đều tan biến, lòng được an vui tự tại, chẳng khác nào yêu tinh khi thấy Bồ Tát Di Lặc liền chịu quy phục vậy.

    Ở hồi 91-92 cũng nói về ý này. Yêu ma giả làm Phật đến trộm dầu chùa Từ Vân, Đường Tăng cho là Phật thật nên quỳ xuống lạy bị ma bắt về động. Tôn Hành Giả tìm đến, nó đánh không lại chạy mất, Tôn Hành Giả hỏi Hộ pháp nên mới biết gốc trừ được.

     

     

     

     

     

    HẠNH ĐỦ QUẢ TRÒN

     

    Đến đây nói công hạnh sắp đầy đủ. Vì trước thể nhận  được nhân  giác ngộ rồi tiến bước  tiếp  tục hành   trình để đạt đến thành quả rốt ráo giải thoát hoàn toàn, tức là địa vị Phật.

    Trên bước đường hành đạo đã vượt qua nhiều sự chướng ngại do duyên ngoài và trong làm ngăn trở nên hành giả cảm nhận một trạng thái an lạc, thảnh thơi nhẹ nhàng, nhưng chưa thể nhập trọn vẹn bổn tâm (Phật quả), giống như còn một lớp mây trắng chắn ngang lối, phải cố gắng vượt qua. Đây xin lược dẫn ở hồi 98 để nói ý này.

    ... Mấy thầy trò Đường Tăng trên đường tiến bước bỗng gặp vị Đại tiên đi lại hướng dẫn đến dòng sông và chỉ lối qua chùa Lôi Âm... Song muốn đến chùa phải sang sông, mà trên dòng sông có cây cầu độc mộc không tay vịn, Đường Tăng và Bát Giới cùng Sa Tăng không dám qua, chỉ có Tôn Hành Giả là qua được... Do đó Đường Tăng bảo hãy tìm đường khác chứ đường này không thể đi được. Tôn Hành Giả liền nói: “Chính con đường này đây!”... Đường Tăng vội xoay mặt lại chợt thấy ở hạ lưu có người chèo thuyền tới... Mấy thầy trò đi đến bến thấy thuyền không có đáy, Đường Tăng sợ không dám xuống, Tôn Hành Giả thấy vậy liền thúc, đẩy mạnh sư phụ mình xuống, Đường Tăng do không gượng được nên ngã xuống nước, người chèo thuyền vớt lên mà thuyền vẫn nổi, rồi mấy đồ đệ cùng xuống thuyền. Đi ra được một đoạn, bỗng thấy ở trên thượng lưu có một cái xác người trôi xuống, nhìn kỹ ra là cái xác của Đường Tăng...

    Trích dẫn một đoạn trrên cho thấy dòng sông có hai bờ, mà bờ bên này chỉ cho khi mê, còn bờ bên kia chỉ sự giác ngộ.  Thành thử muốn đến cõi Phật phải qua được dòng sông, mà muốn sang bờ sông bên kia thì có hai cách: Một là phải qua cây cầu độc mộc không tay vịn. Cầu độc mộc rất khó đi, nếu ai qua được không cần phương tiện tay vịn thì đó là người xuất cách. Hai là dùng thuyền sang.

    1- Cầu độc mộc chỉ cho một con đường thẳng tắt duy nhất sang sông không có con đường nào khác. Thật vậy, khi đến trạng thái vọng niệm không còn thì phải qua con đường này để thể nhập tự tánh mới thành Phật, giống như khi đã đến Hóa thành thì duy nhất chỉ có một con đường đi thẳng đến Bảo sở. Cho nên Tôn Hành Giả nói với Đường Tăng chỉ có đường này chớ không còn đường nào khác.

        Cũng như các vị thiền sư khi có người đến hỏi đạo, các Ngài đưa ra một chiêu thuật (một câu hỏi hay một hành động nào đó) để xét nghiệm công phu của hành giả. Nếu hành giả nào biết kế sống (đã nhận ra Tâm chân thật) thì mới nhảy qua khỏi những chiêu thuật mà thiền sư đưa ra, còn không lãnh hội thì các Ngài chuyển phương tiện khác chỉ dạy hoặc đuổi ra ngoài, hay là bảo đến một vị khác tham học. Nhưng hành giả đã một phen thể nhận bổn tâm rồi, khi đi đến bất cứ pháp hội nào cũng đều vượt qua những cái bẫy mà các vị thiền sư đưa ra thì cũng giống như người đi qua được cầu độc mộc không tay vịn vậy.

    Như thiền sư Sở Nam ở núi Thiệu Khoảnh đến tham vấn ngài Hoàng Bá. Hoàng Bá hỏi:

    - Thế nào là trước khi ông chưa hiện hình bóng ở trong ba cõi?

    Sư thưa: Tức hiện nay đâu phải có?

    Hoàng Bá nói: Có không hãy gác lại, tức hiện nay thế nào?

    Sư thưa: Chẳng phải xưa nay.

    Hoàng Bá nói: Pháp nhãn của ta chính ở nơi ông. Đây là câu ấn chứng cho ngài Sở Nam đã thấy đạo. Theo như đoạn giai thoại đối đáp trên thì ngài Sở Nam đã qua được cây cầu độc mộc không tay vịn.

    Ở đây cho thấy, Đường Tăng vì còn thấy một chút tự Ngã nên không dám qua cầu độc mộc mới tìm con đường khác sang sông, thì Tôn Hành Giả đã khẳng định không còn con đường nào khác ngoài con đường này. Nhưng cũng có thể dùng một phương tiện khác để sang sông, đó là dùng thuyền. Vì thế khi Đường Tăng xoay đầu lại thì thấy ở hạ lưu có người chèo thuyền tới. Chỗ này phù hợp với câu “Hồi đầu thị ngạn”. Nghĩa là xoay đầu là đến bờ kia. Thật vậy, khi mê ta đắm say theo dục lạc xa bỏ cố hương nên càng bước càng xa. Nếu biết tỉnh giác hồi đầu thì cố hương trước mắt. Ví như trong nhà có ngọn đèn sáng chiếu ra sáu cửa, nếu xoay mặt hướng ra ngoài sáu cửa ta chỉ thấy cây cảnh bên ngoài chớ không thấy được ngọn đèn. Nếu xoay đầu lại thì thấy ngọn đèn sáng đang chiếu ra sáu cửa. Vì vậy trong kinh Lăng Nghiêm nói: “Nhất tinh minh sinh lục hòa hợp”. Một tinh minh chỉ cho Tâm chân thật sáng suốt, lục hòa hợp chỉ cho sáu căn. Cái chân thật đang chiếu sáng ra sáu căn khi tâm không ái nhiễm dính mắc sáu trần, thì đó là biết sống trở về với cái tinh minh.

    Ở hạ lưu có người chèo thuyền tới (chèo ngược nước) là ý nói người đang hành đạo phải có trí tuệ vượt qua mọi thử thách, cố vững tay lái vượt qua những sóng gió của nghịch cảnh và thuận cảnh để tiến đến mục đích giải thoát.

    Người chèo thuyền cặp bờ cho mấy thầy trò quá giang mà Đường Tăng cũng không dám xuống để sang sông vì thấy thuyền không đáy, Tôn Hành Giả bất thần đẩy Đường Tăng xuống thuyền nhưng do quá trớn đành lọt tõm xuống sông. Để thấy nếu không có Tôn Hành Giả thì chắc Đường Tăng không thể nào đến cõi Phật được. Cũng thế, chúng ta luôn luôn chấp tự ngã khó mà buông xả hoàn toàn để thể nhập trạng thái trong lặng rỗng suốt an lạc, nếu không có trí tuệ thúc đẩy thì không thể nào hỷ xả buông thân tâm huyễn ảo này được.

    Song, trí tuệ ở đây là trí tuệ Bát Nhã khác hẳn với trí tuệ mà người thế gian thường hiểu cho sự hiểu biết rộng, sự khôn ngoan lanh lợi thông thường, lại không biết đó chỉ là trí thức, mà trí thức thì do học hỏi suy luận so đo sanh ra. Còn trí tuệ Bát Nhã là cái trí thấy biết đúng như thật các pháp, các pháp như thế nào thì thấy đúng như thế ấy, thấy không sai lầm lệch lạc. Ví như thân và tâm là do hội đủ những yếu tố cần thiết hợp lại thành, tuy thấy chúng có nhưng chỉ là giả tướng không có cái thể chân thật. Nếu chúng có cái thể thật thì chẳng phải đợi duyên hội hợp, nên bản chất chúng vốn huyễn ảo hư vọng không trường tồn luôn biến hoại sanh diệt, diệt sanh chẳng dừng. Nếu thấu rõ thân tâm được như thế thì trên các pháp cũng có cái nhìn như vậy không khác. Nhưng chúng ta thì trái ngược lại, ái chấp bám mắc cho thân tâm là thật mình. Cái huyễn ảo hư giả mà bám chấp làm thật thì quả thật là mê lầm, cho nên Phật nói chúng ta điên đảo là thế. Tức là chúng ta nhìn đảo ngược không đúng với lẽ thật, vì vậy mà bị trầm luân khổ sở.

    2- Là dùng thuyền. Mà thuyền ở đây lại không đáy. Tại sao tác giả lại dùng thuyền không đáy? Thuyền không đáy thì làm sao sang sông? Con thuyền là phương tiện để đưa người qua sông, nhưng thuyền này lại không đáy mà vẫn nổi. Sao lạ vậy? Con thuyền đây là nói thuyền Bát Nhã. Xin mượn bài kệ của thiền sư Huệ Sinh đời Lý ở Việt Nam để nói lên ý nghĩa con thuyền này:

    Pháp gốc như không pháp

    Chẳng có cũng chẳng không

    Nếu người biết pháp ấy

    Chúng sinh cùng Phật đồng

    Trăng Lăng Già vắng lặng

    Thuyền Bát Nhã rỗng không

    Biết không, không giác có

    Chánh định mặc thong dong.

    Bởi tâm rỗng không mới thể nhập được pháp gốc ấy (Phật tâm), nên Ngô Thừa Ân viết “Thế mới thật là phép trí tuệ rộng lớn, đưa thầy trò Đường Tăng sang được cõi Phật”, và đoạn:

    Xương cốt phàm thai đã thoát thân.

    Tương thân tương ái một nguyên thần.

    Giờ đây hạnh đủ đương thành Phật

    Rửa sạch từ xưa hết bụi trần.

    Con thuyền là ý nói dùng phương tiện trí tuệ. Trí tuệ Bát Nhã là con thuyền để đưa chúng ta qua đến bờ giác ngộ giải thoát. Song ở đây Đường Tăng vì còn bám cái giả Ngã này chưa buông được nên thấy thuyền không đáy chẳng dám xuống, thành thử Tôn Hành Giả liền đẩy Đường Tăng xuống là ý này vậy.

    Đây cho thấy, nếu không có trí tuệ thúc đẩy thì khó tiến qua được, bởi còn Ngã nên nói ở bờ bên này là sinh tử chưa giải thoát. Do mê sống trong vô minh cứ chạy theo vọng tưởng chấp nó là mình, vì vậy nói bờ bên này chỉ cho thế gian. Còn dùng thuyền Bát Nhã sang bên kia là chỉ cho bờ giác ngộ xuất thế gian. Khi đã có trí tuệ không lầm vọng tưởng, không bị nó lôi kéo nên nói xa lìa bờ này để sang bên kia bờ giác ngộ. Nhưng sang bờ kia cũng không trụ nữa thì mới chẳng kẹt hai bên (vì bờ kia là đối với bờ này). Nếu thấy bờ kia khác với bờ này mà dính mắc nơi đó thì không được tự do tự tại.

    Cũng như phiền não gọi là chúng sinh, giác ngộ gọi là Phật. Bởi phiền não đối với giác ngộ. Do có chúng sinh nên có Phật đối lại, thấy có thế gian thật mới thấy có xuất thế gian. Nếu người đại trí tuệ (giác ngộ thấy rõ bản tánh) thì thấy không cần ra ngoài thế gian để tìm nhập Niết bàn, vì thấy không có Niết bàn ngoài sanh tử, chỉ biết do mê nên thấy có thế gian và phiền não, sanh tử. Nếu đã hết mê thì sanh tử hay thế gian đâu còn quan tâm nữa. Chúng cũng như những cảnh trong mộng do ngủ mê mà hiện. Chỉ một phen tỉnh giấc thì người và cảnh trong mộng sẽ tan biến. Khi đã hết mê mộng rồi thì nói gì rời bờ này sang bờ kia? Nên biết, nói có giác, có mê là một lối nói biểu thị cho người có khái niệm về mê, ngộ thôi. Phải biết rằng: “Biết rõ” mình mê, tức là đã giác rồi. Còn mê không phải mê cái gì khác mà  do “quên” cái giác. Có cái giác hằng hữu sẵn đây mà “không rõ biết” thì gọi là mê. Thành thử nói “bến mê, bờ giác” chỉ là trên “một dòng tâm” mà thôi, chẳng khác nào tỉnh giấc hay mê mộng cũng trên một thân này. Nên nói sang bờ kia mà trụ là còn bị kẹt pháp chưa được tự do, giống như mấy thầy trò Đường Tăng qua sông rồi mà còn dính mắc ở bờ thì chắc không đến Linh Sơn được. Vì vậy kinh nói: “Thế gian và xuất thế gian hai pháp đều bình đẳng không sai biệt”. Hoặc vô minh và trí tuệ cũng thế, tất cả chỉ là danh tự đối lập.

    Nếu chúng ta đối với tất cả chỗ không trụ thì ở nơi nào cũng được an lạc, cũng ở trong Niết bàn cả. Vì lúc nào cũng sống với bản tánh hiện hữu nên thấy các pháp không phải một, không phải khác, cuộc sống này chỉ cách nhau ở mê và ngộ mà thôi. Cũng một pháp mà người mê thấy đau khổ, còn người ngộ có cái nhìn khác nên cảm thấy không có gì là đau khổ. Do đó thiền sư Duy Tín có nói:

    1- Khi chưa gặp thiện trí thức thấy núi sông là núi sông.

    2- Khi gặp thiện trí thức thấy núi sông không phải là núi sông.

    3- Qua ba mươi năm sau thấy núi sông là núi sông.

     Bởi còn mê lầm chưa gặp được thiện trí thức ta thấy núi thật là núi, sông thật là sông. Đó là bị dính mắc, thấy các pháp thật có.

    Khi gặp thiện trí thức uốn nắn chỉ dạy cho ta thể nhận ra trí tuệ rỗng lặng trùm khắp từ xưa đến nay hằng thanh tịnh không dao động, nên khi đó thấy các pháp có là do tâm vọng động mà có, chúng không thực thể mà chỉ giả danh. Hay là dùng trí tuệ quán chiếu thấy các pháp do duyên hợp giả có, không thực thể cố định nên nói thấy núi sông không phải là núi sông. Nhưng đó là phương tiện để ta đến với đạo nhận định đúng lẽ thật là trí hữu sư (do học hỏi những lời dạy của người xưa để lại mà ứng dụng hành trì theo).

    Lại phải trải qua ba mươi năm sau do miên mật hằng sống với trí tuệ rỗng lặng không lúc nào rời, nên khi đối diện với các pháp tâm vẫn như nhiên. Hay do hành trì quán chiếu thuần thục, sống trọn vẹn với trí tuệ chính mình là vô sư trí. Do đó thấy lẽ thật các pháp không đắm nhiễm dính mắc, thấy núi sông chỉ thấy vậy, biết vậy mà không máy động khởi niệm có không, đẹp xấu v.v... cho nên nói thấy núi sông chỉ là núi sông.

    Việc này cũng giống như người muốn sang sông dùng thuyền để qua bờ kia thì lúc lên thuyền là Văn tự Bát Nhã (nương văn tự thấu rõ lý); dùng công sức bơi chèo là Quán chiếu Bát Nhã (hành trì khế lý); sang được bờ bên kia là Thật tướng Bát Nhã (đạt kết quả rốt ráo).

    Bởi Đường Tăng còn ở giai đoạn giữa phải nhờ trí tuệ hun đúc, để thấy thân năm uẩn này rốt ráo đều Không mới qua được bờ bên kia. Vì thế Tôn Hành Giả đẩy Đường Tăng trượt chân lọt tõm xuống nước, rồi vớt lên thuyền mà thuyền không đáy vẫn nổi. Khi Đường Tăng lên thuyền xong mới thấy thân xác mình trôi lềnh bềnh trên mặt nước. Đó là hình ảnh biểu trưng khi vượt qua  những  chướng nạn thì  không còn bám chấp cái Ngã giả tạm này. Từ đó mấy thầy trò mới vui mừng, vì thấy thầy mình vừa thoát xác để thành tựu đạo quả, tức là phải dứt sạch ái nhiễm chấp mắc thân tâm. Đến đây mới thật là cái quả vô ngã,

    ...Mấy thầy trò sang sông đến chùa gặp Phật. Phật bảo ngài Ca Diếp và ngài A Nan lấy kinh trao cho Đường Tăng. Hai Ngài dẫn mấy thầy trò đi xem Tạng kinh rồi nói: “Thánh tăng từ Đông thổ đến đây phải có ít nhiều lễ vật cho chúng tôi chứ ! Xin đưa đây mới giao kinh cho”. Đường Tăng nói: “Đường xa cách chưa sắm được”. Tôn Hành Giả nghe tức bực nói với Đường Tăng “Mình đi bạch Như Lai bắt họ phải mang kinh đến”. A Nan nghe được nói: “Đừng có ồn, ở nơi này mà còn bướng bỉnh điêu ngoa, lại đây mà nhận kinh !”... Nhận kinh xong từ biệt về, đi được một đoạn bị cơn gió lốc thổi làm sách kinh đều rớt xuống vứt tung tứ phía, mấy thầy trò đỡ lấy mở ra xem thấy toàn giấy trắng chẳng có chữ nào, nên mới trở lại xin đổi kinh có chữ... Khi đến gặp Phật Tổ, Phật Tổ nói: “Các ngươi ngày nay tay không đến cầu, cho nên họ mới đưa giấy trắng. Những bản giấy trắng đó là Chân kinh nên không có chữ, cũng là một thứ tốt”. Rồi Ngài gọi ngài A Nan và Ca Diếp lấy kinh có chữ đổi lại... Đường Tăng bảo Sa Tăng lấy bát vàng của vua Đường tặng trao cho ngài A Nan. Ngài A Nan lấy kinh có chữ giao cho Đường Tăng...

    Lược dẫn một đoạn trên cho thấy, đa số người đọc đều nói ở nhà Phật mà còn ăn hối lộ thật là một sự ngộ nhận sai lầm. Như trước đã nói, Ngô Thừa Ân dẫn và mượn những hình ảnh nhân vật trong truyện để nói lên ý nghĩa đạo lý Phật pháp, chớ chúng ta đừng chạy theo văn chữ mà đánh giá sai lạc, làm mất giá trị ý nghĩa mà tác giả muốn nói đến khía cạnh tâm linh. Thiết nghĩ, ông viết truyện vào thời xã hội phong kiến đời nhà Minh, do ông thấy việc triều chính thời đó bất công vì quan lại không liêm chính, nên mượn bối cảnh hiện tại để viết truyện nhằm đả kích châm biếm xã hội đương thời, chứ ông không có ý phê phán Phật giáo.

    Bởi vì kinh điển được kết tập lần thứ nhất sau khi Đức Phật nhập diệt vào mùa hạ năm ấy (có thuyết nói bảy ngày), ngài Ca Diếp làm chủ tọa mời 500 vị Thánh tăng đến để tuyên đọc lại những lời Phật dạy, rồi sau  này được ghi chép thành kinh điển lưu truyền cho hậu thế nương đó hành trì tu tập, mãi cho đến ngày hôm nay thế nhân vẫn còn tôn trọng quí kính. Còn thời ngài Pháp sư Huyền Trang là nhằm năm thứ hai niên hiệu Trinh Quán (628) đời nhà Đường. Để thấy thời ngài Ca Diếp và A Nan cách thời Pháp sư Huyền Trang hơn một ngàn năm. Cho đến khoảng thế kỷ thứ 16, Ngô Thừa Ân mượn việc ngài Huyền Trang sang Thiên trúc (Ấn Độ) học đạo thỉnh kinh để viết thành truyện Tây Du Ký, chớ ngài Ca Diếp và A Nan đã tịch lâu rồi.

    Vả lại, ngài A Nan là hoàng tử con của vua Bạch Phạn, Ngài đã từ bỏ hết tất cả những phú quí xa hoa nơi cung điện ở tuổi đồng niên theo Phật tu hạnh giải thoát. Còn ngài Ca Diếp cũng là một quí tử của vị trưởng giả hào phú đương thời nổi tiếng một vùng, Ngài bỏ hết tất cả phú quí vinh hoa để theo Phật tu hạnh đầu đà, không lẽ hai Ngài lại đi đòi chút ít lễ vật nhỏ mọn không bằng những cái mà hai Ngài đã lìa bỏ ở nhà hay sao? Ta thấy nếu hiểu theo văn nghĩa truyện thì thật là vô lý.

    Trong kinh nói cõi Phật là cõi an vui thanh tịnh sáng suốt không bợn nhơ. Như đoạn Ngô Thừa Ân viết:

    Ma hết quá nhiên sang đất Phật

    Tai qua nên thấy được Bồng Lai

    Tắm nhơ, rũ bụi, không gì vướng

    Tới gốc về nguồn rất thảnh thơi.

    Hay:

    Sóng gió mặc dù, thường vững chãi

    Trước sau chi kể, cứ thanh bình

    Bụi nhơ không bợn về riêng lối

    Đời kiếp yên vui mặc thỏa tình

    Không đáy con thuyền qua bể rộng

    Xưa nay tế độ khắp quần sanh.

    Đây cho thấy khi người đã sống được trí tuệ Bát Nhã thì dù cho mọi sóng gió của sự đời cũng không làm lay động tâm họ. Vì họ không còn kẹt hai bên được mất, khổ vui, trước sau…, cõi lòng không còn bợn nhơ mà thanh thản an nhàn, sống với cái chân thật đời kiếp yên vui thật là thỏa nguyện, nên họ dùng những phương tiện để tiếp độ tất cả chúng sinh như hai ngài Ca Diếp và A Nan vậy. Thế thì đâu còn mong cầu những vật mọn như cái bát vàng của Đường Tăng làm chi nữa.

    Đến đây ý ngựa đã thuần không còn bứt dây xổng chuồng, không còn ngó liếc hai bên, không cần chăn giữ mà nó vẫn an nhiên, tự do tự tại. Tâm vượn không còn nhảy nhót lung tung nữa mà nó đã ngủ rồi. Bao nhiêu chướng ngại gian nan đã chấm dứt, trong lòng không còn gì vướng bận nên nói hạnh đủ. Vì vậy, lúc Tôn Hành Giả vươn mình Ngũ Hành Sơn đổ ngã chỉ mới nhận nơi thân năm uẩn này có cái chân thật (bổn tâm) bất biến không sanh diệt - là cái nhân Phật, còn tới đây là đạt đến cái quả của năm uẩn không thật, thì mới cảm nhận trạng thái hoàn toàn an lạc thảnh thơi không vướng bận ở năm uẩn nữa.

    Bởi từ lâu do mê quên đi cái giác mà bị trầm luân thống khổ gọi là chúng sinh. Sau khi qua cơn mê đã tỉnh giấc trọn vẹn nên nói là giác, mà giác tức là Phật. Giác nghĩa là rõ biết cái mê từ xưa đến giờ do lầm lẫn. Thành thử giác với mê cũng cùng trên một tâm mà thôi, biết chuyển hóa mà có cái nhìn khác biệt hơn thế gian, vì thế nói ở đâu cũng là nhà, ở đâu cũng có mình. Khi đến đây rồi cùng hòa tất cả mọi loài hát khúc khải hoàn trên mảnh đất quê hương bất diệt.

    Khi tâm bất bình thường thấy tất cả pháp đều thật có gọi là thế gian. Nhưng khi đã dứt hết tâm bất bình thường thì không thấy có thế gian để ra gọi là tâm bình thường. Do nhìn các pháp với tâm bình thường nên không bị dao động, đắm nhiễm. Ở ngay thế gian đầy cấu uế đau khổ này mà vẫn an nhiên thanh thản không gì vướng bận nên nói là xuất thế. Xuất thế mà không thấy có xuất thế gì hết. Đó là điểm then chốt của các bậc tác gia trong thiền môn, ở ngay trong trần không bị nhiễm dính bụi trần, hằng giúp độ tất cả chúng sinh, mà không thấy có Niết bàn để trụ, vì thấy nơi nào cũng là Niết bàn, do vậy nhìn nơi nào cũng thấy đẹp, ở nơi nào cũng thấy an lạc, giống như đoạn mấy thầy trò Đường Tăng sang đến cõi Phật, Tôn Hành Giả nói: “Mừng cho thầy mình vừa thoát khỏi phàm thai tục cốt” và thưa với Đường Tăng thử xem những cảnh vật, cỏ, hoa, tùng, trúc, hạc, hươu v.v... trước mặt đây, so với những nơi yêu tà biến hóa ra, đâu đẹp đâu xấu, đâu thiện đâu ác…? Đường Tăng liền khen khôn xiết.

    Đoạn ngài Ca Diếp và A Nan đòi lễ vật là do Đường Tăng còn giữ cái bát vàng. Vì cái bình bát là vật tùy thân của người tu sĩ nên Đường Tăng vô cùng quí trọng, và vàng là một loại rất quí báu, kế đó được vua ban tặng là một vinh hạnh lớn nhất trong đời người. Cũng vậy, đối với người hành đạo khi tâm còn lăng xăng bất an nên mong muốn làm sao cho tâm được an định, đó là cái quí nhất giống như người đời quí vàng và được vinh hạnh vậy.

    Ở đây bát vàng là tượng trưng cho sự an định, bởi Đường Tăng còn giữ cái bát vàng là nói rằng tâm còn kẹt Pháp. Nhưng khi đến chỗ rốt ráo tột cùng thì Pháp cũng phải xả bỏ mới thể nhập được Tâm Kinh. Vì ở đoạn trước Đường Tăng thấy xác mình trôi lềnh bềnh trên sông là Ngã Không mà chưa thấy Pháp Không. Cũng như vị A La Hán tâm được an định, cho chỗ an định đó là Niết bàn rồi an trụ, nên nói là còn kẹt Pháp (thấy có Niết bàn thật để trụ) chớ chưa nhận ra Bổn tâm linh giác (tâm kinh). Nên trong kinh Kim Cang có câu “Pháp còn phải xả huống là phi pháp”. Lại nữa, thiền sư Phổ Chiếu có dùng một danh từ để ám chỉ cho Tâm chân thật là “Bát không đáy”. Bởi vì cái bát là vật dụng để chứa đựng thức ăn mà lại không đáy thì đâu chứa được những gì trong ấy. Ý nói rằng trong Tâm chân thật luôn rỗng rang không có một vật nào nên tượng trưng là Bát không đáy. Những gì bỏ vào Bát không đáy đều lọt rớt hết, nghĩa là buông sạch hết những gì dính mắc, dù đó là tâm an định, là Niết bàn tịch tịnh. Cho nên có giai thoại giữa vua Đường Túc Tông hỏi Quốc sư Huệ Trung nói về ý này:

    -         Thầy được pháp gì?

    -         Bệ hạ có thấy một mảnh mây trong hư không chăng?

    -         Thấy.

    -         Nó do đóng đinh mắc hay cột dây mắc?

    Qua sự đối đáp trên cho chúng ta thấy, chỉ không dính mắc tất cả thì tự tại thong dong giống như áng mây trong hư không vậy. Và ông tú tài Trương Chuyết khi ngộ đạo có làm bài tụng thế này:

    Quang minh tịch chiếu khắp hà sa

    Phàm thánh hàm linh vốn chung nhà

    Một niệm chẳng sanh toàn thể hiện

    Sáu căn vừa động bị che lòa.

    Phá trừ phiền não càng thêm bệnh

    Tìm đến chân như ắt cũng tà

    Tùy thuận các duyên không chướng ngại

    Niết bàn sanh tử thảy không hoa.

    Niết bàn tuy quí nhưng phải biết buông xả đừng dính mắc mới là cái quí tối thượng. Cũng như tâm được an định là quí, nhưng cứ mải miết an trụ trong đó sẽ trở thành trói buộc, cho nên nói ngài A Nan đòi lễ vật là ý này vậy.

    Đã đến chỗ chân thật rồi Ngã và Pháp phải đều không, nếu còn giữ một pháp tức chưa rốt ráo. Cho nên ngài Hương Nghiêm có làm bài kệ:

    Năm xưa nghèo chưa thật là nghèo

    Năm nay nghèo mới thật là nghèo

    Năm xưa nghèo vẫn còn có đất cắm dùi

    Năm nay nghèo dùi cũng không.

    Lúc thỉnh kinh ngài Ca Diếp và A Nan nghĩ rằng Đường Tăng trong lòng không còn vật gì do đó hai Ngài mới lấy kinh không chữ trao cho, thế mà mấy thầy trò nhận không một ai biết gì cả, đến khi mở kinh ra xem thấy toàn giấy trắng không có chữ mà cũng chẳng thể hội nên mới trở lại đổi kinh có chữ. Ý nói rằng, bởi Đường Tăng còn giữ cái bát (như đã nói ở trên) nên không thể nhận được kinh Vô tự vậy.

    Đây nói kinh không chữ là kinh gì vậy? Kinh gì mà lại không có chữ thì làm sao đọc tụng hành trì? Thật vậy, kinh không chữ mới là kinh tối thượng, là kinh truyền ngoài giáo lý, đó là Tâm Kinh hay Chân Kinh.

    Đây cũng giống như giai thoại giữa ngài Ca Diếp ngộ đạo nơi Đức Phật, gọi là “Niêm hoa vi tiếu”. Xin lược dẫn.

    Hôm nọ, Phật ở trong hội Linh Sơn tay cầm cành hoa sen đưa lên, cả trong hội chúng đều ngơ ngác, chỉ có ngài Ca Diếp đắc ý chúm chím cười. Phật bảo: “Ta có chánh pháp nhãn tạng Niết bàn Diệu tâm, pháp môn mầu nhiệm, chẳng lập văn tự, truyền ngoài giáo lý, nay giao phó cho ngươi. Ngươi khéo gìn giữ chánh pháp này truyền trao mãi đừng cho dứt….”.

    Bởi chân kinh là kinh không thể dùng văn tự, ngôn ngữ diễn đạt đến được, chỉ thầy với trò thầm hợp, khế hội nên thầy ấn chứng và truyền pháp cho để nối tiếp sau này, giống như ở hồi 93 Tôn Hành Giả thấy Đường Tăng than thở mới nói: “Thầy đã quên bản Tâm Kinh của thiền sư Ô Sào chỉ dạy rồi!”.

    Đường Tăng: “Bát Nhã tâm kinh là chân truyền tùy thân làm sao ta quên được”.

    Tôn Hành Giả: “Thầy chỉ biết đọc mà không biết giải nghĩa”.

    Đường Tăng: “Sao bảo ta không giải nghĩa được. Vậy con có giải nghĩa được không?”

    Tôn Hành Giả: “Con giải được”.

    Rồi hai thầy trò không ai nói năng gì nữa... Còn Bát Giới và Sa Tăng lại chê trách Tôn Hành Giả... nên Đường Tăng nói: “Văn giải của Ngộ Không là thứ văn không nói ra lời, đó mới là giải đúng”.

    Chúng ta nên biết, cách đối đáp giữa hai Thầy trò Đường Tăng ở đây là một hình thức biểu thị cho người có khái niệm về Tâm Kinh thôi, chớ tất cả văn tự không thể nào nói đến chỗ cứu kính Tâm Kinh. Tâm Kinh là nói lên chỗ Bất Nhị  không còn chấp mắc hai bên, phù hợp với trong kinh Duy Ma Cật. Sau khi các vị Bồ Tát trình cái thấy của mình về “pháp môn không hai” xong, thì ngài Bồ Tát Văn Thù hỏi Duy Ma Cật hãy nói về cái thấy của ông. Ông Duy Ma Cật im lặng không nói. Ngài Văn Thù khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Cho đến không có văn tự ngôn ngữ, đó mới thật là vào pháp môn không hai”. Và ở đây cũng nói lên chỗ Đức Phật thuyết pháp 49 năm mà không nói một lời nào, đó là chỗ Bất khả thuyết, Bất khả tư nghì. Vì thế thiền sư Đức Sơn nói: “Tông ta không ngữ cú, không một pháp dạy người” là vậy. Hay thiền sư Lâm Tế nói: “Ta không có một pháp để chỉ dạy người, cốt vì họ nhổ đinh tháo chốt thôi”.

    Ta thấy kinh không chữ là kinh chỉ thầy và trò thầm hội mới cảm thông được, nên gọi là truyền tâm hay ấn tâm. Còn trò không hội buộc vị thầy phải dùng phương tiện khác để chỉ dẫn cho trò nương đó mà thầm hội.

    Người xưa đã sáng tỏ được việc của mình và thấu rõ muôn pháp, nên dùng bao nhiêu phương tiện (kinh luận) để diễn đạt lại lẽ thật sự vận hành của các pháp cho chúng ta sau này có khái niệm về nó. Sự vận hành các pháp và thân tâm của con người xưa nay nó đã như vậy chớ không thay đổi gì khác, tại chúng ta mê lầm, không thấy được lẽ thật để bao đời kiếp phải lang thang. Nếu muốn biết rõ về việc này thì hãy nương những phương tiện ấy mà xoay lại chính mình để có cách nhìn khác hơn, thầm cảm nhận thấu đạt lý lẽ trong ấy chớ đừng theo chữ nghĩa văn tự sẽ không thấy được những gì các Ngài muốn chỉ bày. Tuy nhiên văn tự ngữ ngôn trên kinh luận rất cần cho những người sơ cơ mới vào đạo, nhưng phải biết đó là phương tiện diễn đạt về diệu nghĩa lẽ thật của muôn pháp chớ không thể nói đến được diệu nghĩa, dù ta có học hiểu thấu đáo đi nữa thì đó cũng chỉ là trí hữu sư mà thôi (do nhờ phương tiện bên ngoài mà được), vì ngữ ngôn diễn đạt cho chúng ta có khái niệm, chớ tự ta chưa chứng nghiệm thấu suốt lẽ thật muôn pháp. Vì vậy, ngài Đức Sơn thấy biết bao người hành đạo đã lầm về việc này mà tự cột trói dính mắc, nên Ngài không ngại sợ tội lỗi với Phật, Tổ, vì hạng người ấy mà không tiếc lời nói ra những câu như là phỉ báng Phật pháp, nhưng thật ra Ngài thương họ nên mới làm vậy, chớ không có chê bai, khinh rẻ Phật, Tổ và mạt sát kinh luận, như Ngài nói: “Đạt Ma là ông già Hồ tanh hôi, Bồ Tát Thập địa là kẻ gánh phẩn, Đẳng giác và Diệu giác là kẻ phàm phu phá giới, Bồ đề Niết bàn là cây cọc cột lừa, mười hai phần giáo là bộ sổ của quỷ thần, là giấy lau ghẻ, Tứ quả Tam hiền sơ tâm thập địa là quỷ giữ mồ xưa, tự cứu được chăng? Phật là cục phân của ông già Hồ (Ấn)”. Ngài nói những lời quá đáng như thế là bảo chúng ta đừng bám chấp vướng mắc trên danh tự chữ nghĩa, cho đến sự hiểu biết trên kinh luận và những khái niệm về giác ngộ, về giải thoát v.v... Do vậy mà Ngài khuyên “Các ông chớ cuồng ! Khuyên các ông không gì hơn thôi hết đi, vô sự đi. Tâm vừa khởi một niệm là quyến thuộc nhà ma, là kẻ tục phá giới”. Ngài khuyên dạy chúng ta thật nhiều, nhưng ở đây chỉ lược ít đoạn vậy.

    Lúc mấy thầy trò đến nhận kinh, được trao cho chân kinh tối thượng mà không biết thì cũng như chẳng hội, nên khi mở kinh ra xem không thấy chữ liền hoảng trở lại để đổi kinh có chữ là phương tiện dẫn dắt.

    Thật trớ trêu Ngô Thừa Ân viết: “Các ngươi ngày nay tay không đến cầu, cho nên họ mới đưa quyển trắng. Những bản giấy trắng đó là Chân-kinh không có chữ, cũng là thứ tốt”. Chỗ này phù hợp với bài kệ của ngài Lục Tổ nhờ người viết ở hành lang chùa:

    Bồ đề vốn không cây

    Gương sáng cũng không đài

    Xưa nay không một vật

    Chỗ nào dính bụi bặm.

    Bởi vì trong tâm Ngài đã không một vật (tay không) nên khi canh ba vào thất Ngũ Tổ giảng kinh Kim Cang đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, thì Ngài mới thể nhận Tâm kinh. Hay có vị tăng hỏi thiền sư Tuyết Phong:

    - Hòa thượng ở chỗ ngài Đức Sơn được pháp gì mà về đây dạy người?

    Ngài Tuyết Phong đáp:

    - Ta khi xưa đi tay không, về tay không.

    Thật vậy, Chân kinh (chân tâm) phải là tay không mới cầu được. Vì sao vậy? Vì trong lòng không còn một vật thì mới thể nhận tâm kinh. Không còn vật đây có nghĩa là trong tâm chẳng còn một dấy động nào thì mới thể nhập tự tánh sáng suốt an định (tâm kinh). Nếu còn chao động lăng xăng thì không thể nào nhận biết. Hay chỉ mới an định rồi dừng trụ ở đó mà không chịu nhảy khỏi (buông xả) thì chẳng thể nào nhận ra tự tánh bất sinh bất diệt. Vì thế hai ngài A Nan và Ca Diếp mới đòi lễ vật, nếu có thì đem ra hết mới lãnh kinh. Thế mà Đường Tăng chẳng biết nói không có, hai Ngài mới đem kinh không chữ giao cho vì nghĩ rằng trong lòng Đường Tăng không còn vật. Ai dè Đường Tăng còn giữ cái bát nên không hội được kinh không chữ mới trở lại đổi kinh có chữ. Do đó hai Ngài đem kinh có chữ ra đổi. Đường Tăng bảo Sa Tăng lấy bát vàng dâng cho ngài A Nan. Đến đây mới là Pháp Không, mới thể nhập được kinh vô tự (Tâm chân thật). Bởi Ngã và Pháp đều Không thì mới thấy ở nơi nào cũng là Niết bàn (Vô trụ xứ Niết bàn). Có như thế làm lợi ích cho chúng sinh mà không thấy có bốn tướng (ngã, nhơn, chúng sinh, thọ giả), do không có chỗ trụ và dính mắc. Cũng như Đường Tăng buông bỏ không giữ cái bát vàng nữa là chẳng còn chấp Pháp (không dính mắc nơi an định). Bởi không còn kẹt Pháp mới an nhiên tự tại làm lợi ích cho chúng sinh được, giống như Đường Tăng đổi kinh có chữ trở về Đông thổ để làm lợi ích cho nhân sinh vậy.

    Bởi phàm phu trong lòng còn tham, sân, si v.v... nên không thể nhận được kinh không chữ, mới cần kinh có chữ nương đó đọc tụng hành trì để sửa đổi, chuyển hóa tâm ái chấp dính mắc cho nó được trong sạch. Vì vậy kinh có chữ là phương tiện dẫn dắt những người khi tâm còn chao động lăng xăng bất an, để họ nương theo đó tu hành cho tâm được an định sáng suốt như nguyên sơ.

    Ngài Ca Diếp ngộ tâm kinh từ nơi Phật truyền ngoài văn tự, nên Ngài mới bảo Đường Tăng nếu có mang lễ vật thì đem ra để trong lòng được sạch (ý nói buông xả tất cả dù là một chút khái niệm về giác ngộ giải thoát, cho đến Niết bàn cũng chẳng dính mắc nữa), cho nên nói Ngài lấy kinh không chữ trao cho Đường Tăng. Còn kinh có chữ là khi Đức Phật nhập diệt, ngài Ca Diếp cùng các Thánh chúng tụ họp mời Ngài A Nan đọc lại những lời Phật dạy và sau này mới ghi chép để lại cho hậu thế, nên kinh có chữ được lưu truyền đến ngày nay. Đó là nói lên ý nghĩa ngài A Nan giao kinh hữu tự. Vả lại, khi người đã thể nhận và sống được với chân tâm rỗng lặng sáng suốt rồi vì người lập phương tiện nói ra những lời hay các hành động đều phù hợp với lời Phật ý Tổ, người sau nương theo phương tiện đó mà hội nhận cái trong lặng sáng suốt nơi chính họ, nên cũng gọi là kinh hữu tự.

    “Sau đó, mấy thầy trò lãnh kinh xong, trên đường về đến dòng sông gặp lại con Rùa lúc trước có nhờ Đường Tăng hỏi Phật dùm một câu về hậu sự của nó, nay nó nói để đưa dùm mấy thầy trò sang sông. Khi đến giữa dòng, Rùa hỏi: “Trước nhờ thầy hỏi Phật dùm một việc, nay xin thầy nói lại lời của Phật giải cho!”. Đường Tăng vì việc thỉnh kinh nên quên đi lời hứa. Rùa không được lời giải chẳng chịu đưa đến bờ, bèn lặn xuống khiến mấy thầy trò chơi vơi giữa dòng sông và tất cả kinh điển cùng hành lý đều bị ướt hết. Khi bơi được vào bờ, thầy trò đem kinh ra phơi, vì ướt quá khi phơi khô kinh bị dính dưới đá, lúc lấy lên sắp xếp lại đã làm rách mấy tờ cuối. Đường Tăng hối hận trách mình không gìn giữ cẩn thận. Tôn Hành Giả cười nói: “Không phải thế! Trời đất còn chẳng trọn vẹn. Bộ kinh này trước trọn vẹn nay bị dính rách đó là việc huyền diệu, sức người giữ thế nào được (hồi 99).”

    Như vậy kinh đã mất mấy tờ sau, nên nói có thủy mà không chung. Vì ở thế gian này làm việc gì có thủy phải có chung mới đạt kết quả, còn có thủy mà không chung thì làm sao đạt được? Cũng vậy nếu chúng ta dùng kinh có chữ hành trì đọc tụng nhưng không nhận được ý nghĩa của kinh chỉ dạy để thực hành, lại đọc tụng mong cầu giải thoát thì giống như có thủy mà không chung vậy.

    Cũng như trong kinh Pháp Bảo Đàn nói ngài Pháp Đạt đọc tụng kinh Pháp Hoa suốt 30 năm lấy đó làm công khóa, nhưng chẳng hiểu nghĩa thì suốt đời cũng không giác ngộ giải thoát. Sau lại may mắn gặp được Lục Tổ khai thị nên Pháp Đạt mới tỉnh ngộ nói: “Từ trước đến nay đã bị kinh chuyển không thấy được ý nghĩa, ngày nay đến Tào Khê chỉ nghe một câu liền quên. Từ nay mới bắt đầu chuyển kinh”.

    Kinh có chữ chỉ cho phương tiện, giống như ngón tay chỉ mặt trăng, muốn thấy mặt trăng thật thì phải nương theo ngón tay chỉ mà nhìn mặt trăng ở trên không trung, nếu nhìn ngón tay hoài thì không thể nào thấy mặt trăng thật được. Nên kinh Kim Cang nói:

    Nếu lấy sắc thấy Ta

    Lấy âm thanh cầu Ta

    Người ấy hành đạo tà

    Không thể thấy Như Lai.

    Bởi vì chữ nghĩa ngữ ngôn là sắc tướng. Còn Như Lai đây là thật tướng vô tướng, phải khéo nương cái hữu tướng để nhận ra thật tướng vô tướng kia, ấy mới gọi là người thật có trí tuệ. Thành thử kinh có chữ phải có thủy có chung, nếu có thủy không chung là không trọn vẹn, giống như ngài Pháp Đạt tụng kinh chấp làm công khóa mà không nhận được ý kinh vậy.

    Còn chân kinh là kinh không chữ, bởi không chữ nên nó vô thủy vô chung. Vả lại, trong cuộc sống thế gian là tương đối, nào là thương ghét, hơn thua, phải quấy, âm dương, sinh tử v.v... thì làm gì có trọn vẹn. Mà trong cái tương đãi đó có ngầm ẩn một cái chân thật tuyệt đối chưa từng bị thay đổi luôn hiện hữu. Nếu khéo thể nhận lý lẽ này và sống được với cái chân thật hằng hữu đó thì ngay trong cuộc sống tương giao này không bị chi phối bởi những thứ đối đãi trên, cho đến cái danh từ tuyệt đối cũng không thật. Có thế mới gọi là trọn vẹn.

    Ở thế gian không có trọn vẹn mới dùng kinh hữu tự, còn nếu trọn vẹn thì chắc không có đến Tây phương gặp Phật thỉnh kinh, mà cũng chẳng có Tây phương và Phật cùng kinh để thỉnh nữa. Vả lại, cũng nói lên tất cả tướng ở thế gian đều bị định luật vô thường làm biến đổi đến hoại diệt thì làm sao được như ý con người đây! Cho nên không thể nào hoàn toàn trọn vẹn. Trong kinh có nói: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” (ở thế gian cái gì có tướng đều là hư vọng). Vì thế Tôn Hành Giả nói đó là việc huyền diệu vậy.

  • 21. ĐƯỜNG TĂNG(TAM TẠNG)

    ĐƯỜNG TĂNG 

    (TAM TẠNG)

     

    Hình ảnh Đường Tăng ở đây là biểu trưng cho thức thứ tám, thức này làm chủ cả bảy thức nên trong truyện diễn đạt là thầy của Tôn Hành Giả, Sa Ngộ Tịnh, Trư  Ngộ Năng và Long Mã.

    Thức này có nhiều tên gọi, nhưng ở đây chỉ nêu lên vài danh từ đại diện cho thức thứ tám và nói sơ lược qua. Nếu muốn biết rõ hơn thì xin xem Duy Thức Học. Thức thứ tám có nhiều tên là do có nhiều luận chủ đặt ra, hơn nữa có nhiều tên gọi khác nhau là vì thức này quá sâu rộng, mỗi tên làm nổi bật mỗi khía cạnh trong một giai đoạn ở địa vị tu chứng hay còn là phàm phu mà hành tướng của nó đã thay đổi chẳng giống nhau, nên tên của nó theo đó thay đổi, mỗi tên chỉ nói lên vài đặc điểm của nó như là:

    1-A lại da thức: Trung Hoa dịch là Tàng Thức hay còn gọi là Tạng Thức, tức là cái thức bao hàm chứa dựa tàng trữ, gìn giữ những chủng tử các pháp từ tinh thần lẫn vật chất không hư mất và cũng là nơi xuất sanh ra các pháp. Nó cũng như là kho chứa nhóm những chủng tử thiện ác từ ngoài đem vào gìn giữ mà trong nhà Phật gọi là “Hiện hành huân chủng tử”. Đến khi rảnh rỗi không làm việc chi (ngồi chơi hay tọa thiền) hoặc là trong giấc ngủ mộng thì các chủng tử đã đem vào kho lại hiện ra (pháp trần) hay khi đối diện trần cảnh liền nhớ biết rõ ràng rồi ý tiếp tục dính mắc duyên theo những cảnh đó mà cảm thọ, nên vọng động, vọng tưởng cứ tiếp nối gọi là “Chủng tử khởi hiện hành”. Nên kinh Lăng Già nói: “Thức thứ sáu cùng thức thứ tám làm nhân, và thức thứ sáu với thức thứ tám làm duyên nên thức thứ bảy có khởi. Vì thức thứ sáu nương sáu căn hướng cảnh giới ngoại trần vọng có phân biệt, làm cho tàng thức mê thêm nên thức thứ bảy đồng thời chung khởi chấp ngã và chấp pháp. Thế mới biết do nhân duyên tương tục nên các thức đồng có”.

    Ví như người thích chơi hoa hồng. Một hôm đến vườn bán hoa thấy một chậu hồng thật vừa ý, ngắm nghía mãi mà không có đủ tiền mua rồi đi về. Hôm sau đến mua thì chậu hoa ngày qua không còn vì người chủ đã bán, nên họ chỉ một chậu hoa khác, khi xem rồi nói: “Chậu hoa này không đẹp bằng chậu hôm qua”.

    Khi ta thấy chậu hoa hồng là căn trần tiếp xúc; thật vừa ý là ý thức phân biệt so sánh thấy đẹp hơn các chậu hồng khác; trầm trồ mà không có tiền mua đi về là đã thọ nhận, nên hình ảnh chậu hoa đã đưa vào tạng thức. Đó là hiện hành huân chủng tử.

    Hôm sau ta đến mua thì tìm không thấy chậu hoa ngày qua, là do hình dung lại hình ảnh chậu hoa hôm qua thì tìm không thấy, tức là chủng tử khởi hiện hành. Lại nhìn chậu hoa khác, ta liền đem hình ảnh chậu hoa hôm qua trong tạng thức ra so sánh chậu hiện tại, mà nhận định cho là chậu hoa hiện tại không đẹp bằng chậu hoa hôm qua, ấy là ý thức duyên theo chủng tử khởi hiện hành để cảm thọ mới có so sánh với cảnh hiện tại. Đây là nói trạng thái tâm thức hoạt động của con người thường tình.

    2- Yêm Ma La Thức: Trung Hoa dịch là Vô Cấu Thức hay Bạch Tịnh Thức, cũng gọi là Chân Thức, tức là cái thức trong trắng không cấu nhiễm sau khi thức thứ tám đã loại trừ hết chủng tử mê. Hay nói cách khác là các thức hư vọng đã chuyển thành trí thanh tịnh sáng suốt.

    3- A Đà Na Thức: Trung Hoa dịch là “Trì” (duy trì) tức là gìn giữ chủng tử các pháp. Thức này làm căn bản (cội gốc) của chân lẫn vọng, nên nó không nhất định là chân hay vọng, là phàm hay thánh. Khi mê thì toàn thức A Đà Na là vọng, lúc giác thì toàn A Đà Na là chân. Song chân hay vọng chẳng qua là hai trạng thái của nhất tâm mà thôi.

    4- Như Lai Tàng: Nghĩa là thể tánh Như Lai (Phật tánh) bị che đậy án khuất, tức là Phật tánh bị vô minh phiền não nhiễm ô che khuất làm cho ánh quang minh Phật tánh không hiển lộ rõ, giống như mây đen che án mặt trời, mặt trăng vậy.

    Vả lại, chữ Tàng có một ý nghĩa khác là chỉ cho “Phật nhập diệt”, có nghĩa là ba nghiệp chẳng thanh tịnh thì Phật nhập diệt, tức là Phật tánh bị ẩn. Còn ngược lại ba nghiệp hằng thanh tịnh thì Phật xuất thế, tức là Phật tánh hằng hiện hữu.

    Nói về Như Lai Tàng, chúng ta hãy liên tưởng đến danh từ “Như Lai Tại Triền và Như Lai Xuất Triền”. Như Lai Tại Triền là chỉ cho Phật tánh bị vô minh che án; còn Như Lai Xuất Triền chỉ cho Tánh Như Lai không còn bị vô minh triền phược che lấp.

    Xem truyện ta thường thấy Đường Tăng trên lộ trình đến Tây Trúc thỉnh kinh luôn gặp nhiều chướng nạn bởi các thứ yêu ma lừa gạt và hãm hại, nhưng Đường Tăng vẫn không nản lòng thối chí mà vẫn một mực tiến bước sau những lần vượt qua khổ nạn. Đó là những hình ảnh nói lên tấm lòng kiên trì vững chãi của bậc chân tu, luôn vượt qua bao cạm bẫy thế tình và hằng kiên trì giữ vững ý chí mong thoát khỏi vòng trói buộc trần tục.

    Khi khởi đầu phát tâm tu là từ chủng tử tạng thức phát khởi, do cảm nhận sự vô thường sinh diệt các pháp hay một nhân duyên nào đó về sự khổ của con người mà tạng thức thúc đẩy ta tìm đến với đạo. Nên lúc gỡ lá bùa chính là Đường Tăng gỡ chứ không ai khác, rồi đến Tây phương được thọ ký thành Phật cũng là Đường Tăng, mà công cán thì do những đồ đệ, trong đó Tôn Ngộ Không là số một. Vì thế trong kinh Lăng Già nói: “Lấy tâm làm tông (Đường Tăng), lấy cửa không làm cửa pháp (Ngộ Không)” là vậy.

    Xem truyện ta thấy Đường Tăng thì nhu nhược yếu đuối và dễ nghe lời Bát Giới. Ta thấy tại sao Đường Tăng không nghe ý kiến của Ngộ Không hay Ngộ Tịnh mà lại nghe theo Bát Giới? Vì Bát Giới là chỉ cho năm thức ở năm căn ngoài tiếp xúc năm trần bất giác dính mắc cảm thọ thâu nhận đưa vào tạng thức, rồi từ tạng thức hiện khởi lại những hình ảnh ấy làm nhân cho năm thức ngoài duyên theo ngoại cảnh mà tiếp tục thu thập thêm những chủng tử mới vào tạng thức, do đó thường thấy Đường Tăng dễ cảm thông với Bát Giới.

    Vả lại, cũng cho thấy Đường Tăng thể hiện tấm lòng từ bi khi thấy người bị khốn khổ liền muốn cứu giúp. Vì người hành đạo là người có tâm hạnh từ bi, nhưng nếu không có trí tuệ thì chẳng biết đâu là thiện, ác, đâu là chánh, tà sẽ dễ lạc vào tà đạo, hay bị cám dỗ không được giải thoát, giống như Đường Tăng bị nạn ở hồi 31 vậy. Còn nếu có trí tuệ mà không có từ bi và định tâm thì chẳng làm lợi ích được gì cho ai, mà đôi khi không thắng nổi những tập nghiệp nữa. Cho nên từ bi và trí tuệ phải đi đôi không thể tách rời. Ở đây xin đi xa một chút để nói lên ý nghĩa của từ bi.

    Có một số Phật tử đi chùa nhiều, niệm Phật, ngồi thiền lắm mà chưa rõ ý nghĩa này. Hay nhiều người cho rằng ăn chay lạt là tu, nhưng có phải là tu chăng? Vì chữ tu có nghĩa thông thường là sửa đổi, chuyển hóa từ thân, khẩu, ý tác tạo những điều xấu ác trở thành những điều tốt, từ sự bất thiện chuyển hóa thành lương thiện, từ mê lầm bất giác chuyển thành trí tuệ tỉnh giác an định v.v..., nên ăn chay lạt mà chưa ứng dụng đúng như trên nói thì chưa hẳn gọi là tu, nhưng tu thì cần phải ăn chay. Bởi vì ăn chay lạt là bước đầu khởi phát từ tâm để trợ duyên trên đường tu tập. Nếu trên đường tu tập mà không có từ tâm thì hẳn chưa thực tu, nên phải biết qua ý nghĩa của nó.

    Ăn chay lạt là chúng ta nuôi dưỡng tâm từ bi không được khởi niệm giết hại những động vật. Vì mọi động vật (trong đó có con người) cũng tham sống sợ chết, không muốn đau, muốn khổ, không lẽ mình lại đi giết hại cho nó đau khổ để làm miếng ăn ngon qua khỏi lưỡi một chút sao? (nuốt vào trong bụng thành cái chi đó!!, sao chẳng thức tỉnh xét kỹ coi có đáng gớm không?). Nó khổ đau thân mà lại khổ vì xa thân thuộc nữa; vậy là mình không có tâm từ bi. Như chúng ta khi có người nói nặng hay chửi mắng một lời, mình cũng cảm thấy đau khổ huống hồ là đánh đập và giết. Cho nên chúng ta phải hiểu ý nghĩa từ bi là gì?

    Từ có nghĩa là ban vui. Bi có nghĩa là cứu khổ. Vậy ban vui và cứu khổ bằng cách nào? Nghĩa là không tạo nhân gây đau khổ cho người và vật, thấy ai đau khổ thì ra tay cứu giúp, dù đối tượng đó là thân hay sơ.

    Nếu chúng ta gây nhân đau khổ cho người và vật thì sớm muộn gì cũng phải gánh lấy hậu quả chẳng lành mà thôi. Như bằng chứng thực tế ở đời, ta thường thấy có người thì đau bệnh khổ sở tấm thân, có người thì đau khổ về tinh thần, có khi đau khổ cả hai nữa, song bị ít hay nhiều là do duyên nghiệp của mỗi người mà khi sanh ra có kẻ yểu mạng, người tuổi thọ dài, người giàu kẻ nghèo, người lành lặn đẹp đẽ, kẻ đen xấu tật nguyền v.v... Bởi vì khi mới thọ thân thì đâu có ai muốn sanh ra xấu xí tật nguyền, hoặc sanh nơi nghèo cùng thiếu thốn hay bị đần độn đâu. Nhưng tại sao lại có sự chênh lệch như vậy? Đó là do tác nhân tạo đau khổ cho người và vật thuở quá khứ thì đời nay quả nghiệp đã chín phải cam chịu lấy thôi, chớ đâu phải ngẫu nhiên mà có những việc sai biệt như thế! Như vậy ta làm đau khổ người và vật tức là làm đau khổ chính mình ở mai sau vậy.

    Hơn nữa, ở đây phải hiểu thực tế hơn là con người với con người, tại sao chúng ta lại không thể hiện lòng từ bi thương yêu với nhau? Cha mẹ, vợ chồng, huynh đệ hay xóm giềng, thấy ai khổ chúng ta không chịu ban vui hay giúp đỡ gì trong khi họ đang lâm vào những cảnh khó khăn đau khổ? Nếu những việc như thế mà chúng ta không làm được, lại nói ăn chay lạt không giết hại con vật là từ bi thì chưa thật đúng nghĩa. Hay nói xa hơn, như là những nơi bị thiên tai đói khó, ta không bớt chút thời giờ đến thăm hoặc gửi chút ít tài vật gì tùy theo khả năng hiện có, để cho họ đỡ một phần nào khó khổ?... Không những có lòng thương giúp người về vật chất thôi chưa đủ, mà phải biết tạo điều kiện dẫn dắt cho họ hướng đến Phật pháp, nương những phương pháp Phật dạy tu học từ từ sẽ giúp họ hiểu rõ nhân quả nghiệp báo qua ba thời mà chuyển nhân làm những điều lành, hầu cho mai sau được thăng hoa nơi tốt đẹp hơn. Sâu xa hơn nữa, là chỉ tột lý đạo để họ thấu suốt lẽ thật bản chất thân tâm và các pháp mà buông xả đừng ái nhiễm bám chấp, ngõ hầu đạt đến giác ngộ giải thoát. Có thế mới giúp họ an vui từ thể xác lẫn tinh thần.

    Con người với con người rất gần gũi và dễ thông cảm nhau mà chúng ta không có tâm niệm đó thì nói ăn chay lạt là từ bi đối với con vật thấy nó xa vời thiếu thực tế. Đôi khi chúng ta chỉ biết nghĩ cứu giúp những người ở bên ngoài xã hội như bạn bè, xóm giềng… mà người ngay trong gia đình gần gũi nhất lại không biết yêu thương còn rầy rà lủng củng với nhau thì thấy giả dối quá. Nên chúng ta phải thực tế hơn là có lòng từ với những đối tượng thân cận trước rồi hãy tới những nơi xa, giống như ngọn đèn sáng phải từ trong nhà sáng ra ngoài mới hợp lý. Nhưng lòng từ không có vụ lợi, không có lợi dụng bất cứ ai, có thế mới hợp với lòng từ của chư thánh; bằng ngược lại là vì tự ngã mà sanh ra ái kiến.

    Trong cuộc sống ai ai cũng đều bị đau khổ, ít hay nhiều gì thì chúng ta phải biết cảm thông với những người đang đau khổ và cũng đừng làm cho ai đau khổ cả. Vì bản thân mình không muốn khổ sở thì người khác cũng đâu có mong chịu khổ! Thế nên, nói ăn chay lạt là tu chưa chắc đúng. Vì ăn chay lạt mà đối với người và vật mà mình không có tâm lượng từ bi thương giúp; thấy ai khổ đau, mình ngó lơ không ban bố gì cho họ bớt khổ cả. Đôi khi có người ăn chay lại không khéo còn tạo nhân gây đau khổ như nguyền rủa hay nặng lời với người và vật nữa, như vậy là chưa đúng nghĩa ăn chay.

    Tuy có người không ăn chay lạt, nhưng thấy ai khổ đau họ cũng đến an ủi, giúp đỡ về tinh thần hay vật chất tuỳ theo khả năng hiện có và không tạo nhân làm đau khổ cho ai thì nói người đó không có từ bi cũng chẳng đúng. Tuy họ không ăn chay lạt nhưng họ làm được với tấm lòng chân thành thiết thực. Đây nói ở việc làm thực tế hơn là trên hình thức bên ngoài. Nếu có hình thức ăn chay mà không đi đôi với việc làm đúng nghĩa thì không thực tế. Còn việc làm được mà hình thức thiếu sót dễ sinh ra ngã mạn, nên cả hai phải đi đôi với nhau.

    Hơn nữa, người có tâm hạnh từ bi ở cấp độ cao là biết buông xả không vướng mắc các pháp, thấy kẻ sơ người thân, kẻ quấy người phải, kẻ ác người hiền đều cảm thương như nhau, tùy theo hoàn cảnh đối tượng hay hiện trạng như thế nào đó mà giúp đỡ họ chứ lòng không tỵ hiềm, ái chấp hay cống cao ngã mạn... với một đối tượng nào. Có thế làm lợi ích cho người lòng mới không bị bó buộc giới hạn, mới an lạc thanh thản thật sự. Chúng ta tạo an vui hạnh phúc cho người tức là xây dựng hạnh phúc an vui cho chính mình ở hiện tại và mai sau vậy. Cho nên từ bi là tình thương bao dung tất cả mọi loài không phân biệt thân sơ, khác với ái. Vì ái là tình thương trong sự đắm mắc trói buộc với đối tượng nào đó khi mình có cảm tình.

    Vả lại, ăn chay còn một ý nghĩa nữa rất thâm thúy, nhưng nói thật thì cũng dễ mất lòng. Bởi vì từ ăn chay là dịch từ chữ Trai của tiếng Hán ra. Mà chữ Trai này cùng đồng một nghĩa với chữ Tề (齊). Tề có nghĩa là chỉnh tề. Ý nói điều chỉnh hay nghiêm chỉnh thân tâm.

    Danh từ Ăn chay còn gọi là Trì chay. Mà chữ Trì có nghĩa là Giữ, vì vậy chữ Ăn cũng có nghĩa là Giữ. Cho nên đúng nghĩa của chữ ăn chay hay trì chay là giữ cho thân tâm được nghiêm chỉnh, hay gìn giữ các giới hạnh mới gọi là ăn chay, nên có danh từ gọi là “trai giới”.

    Do vì người thế gian không biết ý nghĩa sâu xa này, cho mình ăn những thứ thực vật, không ăn các loài động vật nói là ăn chay thì chưa đúng nghĩa. Nếu người trọn đời chỉ ăn rau quả mà trong tâm còn đầy tham, sân, si, không gìn giữ giới hạnh, thân tâm còn vọng động,  lại cho mình ăn chay thì đó chỉ là ăn rau quả, chớ chẳng phải ăn chay hay trì chay gì cả. Nếu người nào nói mình ăn chay một tháng bốn ngày hay mười ngày hoặc là trường chay, mà ai nói trái tai thì giận, gặp cảnh nghịch lòng thì hờn, vậy đâu có đúng nghĩa ăn chay. Còn như làm ăn hay có công việc chi lại toan tính mưu mô, kế này chước nọ để lường gạt thiên hạ thì có gọi là ăn chay chưa? Hay vẫn còn tham đắm các ngũ dục, tâm còn lăng xăng vọng động, như vậy có cho mình là ăn chay hay trì chay không? Cho nên ăn chay như thế thì chẳng có ăn một chút nào hết đối với cái ý nghĩa ở đây. Nếu người nào ăn rau quả cho là ăn chay thì đừng có tự hào nói mình tu, mà tu là phải biết ứng dụng đúng như ý nghĩa ăn chay hay trì chay ở trên. Vì vậy chúng ta phải biết qua để chỉnh đốn lại xem việc ăn chay của mình có đúng nghĩa hay không mới xứng đáng gọi là ăn chay.

    Nếu khởi tâm từ bi mà có trí tuệ thì làm mọi việc mới không bị trở ngại, bằng ngược lại sẽ dễ phát sanh phiền não. Cũng như Đường Tăng có lòng từ bi mà chưa có trí tuệ nên trên đoạn đường đến Linh Sơn lúc nào cũng gặp chướng nạn. Nếu không có Tôn Hành Giả chắc Đường Tăng bị ma ăn thịt hoặc lạc vào lối tẽ không đến được Tây phương để thỉnh kinh.

    Lúc mới phát tâm là tạng thức có chủng tử thiện thúc đẩy ta tìm thầy học đạo và hành đạo, tuy có gặp những khó khăn trở ngại, nhưng đường còn dài phải nhất tâm chẳng sờn lòng thối chí, vì tu là tu cho chính mình thì phải tự đảm đương lấy thọ mạng của mình mà thôi. Nên khi Tôn Hành Giả bỏ đi, Đường Tăng còn lại một mình than thở: “Chính là phải quyết tâm liều mạng sang Tây Trúc không dựa người ngoài, tự chủ trương lấy (tr 256 q.2)”. Cũng vậy, tu là tự mình phải nỗ lực đào thải những thói hư tật xấu do ba nghiệp tạo thành ái chấp cố hữu ở lòng làm mình khổ sở, chớ thiện tri thức không thể nắm kéo đưa mình ra khỏi đau khổ đến nơi an vui được, giống như mình đau bụng thì chỉ có mình chịu thôi chứ không ai có thể thay thế cái đau khổ đó mà phải tự mình miệt mài uống thuốc mới hết đau vậy.

    Mấy thầy trò Đường Tăng khi đi qua núi Phù Đồ gặp thiền sư Ô Sào hỏi đường sang Tây Trúc, thiền sư nói: “Đường tuy xa, nhưng đi cũng có ngày đến, chỉ là ma chướng khó trừ. Ta có quyển Tâm kinh, nếu gặp ma chướng đọc kinh này tự nhiên vô sự (hồi 19)”.

    Cũng vậy, từ khi mới phát tâm tu cho đến thành Thánh quả thì phải trải qua thời gian rất lâu xa, chớ không phải một hay hai đời là thành tựu, nên kinh nói trải qua vô số kiếp, nhưng có đi ắt sẽ có ngày đến. Còn tâm kinh đây chính là tâm bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh.... chớ không phải văn tự tâm kinh đọc tụng hằng ngày. Nếu thâm nhập tâm kinh thì ma khiếp sợ, ta được vô sự không chi ngăn ngại; còn chưa nhập được thấy rất nhiều ma chướng cản trở. Nếu đạt Tâm kinh là khỏi sang Tây Trúc, vì Tây Trúc ở ngay tâm chớ không phải qua mười muôn ức cõi hay mười muôn tám ngàn dặm để thỉnh kinh.

    Bởi Đường Tăng còn đang trên đường hành đạo, khi gặp núi cao cản trở lại than có hổ lang, gió dữ Tôn Hành Giả thấy vậy khuyên: “Người xuất gia không nên nói chuyện tại gia (hồi 32)”. Vì người tại gia hay than van có những việc ràng buộc khó tu. Còn người xuất gia có chí nguyện là phải ra khỏi nhà thế tục, ra khỏi nhà phiền não, ra khỏi nhà ba cõi mà còn than thì đâu phải hạnh người xuất gia. Tôn Hành Giả liền nhắc lại bài Tâm-kinh “...Nương theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, tâm không ngăn ngại, vì không ngăn ngại nên không sợ hãi xa hẳn điên đảo mộng tưởng thì đạt đến cứu cánh Niết bàn...”. Hay Tôn Hành Giả nói: “Muốn nhàn có khó gì, sau khi xong việc, muôn duyên hết, mọi pháp đều không, tự do tự tại, lo gì chẳng nhàn!”. Đường Tăng nghe liền vững tâm tiến bước.

    Tuy đã thức tỉnh nhưng chưa thể nhận và thâm nhập được tâm kinh, nên thấy rất nhiều chướng ngại ngăn trở, nếu không có trí tuệ dẫn dắt đưa đường thì dễ nản lòng thối chí vì những sự chướng đó. Thành thử trí tuệ phải hiện hữu không lúc nào rời thì chẳng có chướng ngại nào làm lung lay ta được.

    Trên đường hành đạo, thầy và bạn chỉ trợ duyên cho ta mà thôi, còn đi đến mục đích giải thoát hay không phải do ta nổ lực tiến bước dù có khó khăn ngăn ngại. Nhưng khi đi phải lấy trí tuệ dẫn đường, nếu không sẽ bị lạc lối, vì còn đang đi trên đường tiến đến giải thoát.

    Khi còn mê là tạng thức, lúc giác ngộ thể nhận cái không sinh không diệt gọi là Như Lai Tạng Tâm. Từ tạng thức chuyển thành Như Lai Tạng Tâm cũng không phải hai. Nếu mê các thức kia hợp tác lôi kéo vào tăm tối, khi giác ngộ các thức đó cũng chuyển hóa mà trợ duyên để tạng thức được trong sạch thành kho báu Như Lai. Bởi Như Lai Tạng Tâm vốn an định rỗng suốt (Không Như Lai Tạng), do bất giác hướng ngoại theo trần cảnh thâu thập những bóng hình bên ngoài đem vào, nên từ Không Như Lai Tạng trở thành Bất không Như Lai Tạng (tạng thức). Từ đó mà xa cách quê nhà lang thang khắp nẻo. Nay biết hồi đầu trở về, buông bỏ chẳng bám chấp dính mắc các pháp cho cái kho tâm trong sạch không còn bợn nhơ nên nói là Như Lai Tạng Tâm, mà duy thức học gọi là Chân Thức hay Bạch Tịnh Thức. Khi ấy tạng thức trở thành trí tuệ tròn sáng rộng lớn mà trong kinh gọi là Đại Viên Cảnh Trí; còn thức thứ bảy chuyển thành Bình Đẳng Tánh Trí; thức thứ sáu chuyển thành Diệu Quan Sát Trí và năm thức trước chuyển thành Thành Sở Tác Trí.

    Đã thể nhập và sống được trọn vẹn Như Lai Tạng Tâm thì nói ra lời nào cũng là Phật pháp hết, và những hành vi thể hiện trong cuộc sống đều phù hợp với lẽ phải như lòng từ của chư thánh. Cho nên ba tạng kinh điển (tam tạng) từ Như Lai Tạng Tâm lưu xuất. Vì thế Ngô Thừa Ân lấy danh từ ba tạng kinh (Kinh, Luật, Luận) mà đặt pháp hiệu cho ngài Huyền Trang là Tam Tạng. Vào thời nhà Đường nên gọi là Đường Tam Tạng.

    Chọn một người trắng trẻo mặt mày sáng sủa đẹp đẽ làm nhân vật Đường Tăng là hình ảnh tượng trưng nói lên Như Lai Tạng Tâm trong trắng không chút bợn nhơ, luôn sáng suốt không gì bì kịp mà trong kinh thường diễn tả như hạt châu báu. Nhưng do vì bất giác hướng ngoại lao theo trần cảnh rồi ái nhiễm nên thức tình vọng tưởng cứ thế thay nhau, niệm niệm chập chồng, từ đó nhận giả làm thật mà lãng quên chân tính bình lặng trong trắng sáng đẹp sẵn có. Cho nên muốn sáng đẹp lại như cũ phải biết phản quan lại chính mình, can đảm loại bỏ thức tình lăng xăng, những ái chấp mê lầm từ lâu bám mắc, đến khi chúng sạch hết thì Như Lai Tạng Tâm rỡ ràng sáng suốt an định như xưa. Vì vậy Ngô Thừa Ân chọn Đường Tăng có hình dáng như thế.

     

  • 22. TRƯ NGỘ NĂNG (Bát Giới)

    TRƯ NGỘ NĂNG

                                   (Bát Giới)

     

    Xem truyện ta thấy tại sao Ngô Thừa Ân lại chọn nhân vật Ngộ Năng là hình dáng con heo mà không chọn một con vật khác? Vì heo là con vật ham ăn, ham ngủ, ham cảm thọ... Nên ông diễn tả Ngộ Năng thấy sắc cũng ham (hồi 23), thấy ăn cũng ham (hồi 47), ngủ hay nghỉ gì Ngộ Năng cũng ham cả (hồi 28). Lại nữa, Ngộ Năng có vũ khí là cây bồ cào chín răng để hộ thân, ý nói lên lòng tham quá đỗi (vì số chín là con số lớn nhất trong các số ở hàng đơn vị và bồ cào dùng để cào gom lại). Cho nên thấy cái gì vừa lòng là Ngộ Năng đem về cho mình, ý nói lên lòng tham không biết bao nhiêu cho đủ và gặp cái gì cũng dính mắc.

    Trư Ngộ Năng là hình ảnh tượng trưng cho năm thức nương ở năm căn để cảm giác biết, do một niệm bất giác khởi ra phân biệt như:

    1- Nhãn thức là cái biết ở con mắt. Con mắt là nhãn căn, là chỗ nương của nhãn thức để duyên với sắc trần. Sắc trần (sở duyên) là đối tượng của nhãn thức (năng duyên). Khi nhãn thức tiếp xúc với sắc trần do bất giác khởi ra phân biệt.

    2- Nhĩ thức là cái biết ở lỗ tai. Lỗ tai là nhĩ căn, là chỗ nương của nhĩ thức để duyên với thinh trần. Thinh trần (sở duyên) là đối tượng của nhĩ thức (năng dưyên). Khi nhĩ thức tiếp xúc với thinh trần do bất giác khởi ra phân biệt.

    3- Tỹ thức là cái biết ở lỗ mũi. Lỗ mũi là tỹ căn, là chỗ nương của tỹ thức để duyên với hương trần. Hương trần (sở duyên) là đối tượng của tỹ thức (năng duyên). Khi tỹ thức tiếp xúc với hương trần do bất giác khởi ra phân biệt.

    4- Thiệt thức là cái biết ở lưỡi. Cái lưỡi là thiệt căn, là chỗ nương của thiệt thức để duyên với vị trần. Vị trần (sở duyên) là đối tượng của thiệt thức (năng duyên). Khi thiệt thức tiếp xúc với vị trần do bất giác khởi ra phân biệt.

    5- Thân thức là cái biết ở thân. Thân hình thuộc thân căn, là chỗ nương của thân thức để duyên với xúc trần. Xúc trần (sở duyên) là đối tượng của thân thức (năng duyên). Khi thân thức tiếp xúc với các sự vật do bất giác khởi ra phân biệt.

    Thật ra năm thức chỉ rõ biết thật cảnh đang duyên không có phân biệt so lường, như mở mắt là biết thấy, ở tai thì biết nghe, cho đến thân thì có biết cảm giác mọi vật. Đó là cảm giác thuần tuý ở năm căn chưa có vọng tưởng phân biệt của ý thức thì ngay đó không có lỗi. Do vì có ý thức chen vào cộng tác chỉ huy dẫn dắt mà năm thức phải xa rời phạm vi ban đầu ở thật cảnh đang duyên (vì ý thức là phân biệt), thành ra có vọng động nên năm thức theo đó bị nhiễm ô dính mắc các pháp. Có thể nói thức thứ sáu là thủ lãnh của năm thức trước trong cộng đồng chung khởi “ý thức ngũ câu”, cho nên khi tiếp duyên trần, năm thức đều có “Tùy niệm phân biệt và kế đạt phân biệt” hoạt động (như đã nói ở trước). Đó là nói năm thức của con người thường tình lúc còn mê lầm.

    Sự cảm giác thuần túy của năm giác quan có thể được chứng minh qua đứa bé mới sinh. Nó có đủ năm giác quan mà có phân biệt chi đâu? Mắt nhìn sự vật nó chỉ thấy vậy chớ có biết vật đó là vật chi, tai nghe các thứ âm thanh nó chỉ nghe vậy chớ có biết tiếng đó là tiếng gì? Các giác quan kia cũng vậy, vì ý thức chưa có tác động lanh lợi như người lớn. Nhưng nó hơi lớn một tí thì ý thức phát khởi bám sát vào năm giác quan nên trở thành thủ lĩnh cả năm giác quan, thành thử khi một trong năm giác quan xúc cảnh liền có ý thức chỉ đạo. Vì lẽ đó đứa bé mới phân biệt dần dần có thiện cảm quen hơi bén tiếng người gần gũi cho bú và chăm sóc, một thời gian sau nó mới biết người đó là mẹ nó, nên khi người lạ ẵm bồng hoặc cho bú thì nó đâu có chịu vì biết người lạ đó không phải thân thiết. Hoặc khi mới bập bẹ biết ăn, mẹ đứa bé nhai cơm cùng thức ăn cho nhuyễn mớm đút cho bé thì nó ăn bình thường, đôi khi còn đòi ăn nữa, nhưng đến lớn thì nó cảm thấy việc đó gớm ghê, sao lạ vậy? Đó chính là do ý thức tác động mà sanh ra những tư tưởng như thế.

    Nhưng khi ý thức đã chuyển hóa thành trí tuệ thì năm thức trước cũng chuyển từ từ theo sự chủ động của trí tuệ. Do đó xem truyện lúc nào ta cũng thấy Ngộ Năng luôn nể phục sợ Tôn Hành Giả, là nói lên cái ý vừa nêu trên.

    Ở đây xin nói thêm về sắc căn gồm có hai phần: Như chúng ta đã biết năm căn thô là: “Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân”. Năm căn này gọi chung là Sắc Căn Thân. Chúng là vật chất hữu hình được phô bày bên ngoài cơ thể nên dễ thấy biết. Nhưng ngoài năm căn hữu hình ra, con người còn có năm căn vô hình mà Duy thức học gọi là Tịnh Sắc Căn hay Thắng Nghĩa Căn.

    Thế thường con người nhìn sự vật bằng mắt thịt, hễ cái gì không thấy được thì gọi là phần tinh thần, nhưng gọi vậy chưa đúng. Mà phải biết rằng cái gì có sự cảm giác, hiểu biết mới gọi là tinh thần được.

    Sắc chất có cái thô, cái tế, thì phần tinh thần cũng có phần thô, phần tế. Tinh thể của vật chất có loại còn nhỏ hơn nguyên tử nhiều, dù kính hiển vi phóng to cả triệu lần lớn hơn cũng không thấy được, thế mà chúng vẫn là vật chất, chỉ vì chúng không có sự hiểu biết. Để thấy năm căn vô hình mà Duy thức học nói cũng chỉ là sắc chất. Năm căn vô hình là:

    1. Tịnh sắc Nhãn căn.

    2. Tịnh sắc Nhĩ căn.

    3. Tịnh sắc Tỹ căn.

    4. Tịnh sắc Thiệt căn.

    5. Tịnh sắc Thân căn.

    Duy thức học cho ta biết rằng năm thức nương vào năm Tịnh Sắc Căn trên. Còn năm Tịnh Sắc Căn lại dựa vào năm phù trần căn để thâu nhận cảm giác và đồng thời phát cái BIẾT ra ngoài năm căn thô phù. Thế thì ngoài các căn hữu hình này còn có các căn vô hình. Nếu không có các căn vô hình thì khi tạo tội hay làm lành, lúc chết đi sắc căn thô phù nằm đó bất động, vậy cái thân nào đi vào Địa Ngục cảm nhận sự đau khổ, hoặc cái thân nào đưa đến cảm thọ sự vui sướng ở thiên đường? Chính là hành nghiệp dẫn năm căn vô hình này đến các cõi lành hay bị đọa lạc để thọ quả báo tương xứng với nhân đã tạo trước đó. Thế thì các căn vô hình này gọi là “thân trung ấm”, nó cũng vẫn chịu theo định luật của “sanh, trụ, dị, diệt” y như sắc căn thân thô phù. Nhưng nó là cái thân sắc quá vi tế, do đó trong nhân gian con người vì không biết mà thường gọi là linh hồn. Cho thấy rằng thân trung ấm cũng là cái thân vi tế ở một cảnh giới như trong hằng hà sa số thế giới. Các chúng sinh trong Dục giới đều từ thân trung ấm này chuyển sang thân hậu ấm (chuyển nhập thai thành thân hiện tại) thọ lãnh quả báo.

    Nếu nói không có thân vô hình thì không có thế giới vô hình, nhưng nếu không có thế giới vô hình thì sao trong kinh Phật nói đến những chủng loại như: Chư Thiên, A Tu La (thần), Ngạ Quỷ (loài quỷ đói), Dạ Xoa (quỷ có thế lực ở trên mặt đất và trong hư không), v.v... Nói vô hình là đối với con mắt thịt của chúng ta chớ những chủng loại đó chẳng phải là không có, và kinh Phật cũng cho chúng ta biết rằng những chủng loại vô hình trong Lục đạo - từ các cõi Trời Dục Giới trở xuống - vẫn còn ăn mặc, còn tình ái, còn cảm thọ v.v... giống y như cõi người chẳng khác chi cả, nhưng nếu có khác hơn là thô hay tế tùy theo phước nghiệp riêng của mỗi loài.

    Đặc biệt ở đây cho thấy thức với căn khác nhau và cũng cho ta biết các thức có hai chỗ nương. Một là Phù Trần Căn. Hai là Tịnh Sắc Căn. Khi còn sắc căn hữu hình thì các thức nương cái vỏ hữu hình hoạt động. Lúc sắc căn hữu hình không còn hoạt động thì các thức nương vào cái vỏ vô hình Tịnh Sắc Căn hoạt động, ví như trong giấc ngủ mộng, sắc căn hữu hình nằm đó thì các thức nương vào Tịnh Sắc Căn hoạt động, nên trong giấc mộng chúng ta cũng theo cảnh mộng mà buồn vui, lo sợ v.v... giống như lúc thức, nhưng sắc thân nằm đó không hay biết. Chẳng hạn như lúc ta ngủ mộng thấy những cảnh làm mình xúc động rơi lệ, nhưng khi tỉnh giấc mới biết nước mắt còn đọng lại ở khóe mắt, có khi chảy ướt gối nữa; hay là trong mộng thấy mình ăn uống no nê, nhưng khi tỉnh giấc thì cảm thấy bụng no đầy hơi; còn những việc khác tác động đến thân trong lúc ngủ cũng tương tự như vậy. Cho thấy rằng trong khi mộng thì các thức nương Tịnh Sắc Căn hoạt động; còn lúc thức (đối ngược với ngủ) thì các thức nương sắc căn thô phù hoạt động. Thành thử dù thức hay ngủ gì khi ta còn mê muội chưa tỉnh giác làm chủ được mình thì bị các thức chủ động sai khiến. Cho đến lúc chúng ta chết thì các thức nương vào Tịnh Sắc Căn hoạt động, vẫn cảm thọ khi đối cảnh y như lúc còn sống.

    Nên biết rằng Chân tâm không giữ được tự tánh liền bất giác thức phát khởi nương các căn hoạt động sanh ra vô vàn vọng niệm, vì lẽ đó các căn chỉ là cơ quan để cho thức nương thành ra sáu thức (nhãn thức... ý thức). Chẳng hạn ngay sắc thân này tương tự như là một trụ sở công ty; các căn như là phòng ốc, máy móc, công cụ trong cơ quan để cho nhân viên có chỗ làm việc; các thức giống như các nhân viên làm việc, còn tâm như là ông giám đốc vậy. Tâm điều khiển tất cả thức giống như giám đốc ra lệnh chỉ đạo các nhân viên làm việc, còn thức nương các căn hoạt động giống như nhân viên nương phòng ốc trụ sở để vận hành máy móc tạo ra sản phẩm vậy, nhưng phải qua sự phát động của tâm, nhờ có tâm mà thức mới sinh hoạt được. Vậy thì tâm sinh thức, thức nương Tịnh Sắc Căn nhập qua Phù Trần Căn để sinh hoạt lúc còn sống, nhưng khi chết thì Tịnh Sắc Căn tách khỏi cái vỏ Phù Trần Căn mà người đời không biết nói là cõi vô hình. Thật ra không phải vô hình mà là cái thân sắc chất vi tế có đủ năm uẩn, tại vì mắt phàm chúng ta không thấy mà thôi. Vả lại, Tịnh Sắc Căn không bị chướng ngại vật cản ngăn, có thể xuyên qua tất cả trừ khi đã nhập thai hoặc chứng quả. Chính nghiệp lực dẫn dắt Tịnh Sắc Căn đến nơi thích ứng hợp duyên với chủng nghiệp thì liền nhập vào cảm thọ tức thời chuyển thân hậu ấm. Cho thấy rằng trần cảnh là đối tượng của năm thức trước mà các căn chỉ là cơ quan cho các thức mượn địa điểm để sinh hoạt về tâm sinh lý.

    Ta hãy thử nghiệm xem hằng giờ, hằng giây  trên địa cầu này có rất nhiều người cùng động vật tử vong, và có biết bao cặp động vật, con người đang ân ái, thì thử hỏi những cái thân Tịnh Sắc Căn của người và động vật vừa tử vong đó đương bị nghiệp lực dẫn tìm nơi thọ sanh đang lẩn quẩn trong không gian chung quanh chúng ta, vậy mà mắt chúng ta có thấy những cái thân Tịnh Sắc Căn ấy đâu? Đó chỉ mới nói loài thai sanh thôi, còn những Tịnh Sắc Căn đang bị nghiệp dẫn tìm những chủng loại “noãn sanh, thấp sanh, hóa sanh” để chuyển thân hậu ấm nữa. Bởi vì Phật nói thế giới chúng ta đang ở là cõi “Ngũ thú tạp cư”, nghĩa là năm loài (Người, A Tu La, Súc Sanh, Ngạ Qủy, Địa Ngục) cùng chung ở với nhau, vậy mà chúng ta chỉ thấy có những loài súc vật sống chung quanh ta thôi, còn mấy chủng loại kia mắt thường của chúng ta đâu có thấy được chúng. Để thấy rằng Tịnh Sắc Căn là cái vỏ vô hình đối với nhãn quan tầm thường, nhưng đối với những bậc có Thiên nhãn hoặc định lực sâu thì thấy rất rõ. Cũng như Đức Phật sau khi chứng Thiên nhãn minh, Ngài thấy muôn loài chúng sinh chết đây sanh kia lên xuống luân hồi trong lục đạo tùy nghiệp nhân họ đã tạo, Ngài thấy rõ giống như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường thấy kẻ qua người lại không sai sót vậy. Hơn nữa, nếu không có thân Tịnh Sắc Căn này thì khi tạo ác nghiệp đọa Địa Ngục, vậy lấy cái thân nào chịu quả báo tội hình? Để chứng minh rằng có thân Tịnh Sắc Căn ta thường nghe thiên hạ trong nhân gian nói lại những kẻ chết chưa đi thọ sanh họ về báo mộng cho thân nhân, hầu mong người thân giúp họ thế này thế nọ để đỡ khổ, (việc này tôi có nghe chính người trong cuộc kể. Cô cùng chồng và bốn đứa con nhỏ bị ba người gạt gẫm vượt biên để cướp của. Ra khơi đầu hôm, chúng cố tình giết hai vợ chồng và quăng mấy đứa nhỏ xuống biển hết, nhưng riêng cô nhanh trí né tránh chỉ bị thương nhẹ rơi xuống biển, và mạng số chưa dứt nên được cứu sống. Mấy hôm sau, chồng cô về báo mộng cho thân nhân rằng anh đã chết, và bảo người thân tìm người tên Hùng để lo việc bắt thủ phạm. Gia đình nghe kể lại thì bán tín bán nghi, nhưng vẫn chạy tìm ra người tên Hùng, và sau đó tìm ra được thủ phạm). Hoặc là những người bị thiếp mê đôi ba ngày, hay tu xuất hồn; khi xuất hồn là Tịnh Sắc Căn tách khỏi cái vỏ Phù Trần Căn để đi cõi này cảnh nọ và nhờ có năm căn Tịnh Sắc mà họ thấy nghe hiểu biết ở các cảnh đó, nên khi về nhập vào Phù Trần Căn mới nói lại cho chúng ta nghe. Và phải biết thêm rằng Tịnh Sắc Căn do ý tưởng chủ động, vì vậy khi vừa tưởng đi nơi nào thì Tịnh Sắc Căn đã đến nơi đó. Đấy là nói khi còn phàm phu ái nhiễm bám chấp thân sắc chất này. Vả lại, khoa học hiện đại bây giờ cũng cho chúng ta biết quanh ta có rất nhiều siêu vi trùng hòa lẫn trong không khí, nếu ai có vết thương mà không gìn giữ kỹ thì sẽ bị những siêu vi này đột nhập vào làm nhiễm trùng vết thương và có thể ảnh hưởng đến mạng sống. Mà những loại siêu vi ấy cũng là một dạng chúng sinh bằng thể chất tứ đại quá tế vi, vì chúng sinh có nghĩa là một động vật có sự sống, nếu không nhờ kính hiển vi phóng đại thì mắt thường của chúng ta chẳng thể thấy được chúng .

    Bởi từ Như Lai Tàng do bất giác vọng động nên tâm biến thành căn, thức lại nương căn mới có suy nghĩ phân biệt. Khi tiếp xúc trần cảnh chúng ta mê lầm chấp trước, dính mắc mới khởi ra so sánh phân biệt mà có những cặp đối đãi như buồn vui, thương ghét v.v... Bởi năm thức của con người bị ý thức ngũ câu chung khởi nên hay hướng ngoại ham đắm ngũ dục huân thành nghiệp tập, do vậy mà tượng trưng bằng hình ảnh con heo. Thế nên, nhìn lại chúng ta ít hay nhiều gì cũng giống như Trư Ngộ Năng.

    Đành rằng năm thức trước chỉ y theo cảnh đang duyên không có ý thức xen vào, nhưng vì bị có ý thức ngũ câu thành tập nghiệp quán tính. Tuy nhiên ý thức đã chuyển nhưng năm thức vẫn còn hơi hớm của tập nghiệp bởi ý thức ngũ câu, cho nên khi đối cảnh đang duyên thì hay thích nhìn cảnh sắc đẹp, tai thích nghe lời hay tiếng ngọt, mũi thì thích ngửi mùi thơm, lưỡi thích những thức ăn ngon, thân thể xúc chạm thích những cảm giác êm ấm. Do lẽ đó xem truyện ta thường thấy Trư Ngộ Năng mặc dầu đã theo Đường Tăng tu hành mà y vẫn còn những thói quen ấy, gặp cái chi y cũng thích theo bản năng cảm khoái của dư âm ý thức ngũ câu tồn đọng, chứ chưa trở lại bản tính cũ của năm thức trước y như thật đang duyên cảnh, thấy chỉ thấy, nghe chỉ nghe... hợp với bản tính chân như bất động. Do lẽ đó, khi hành đạo năm thức trước phải chuyển hóa lần lần cho đến khi nào chứng quả mới dứt sạch nghiệp cũ do ý thức ngũ câu huân vào tàng thức, có như vậy mới thật sự rốt ráo giải thoát.

    Thế gian này là Dục giới, là cõi mà tất cả chúng sinh hay ham muốn rất nhiều thứ, nhưng chung quy không ngoài năm thứ mà trong nhà Phật gọi là Ngũ dục (Tiền tài vật chất, sắc đẹp, danh vọng địa vị, ăn uống, ngủ nghỉ). Đó là phần thô. Còn tế hơn là “Sắc, thanh, hương, vị, xúc” (Tất cả cảnh sắc mắt thấy được, mọi âm thanh tai nghe được, các mùi do mũi ngửi, những vị ngọt, đắng...do lưỡi nếm, tất cả cảm giác do thân xúc chạm). Là chúng sinh ở cõi này đều phải vướng mắc một trong năm thứ ấy hoặc ít hoặc nhiều chớ không ai tránh khỏi. Có người thì đắm nhiễm về sắc mà không vướng về tài, danh, hay ăn ngủ, có người lại dính về tài nhưng chẳng dính những thứ kia, hoặc dính hai đến ba thứ hay dính hết cả năm là tùy theo biệt nghiệp do sự ái nhiễm đắm mắc của mỗi người mà có sai biệt, chớ không phải ai ai cũng giống như nhau. Mỗi người chúng ta hãy ngẫm lại chính mình xem ái nhiễm dính mắc mấy thứ đây? Chính vì thế mà con người lún sâu trong vũng bùn dục lạc xa cách quê hương muôn thuở. Vua Trần Thái Tông đã cảm được điều đó nên có làm bài kệ để cảnh tỉnh người sau thế này:

    Trời đất nấu nung thành vạn tượng

    Xưa nay không mống cũng không manh

    Chỉ sai hữu niệm quên vô niệm

    Liền trái không sanh nhận có sanh

    Mũi đắm các hương, lưỡi tham vị

    Mắt mờ chúng sắc, tiếng mê tai

    Lang thang làm khách phong trần mãi

    Ngày tháng xa quê muôn dặm trình.

    Bởi lòng tham của phàm phu không biết bao nhiêu cho đủ, được cái này rồi lại muốn cái khác, cứ liên tục muốn. Ở mắt thì muốn thấy sắc đẹp, ở tai thì muốn nghe lời hay tiếng tốt, mũi thì thích mùi thơm, thân thể lại muốn cảm giác êm ấm v.v... và v.v... Vì vậy, trong kho tạng thức đầy đủ các thứ buồn thương, giận ghét, được mất, phải quấy v.v... chúng cứ tái diễn quấy rối con người mãi khó dừng yên. Song chẳng phải là không dừng được, nếu hành giả nào có ý chí dũng mãnh, nghị lực trường viễn thì sẽ thắng chúng.

    Đây xin lược dẫn câu chuyện trong kinh A Hàm, nói lên sự dính mắc giữa căn với trần như sau:

    Trong rừng có bầy khỉ. Khỉ đầu đàn nói với các khỉ con: “Các con phải đi theo đàn kiếm ăn chứ không được đi một mình, nếu đi riêng lẻ dễ bị thợ săn bắt hoặc dễ mắc bẫy”. Trong bầy có một con nghĩ rằng mình đi theo bầy đông quá kiếm ăn sẽ không đủ no nên mới lén rời khỏi bầy đi riêng nơi khác. Nó đi tách lối tẽ một đoạn xa thì gặp được miếng mồi rất ngon (trái chuối chẳng hạn), bên ngoài có miếng nhựa dính, nhưng nó đâu biết đó là cái bẫy, nên lấy tay bốc miếng mồi ăn. Khi nó đưa tay vào chưa tới mồi thì liền đụng phải miếng nhựa nên tay bị dính cứng. Nó giật mãi không ra mới lấy tay kia gỡ thì bị dính luôn, rồi lấy hai chân sau gỡ cũng bị dính, nó lấy miệng cạp gỡ cũng bị dính, còn cái đuôi ngo ngoe nó móc vào dùng hết sức để giật ra cũng lại bị dính luôn không nhúc nhích được nữa. Đến chiều thợ săn đến bắt nó trói đem về.

    Ta thấy sáu trần cũng giống như miếng mồi ngon rất là hào nhoáng, bóng bẩy, hấp dẫn dễ quyến rũ khi lòng còn đầy dẫy những tham, sân, si nên bị chúng lôi kéo; chúng như có ma lực thu hút (nghiệp lực) hay giống như liều thuốc kích thích khi uống vào thấy cái gì cũng hấp dẫn khiến chúng ta khó bề tự chủ để rồi vướng mắc. Một khi bị vướng mắc, lại hay đánh liều tới đâu thì tới, chớ ít chịu dừng lại để hồi đầu chuyển hóa, nên càng ngày càng lún sâu trong dục lạc. Rồi suốt cuộc đời thưởng thức ngũ dục chưa được bao nhiêu thì đã bị Diêm vương dẫn đi.

    Cũng vậy, nếu chúng ta ở trong cái an định sáng suốt thì đâu có việc gì xảy ra (như con khỉ ở trong bầy). Bởi do một niệm bất giác khởi lên (tách bầy); nhập với sáu căn (hai tay, hai chân, đầu và đuôi); rồi hướng ngoại theo sáu trần (gặp miếng mồi ngon trong bẫy bỏ đi không được); lại dính mắc các pháp (đưa tay lấy mồi bị dính bẫy); nên phải bị đọa lạc khổ đau (bị thợ săn bắt trói đem về).

    Bởi ở thế gian ai cũng muốn ăn sung mặc sướng, muốn có địa vị danh vọng và giàu có, nên phải dùng đủ mọi cách để tìm cầu mong đánh đổi được những thứ đó. Có người đánh đổi với tư cách lương thiện, trong cái thỏa đáng đôi bên thì không nói, nhưng lại có người mưu mẹo hay lợi dụng lường gạt chiếm đoạt của kẻ khác thì thật là tội nghiệp cho họ. Vì sao? Vì họ làm không phải riêng họ hưởng mà đôi khi lại nuôi thêm đôi ba người nữa, nhưng chỉ có một mình họ  lãnh chịu quả báo sau này. Họ làm mà họ chẳng biết nhân quả theo nhau như bóng với hình. Nên trong kinh Nhân Quả nói:

    Dẫu cho trăm ngàn kiếp

    Nghiệp làm kia không mất

    Nhân duyên khi hội ngộ

    Quả báo lại tự mang.

    Cho nên tội thì họ gánh chịu, còn những người kia đâu có biết gì? Đôi khi họ lường gạt chỉ vì một cái lợi nhỏ chẳng thấm vào đâu mà cũng chấp nhận làm.  Nhưng khổ nỗi khi nào ác quả đến thì đến chứ họ không nghĩ lo xa, chỉ biết trước mắt có lợi là làm, khi đủ duyên quả báo đến thì hối đã muộn. Đôi khi có ai đó làm những việc trái đạo nghĩa, mất lương tri thì trong nhân gian người ta hay dùng một câu để mỉa mai họ “con lợn lòng nó đã trỗi dậy”. Do đó, cổ nhân có để lại câu danh ngôn “Phàm làm việc gì trước phải nghĩ đến hậu quả của nó” thật là một lời khuyên rất quí báu đối với nhân sinh vậy.

    Là người học tu theo Phật phải biết lấy nhân quả làm nền tảng, vì có nhân nào mà không quả, đã vay rồi thì phải trả, tùy theo duyên ta chăm sóc vun bồi mà quả đến sớm hay muộn. Nếu tạo nhân tham, sân, si, ái chấp… khi hội đủ duyên thì sẽ đưa đến trầm luân khổ sở. Chúng ta phải khéo tránh đừng tạo nhân bất hảo ác độc, chớ xem thường mà sau này phải gánh lấy hậu quả đau buồn. Còn gieo nhân giác ngộ và ứng dụng đúng thì tùy theo duyên tinh tấn hay lừng chừng mà quả giải thoát đến mau hay chậm thôi, nên trong kinh nói: “Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả” là thế. Nếu rõ biết tác nhân như thế nào thì hậu quả sẽ theo đó cân xứng với nhân trước đã tạo, thì mình đâu có làm những việc xấu ác tội lỗi, tức là đã có giác ngộ rồi, bởi vì Bồ Tát có cái nghĩa là một hữu tình giác ngộ, tức là mình giác ngộ dần dần, giác ngộ một phần thì thoát khổ một phần nên được an lạc một phần, đến khi nào hoàn toàn giác không còn một chút mê muội thì giải thoát an lạc tột cùng.

    Trên đường thỉnh kinh, đôi lúc Trư Ngộ Năng dễ bất mãn vì những chướng ngại làm thối chí và hay đòi chia hành lý về quê sinh sống (hồi 30). Nếu không có Tôn Hành Giả khuyến khích hay hăm dọa thì Ngộ Năng bỏ cuộc hành trình giữa chừng.

    Cũng vậy, năm thức bị ý thức ngũ câu đồng hóa làm thủ lĩnh nên lúc tiếp xúc ngoại trần sinh cảm thọ vướng mắc quen thành nết, thành thử trên đường hành đạo gặp những nghịch cảnh nếu không có trí tuệ thúc đẩy thì sẽ dễ sanh giải đãi buông lung hòa nhập ngoại duyên như cũ. Vì thế, trí tuệ phải hiện hữu không lúc nào rời thì trên bước đường hành đạo mới vượt qua những chướng nạn, tiến đến mục đích cứu cánh được. Tuy nhiên, khi thức thứ sáu đã chuyển hóa thì năm thức trước cũng chuyển theo, nhưng do tập nhiễm thành thói quen nên năm thức vẫn còn bản năng nghiệp cũ của ý thức ngũ câu. Ở đây xin dẫn câu chuyện nói về ý nghĩa chuyển hóa như sau:

    Ngài Ngưỡng Sơn hỏi thiền sư Trung Ấp:

    - Làm sao thấy được nghĩa Phật tánh?

    - Ta vì ông nói một thí dụ ông có tin chăng?

    - Lời của Hòa thượng con đâu dám chẳng tin (tức là tin).

    - Như có người nuôi một con khỉ nhốt trong lồng có sáu cửa, ở ngoài có một con khỉ đến cửa bên đông kêu chéo! chéo! Con khỉ bên trong liền đáp chéo! chéo! Sáu cửa đều kêu, đều đáp như thế! như thế!

    Ngài Trung Ấp nói đến đó thì ngài Ngưỡng Sơn lễ tạ thưa:

    - Vừa rồi nhờ Hòa thượng vì con nói một thí dụ, con đều biết rõ, lại có một việc. Ví như con khỉ ở trong đã ngủ, con khỉ ở ngoài muốn gặp thì phải làm sao?

    Ngài Trung Ấp từ trên tòa bước xuống đến nắm tay ngài Ngưỡng Sơn nói:

    - Chéo! chéo! Cùng ông thấy nhau rồi!

    Qua câu chuyện trên chúng ta hiểu ý nói điều gì?

    Con khỉ ở ngoài là chỉ cho trần cảnh, sáu cửa là nói sáu căn, trong lồng có một con khỉ bị nhốt chỉ cho thức thứ sáu. Thức thứ sáu ở trong nhìn ra sáu cửa là Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỹ thức, Thiệt thức, Thân thức,Ý thức. Ý thức không có căn, nó chiếm căn cứ thức thứ bảy (ý căn) làm bản dinh để tác động về tâm sinh lý, nên ý thức có thể gọi là giác quan thứ sáu. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, bởi có bất giác nên ý thức phát khởi gia nhập mới có buồn thương, giận ghét v.v... Nếu căn tiếp xúc trần mà thức thứ sáu không cộng tác duyên theo thì căn là căn, trần là trần, đâu có gì trói buộc vướng bận. Giống như con khỉ ở trong ngủ thì con khỉ ngoài dù có kêu ở mỗi cửa cũng vô ích.

    Thật ra sáu căn không có lỗi gì hết, vì làm con người thì phải có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Nhưng biết dùng đúng chỗ thì gọi là thánh nhân, còn không biết dùng phải bị đọa lạc nên gọi là phàm phu. Cũng như con dao bén, biết dùng vào những việc hữu ích thiết thực hay đem sát hại người, vật là nguyên do chính người biết sử dụng đúng hay chẳng đúng mà thôi. Lúc mê sáu căn hướng ngoại vọng cầu đắm nhiễm, làm những việc trái lương tâm mất chánh đạo phải bị đọa lạc gọi là mê lầm. Khi giác ngộ cũng từ sáu căn đó xoay vào chuyển hoá những thói hư tật xấu và không tạo thêm nhân dính mắc, trói buộc, nên nói là trí tuệ. Vì vậy, phàm hay thánh, khổ đau hay an vui hãy tự hỏi lại chính mình, vì tự mình chọn lấy chứ không có ai thưởng hay phạt chi cả. Hãy nhìn lại xem mình đau khổ là do ai? Có phải do chính mình cố chấp rồi khởi vọng kiến ái nhiễm, lại theo cái đà đó bị trôi lăn tự chuốc khổ chớ chẳng ai đem cái khổ đó đến cho mình. Điều này ta nên nghiệm lại thật kỹ để tự thấy.

    Phật và Tổ cũng là một con người ở trong thế gian này như tất cả chúng ta, tại sao Phật, Tổ lại an nhiên tự tại và có trí tuệ siêu việt như thế? Là vì Phật, Tổ biết chủ động sử dụng sáu căn của các Ngài đúng chỗ nên mới dứt các tạp loạn, không bị các pháp quấy nhiễu, vì thế mới được thiên nhân tán thán ca tụng gọi là Thánh nhân. Còn phàm phu thì bị hành nghiệp chủ động sai khiến sáu căn làm theo bản năng gọi là chúng sinh. Do đó cũng nơi sáu căn mà người biết tự chủ sử dụng thì giác ngộ giải thoát, bằng ngược lại thì đau khổ đọa lạc. Vì vậy trong kinh nói: “Đức Phật khắp mười phương tuy khác miệng nhưng đồng lời dạy bảo ngài A Nan cùng đại chúng: Chính sáu căn của ông là cội gốc sanh tử luân hồi, mà Vô thượng Bồ đề Niết bàn cũng chính từ sáu căn của ông chớ chẳng phải vật ở đâu khác…”. Nên trong nhân gian có câu “Giống nhau mũi thẳng mày ngang. Lòng phàm dạ thánh khác nhau nghìn trùng” là vậy.

    Đọc truyện ta thấy Ngộ Năng rất thật thà không có lanh lợi xảo quyệt như Tôn Ngộ Không, là nói khi các căn mở liền thấy biết an nhiên bình thản. Nhưng lúc mê mờ bất giác thì mở mắt dính sắc, mở tai dính tiếng v.v… cho nên khổ mãi. Bởi vì trong năm thức trước, mỗi thức khi duyên với trần cảnh đều bị “tùy niệm phân biệt và kế đạt phân biệt” của ý thức dẫn dắt xa rời cảm giác thuần túy, tách khỏi phạm vi chân thật, trở thành cảnh giới hư vọng sanh diệt vô thường. Rồi khi giác ngộ nhờ có trí tuệ thúc đẩy loại bỏ những vướng mắc, trói buộc nên thấy chỉ thấy, nghe chỉ nghe v.v. tức là trở lại Tự tánh phân biệt nguyên sơ ban đầu (vì tuỳ niệm và kế đạt của ý thức dừng hoạt động) thì mới thể nhận được sự an lạc giải thoát.

    Bởi có ý nghĩa như trên nên Ngô Thừa Ân lấy hình dáng con heo làm nhân vật tượng trưng cho năm thức và đặt họ cho Ngộ Năng là Trư (con heo). Còn đặt tên Ngộ Năng là nói phải luôn luôn giác ngộ thức tỉnh đừng ái nhiễm vướng mắc khi đối diện trước ngoại cảnh, mà buông bỏ từ từ không huân thêm chủng tử để trợ duyên cho tạng thức được trong sạch.

    Khi Trư Ngộ Năng còn là yêu tinh được Bồ Tát Quan Âm khuyến hóa cho thọ giới và khuyên đoạn tuyệt “Ngũ Huân, Tam Yến”. Có nghĩa là dừng tuyệt không cho 5 thức huân những chủng tử tạp nhiễm và đoạn trừ tham, sân, si. Đến lúc gặp Đường Tăng, Trư Ngộ Năng kể lại lai lịch mình thì được Đường Tăng đặt cho danh hiệu nữa là Bát Giới. Ý nói người giữ tròn tám giới (bát quan trai giới) được miên mật thì sẽ trợ duyên cho năm thức không dính mắc với năm trần, khiến cho thân tâm không bị ô nhiễm, dần dần để dứt sạch ba độc mà tiến đến giác ngộ giải thoát vậy.                                                                                              

  • 23. SA NGỘ TỊNH (Sa Tăng)

    SA NGỘ TỊNH

            (Sa Tăng)

     

    Sa Ngộ Tịnh là nhân vật tượng trưng cho thức thứ bảy mà trong duy thức học gọi là Mạc Na thức do phiên âm tiếng Phạn (Manas), Trung Hoa dịch là Ý. Nhưng vì chữ Ý dễ làm cho người học Phật lầm lẫn với ý thức thứ sáu, nên chữ Ý ít thấy dùng đến mà chỉ dùng danh từ Mạc Na thức mà thôi.

    Thức thứ bảy có thuyết gọi là ý căn. Trong sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý); năm căn đầu ở bên ngoài dễ thấy dễ biết, còn ý căn ở bên trong khó biết khó nhận. Ý căn là nơi ý thức nương tựa, nên nói ý thức là THỨC của ý căn. Ý thức là năng y (hay nương tựa); còn ý căn là sở y (bị nương tựa). Cũng như nói nhãn thức tức là THỨC của nhãn căn. Thế là căn với thức khác nhau (thức thì phân biệt sự cảnh, còn căn không có phân biệt).

    Thức thứ bảy có công năng gìn giữ tất cả nghiệp thiện ác cùng quả báo khổ vui trong ba thời (quá khứ, hiện tại, vị lai) không mất và nhớ nghĩ suy xét sinh diệt tương tục đang vận hành lưu chuyển. Có thể nói nó được biểu trưng cho những loài chúng sinh tâm đồng thời vận hành sinh diệt tương tục không gián đoạn, do đó khi pháp trần khởi hiện (những hình bóng trong tư tưởng) thì thức thứ sáu nương vào ý căn mà phân biệt với pháp trần, rồi bám vào dòng tư tưởng đó để khi đối diện với trần cảnh liền tiếp tục dấy khởi dính mắc trói buộc theo sự điều động của các thức đòi hỏi. Do đó người xưa nói: “Một lượn sóng nổi lên thì trăm ngàn lượn sóng đều nổi đùa theo sau”. Đây là nói ở con người thường tình.  Cho nên ba cõi có là do thức tâm biến hiện, thảy đều hư dối, giống như bóng trong gương vậy. Nếu chúng ta không tất cả thức tâm thì chẳng có cảnh giới của sáu trần, do đó người xưa nói: “Tâm sanh thì tất cả pháp sanh, tâm diệt thì tất cả pháp diệt”, hay câu: “Một tâm không sanh muôn pháp không lỗi” là ý này.

    Lại nữa, thức thứ bảy giao tiếp giữa thức thứ sáu và thức thứ tám, nó có nhiệm vụ đem những hình bóng bên ngoài vào tạng thức làm chủng tử và mang những chủng tử bên trong ra ngoài được biểu hiện qua hành vi ngôn ngữ, tư tưởng nên gọi là Truyền Tống Thức. Nó cũng giống như người giữ kho có bổn phận cho nhập những gì cần gìn giữ và làm cho hàng hóa khỏi hư hao mất mát. Đồng thời người đó cũng có bổn phận mang hàng hóa ra khỏi kho để tiêu thụ.

    Vả lại, tánh của Mạc Na luôn luôn nghĩ đến sự chấp ngã liên tục không gián đoạn nên nó có ảnh hưởng lớn đối với sáu thức trước. Thành thử, sáu thức trước hành động như thế nào cũng không ngoài lãnh vực chấp ngã và chấp pháp của Mạc Na, như là ta so sánh phải quấy, ta thấy đẹp, xấu, ta vui, ta buồn v.v..., hoặc là có những tai họa nào đó đưa đến bất thình lình ta liền bảo vệ sanh mạng bằng cách phản ứng tự nhiên. Hay là bị người kích bác, khinh chê nặng lời, chạm đến bản thân thì liền tự ái khởi niệm bực bội không vui, nếu không kiềm chế được thì tỏ ra những hành vi trả đũa lại ngay, ấy chẳng phải là bản ngã (thức Mạc Na) đang hiện hành thể hiện qua các hành vi ấy hay sao? Nó thọ nhận và chấp mắc đủ thứ làm cho ngã tướng càng ngày càng bành trướng và bảo thủ không lúc nào ngơi nghỉ.

    Ý là dòng tư tưởng lan man ở tâm mà trong duy thức gọi là “Hằng thẩm tư lương”. Thẩm là thẩm xét, thẩm định, tức là quan sát xét nét; tư là nghĩ ngợi, nhớ đến; lương là lo lường. Hằng thẩm tư lương là sự thẩm xét lo lường thường hằng không gián đoạn, đó là vọng tâm sinh diệt tiếp nối mãi. Nó giống như là dòng hình ảnh của cuộn phim ghép nối không mạch lạc và thứ lớp. Nhưng nếu chúng ta có nhận định kỹ một chút sẽ thấy, dòng hình ảnh có là do từng ảnh một ráp ghép lại thành, mà từ ảnh này đến ảnh nọ trong khoảng giữa hai hình ảnh đó có một khoảng trống chớ không phải nó khít liền nhau.

    Cũng vậy, nếu chúng ta có ngồi yên lại không duyên theo ngoại trần nữa thì sẽ thấy dòng tư tưởng đang trôi chảy lan man là do từng niệm tưởng rời rạc ráp nối lại thành, nhưng từ niệm tưởng này đến niệm tưởng nọ, giữa đó có một khoảng rỗng lặng – song rất ngắn ngủi, chớ không phải niệm niệm dính khít nhau. Nếu đã nhận rõ cái khoảng rỗng lặng giữa hai niệm tưởng thì đối với dòng tư tưởng ta không còn quan tâm, lúc đó thấy nó giống như là cái bóng ẩn ẩn hiện hiện trong khoảng rỗng lặng sáng suốt. Cho nên người hành đạo phải thấu rõ sự chuyển biến vận hành của ý là tướng sanh diệt, còn cái Rõ Biết được sự vận hành của ý chính là chủ nhân ông đang hiện diện tỏ sáng không lầm lẫn.

    Tuy biết ý căn không phải là mình, nhưng khi cần làm lợi ích cho nhân sinh thì phải khéo dùng nó làm phương tiện để quán sát xét nét nghĩ nhớ. Trong khi nghĩ nhớ xét nét thì lúc đó đã có chủ nhân ông hiện diện chủ động trong sinh hoạt, nên tất cả mọi động dụng, nghĩ tính suy xét đó cũng sáng suốt theo trong mọi việc mà không bị dính mắc trói buộc, vì trong cái sáng suốt đó không có tứ tướng (ngã, nhân …). Khi ấy Mạc Na thức đã chuyển thành trí thấy hết thảy pháp đều bình đẳng không còn so đo trên đối đãi, nên trong kinh gọi là Bình Đẳng Tánh Trí, từ đó mỗi hành động phát sanh đều từ năng dụng vi diệu của tự tánh lưu xuất.

    Mạc Na thức tánh của nó chẳng nhất định là thiện hay ác, khi duyên với thiện pháp thì nó sẽ giúp cho thân tâm làm tốt, nghĩ lành hợp với chân, thiện, mỹ. Trái lại, nếu nó duyên với ác pháp thì thân tâm trở nên bất thiện nhiễm ô, tạo ra vô vàn tội lỗi.

    Lại nữa, thức thứ bảy duyên kiến phần thức thứ tám (chủ thể nhận thức các sự vật) chấp làm thật ngã và thật pháp, nên hành tướng của nó thường lo nghĩ tinh tế trôi chảy sinh diệt không gián đoạn. Phàm phu do chấp thức này làm thật ngã tự trói buộc phải bị đau khổ đọa lạc. Còn hàng Nhị thừa thì kinh Lăng Già nói: “Hàng Nhị thừa cho thức tương tục lưu chú này diệt rồi khởi tưởng Niết bàn thảy đều chẳng lìa thức, mà không biết các thức do mê tự tâm hiện ra nên toàn thể là thức, toàn thức là tàng. Vì khi nó diệt thấy lặng lẽ chẳng dao động nhưng chẳng phải là tịch diệt, nó như dòng thác nước chảy nhanh, ở xa trong như yên lặng, vì chảy nhanh quá nên không thấy chứ chẳng phải là không chảy, nó trông như lặng lẽ mà không phải lặng lẽ. Giống như khi xưa đã thấy vật lạ, nay xem lại nghiệm biết nhớ ra rõ ràng không sai, đó là những ký ức chấp giữ thuộc về thức tánh. Nếu không phải sáu căn khai hợp (sáu căn thông suốt không trái nhau) thì vọng tưởng không lúc nào dứt. Bởi thức hết rồi sau sáu căn mới khai hợp, chứ không phải sáu căn hợp khai sau sáu thức mới hết. Tuy đồng một cái thấy, nghe hay biết này nếu chưa trải qua xoay trở về nguồn, tuy hiện tiền có đứng lặng mà vẫn còn một phần vọng tưởng vi tế, mà từng niệm từng niệm còn là do tập khí huân tập, thấy như đứng lặng mà không phải đứng lặng”.

    Có một câu chuyện tưởng chừng như mâu thuẫn và nghịch lý, nhưng lại mang tính chất thiết thực đối với người đã thấu rõ được lý thiền, vì thấy phù hợp với ý ở đây nên xin lược dẫn.

    Một bà già đã thông suốt lý thiền tông và hết lòng giúp đỡ cho người tu hành. Hôm nọ có một thầy tu đến nhà, bà nhiệt tình mời ở lại cất am cho thầy nhập thất tu, mọi việc sinh sống đều do bà giúp lo chu tất. Vì thiết tha tu nên thầy nhận lời và tu rất đắc lực.

    Thời gian trôi qua được ba năm, bà muốn thử xem thầy này tu có đúng với lý thiền hay không, và cũng muốn biết công phu tu của thầy ra sao. Nên một hôm, bà sai đứa cháu gái đã trưởng thành thay bà đem cơm, và bảo khi đem cơm đến hãy ôm ngang hông thầy rồi hỏi: “Ngay bây giờ thế nào?”. Cô gái chẳng biết bà có ý gì nên chỉ y theo lời mà làm. Khi đến thất đưa cơm xong cô liền ôm ngang hông thầy và hỏi câu đó. Thầy liền trả lời: “Khô mộc ỷ hàn nham. Tam xuân vô noãn khí” (Cây khô giữa (gần) núi lạnh, ba năm không hơi ấm). Cô gái nghe cũng chẳng biết gì chỉ nhớ câu ấy rồi về nói lại với bà. Khi nghe xong bà liền nói: “Uổng công mấy năm ta nuôi một ông thầy phàm phu”. Hôm sau bà đến thất mời thầy đi ra, rồi tự tay đốt am.

    Thầy đến nơi khác hành đạo một thời gian khá lâu, khi thấy mình đã có cái nhìn khác hơn trước, vội trở lại xin bà cất am để tu tiếp tục. Lần này bà thấy thầy có vẻ thay đổi tốt hơn trước nhiều nên chấp thuận và lo chu tất cho thầy tu. Thời gian trôi qua, một hôm bà lại sai đứa cháu gái lại làm và hỏi y như trước. Thầy vẫn bình thản trả lời một cách tự nhiên không nghĩ ngợi: “Tôi biết, cô biết, đừng cho bà già ấy biết”. Nghe xong cô trở về nói lại câu đó với bà, thì bà vội đi đến am đảnh lễ thầy một cách cung kính và tán thán ca ngợi.

    Nghe qua mẩu chuyện trên, đa số người cho rằng lúc nhập thất lần trước ông thầy tu rất đắc lực, thân tâm không còn nhớ nghĩ về dục vọng, dù người khác phái gần gũi cũng không động lòng, tâm thầy lặng trơ như cây khô, như núi lạnh, ba năm chẳng còn hơi ấm. Vậy mà bà già lại đuổi thầy đi không cho ở. Thật ra đó là kết quả của một lối dụng công rất hay, nhưng kết quả đó chưa phải rốt ráo, vì chưa biết được cái chân thật sáng suốt an định bất biến đang hiện hữu nơi chính mình. Mà thầy đó chỉ dụng công tu cho niệm vắng lặng, hay là đến chỗ dứt tâm ly dục để không còn trở lại Dục giới mà chuyển sang cõi Sắc giới, tức bốn cõi thiền của phàm phu (1- Ly sanh hỷ lạc. 2- Định sanh hỷ lạc. 3- Ly hỷ diệu lạc. 4- Xả niệm thanh tịnh). Nhưng chỗ thanh tịnh đó do có dụng công mà được. Còn Tâm chân thật thì chẳng phải thế mà xưa nay hằng thanh tịnh sáng suốt đã sẵn vậy, chớ không phải do dụng công mà thành. Nếu do đợi duyên tu hành mới có thì cái đó là một thứ bị tạo tác thành chớ chẳng phải là cái sẵn có, hễ cái gì do tạo tác thành thì bị sanh diệt không trường tồn. Vì thế kinh có nói: “Tất cả chúng sinh từ hồi nào đến giờ vẫn thường ở trong Bồ đề Niết Bàn, không phải do tu mới thành, do làm mới được, rốt ráo không có gì là chứng đắc, cũng không có hình tướng để thấy”. Thành thử, khi bà nghe câu cây khô giữa núi lạnh, ba năm không hơi ấm, thì bà nói “uổng công mấy năm ta nuôi một ông thầy phàm phu”, liền mời thầy đi tức khắc, vì thấy thầy tu không đúng với ý chỉ thiền tông.

    Đến khi thầy trở lại xin ở lần hai thì cũng bị thử như trước, nhưng thầy lại nói một câu khác hơn “tôi biết, cô biết, đừng cho bà già ấy biết”. Chính câu này làm cho nhiều người hiểu lầm, nói thầy tu sao giống người phàm tục quá mà bà già lại đảnh lễ tán thán như vậy! Nhưng theo thiển ý tôi thì câu ấy nói lên bà già đã rõ biết thiền Tổ sư nên mới có hành động kính lễ ông thầy như thế. Bởi vì trong nhà thiền thường quan trọng việc tu hành làm sao phải rõ ra cái chân thật (kiến tánh) làm đầu, rồi mới khởi sự công phu hành đạo. Vì sao? Vì khi thể nhận ra cái chân thật ở chính mình là chánh nhân thì tu mới đạt được chánh quả (giải thoát cứu cánh). Nếu cho chỗ hết dục vọng hay không vọng niệm là Đạo thì chưa đến cứu cánh, phải biết đó chỉ là giai đoạn đầu, hãy buông xả vượt qua để thể nhận cái linh tri không dao động hằng hiện hữu. Nhưng nếu ông thầy đó không có đạt cái trạng thái như lần ở trước thì lần sau làm gì thốt lên được câu: “Tôi biết, cô biết, đừng cho bà già ấy biết”. Chính câu này ông thầy đã nói lên cái chỗ sống của mình, và ông cũng vì cô gái ấy mà khai thị cho cô biết rằng chính cái cô đang RÕ BIẾT hiện tại đây và tôi cũng đang RÕ BIẾT hiện thực; cả hai đều có cái BIẾT hiện hữu thực tại không máy động nào của tâm thức (vì cô làm là theo lời của bà bảo, chứ cô không có tình ý gì với ông thầy, và thầy đó cũng không có máy động tình thức nào đối với cô gái cả). Còn câu: “Đừng cho bà già ấy biết” là ngay đây cô đang hiện thực BIẾT, nhưng khi xoay lưng trở về, trần cảnh thực tại không ghi vào tâm thức thì cô đâu có việc gì để nói lại cho bà già nghe! Và cái BIẾT ở nơi cô vẫn hiện diện không lúc nào thiếu vắng. Nhưng rất tiếc cô không nhận được lời khai thị đó, nên những lời thầy nói cô đã ghi nhận đầy đủ vào tâm về nói lại cho bà nghe hết.

    Ở đây nếu có cái nhìn sâu xa một chút mới thấy ông thầy nói một câu mà diễn đạt được hai ý. Một là thầy cho biết cái lối sống của thầy khi đối diện với trần cảnh. Hai là khai thị cho cô gái. Trong hai ý đó nói lên căn trần xưa nay vốn chẳng dính nhau, chẳng can hệ gì nhau. Nhưng rất tiếc cô gái không thể hội mà lại khởi tâm dính mắc thinh trần (câu tôi biết, cô biết, đừng cho bà già biết). Còn bà già khi nghe cô gái thuật lại thì biết ông thầy đã thấu đạt ý chỉ thiền Tổ- sư, do đó mới đến đảnh lễ thầy là vậy.

    Nói như thế để biết rằng tâm ý khó dừng, nhưng khi đã tạm dừng thì phải biết vượt qua để thể nhận cái linh tri xưa nay chưa từng sanh diệt, chưa từng dao động hằng hiện diện nương nơi sáu căn, chớ đừng thấy ý dừng rồi an trụ dính mắc nơi đứng lặng đó. Vì vậy kinh Lăng Già nói: “Thức thứ sáu cùng thức thứ tám làm nhân, làm duyên cho nhau nên thức thứ bảy y đó mà có, nó không có tự thể, vì do lỗi ở ý thức. Bởi ý thức gom góp cảnh giới của ngoại trần vọng có phân biệt, dẫn phát huân tập thành thói quen để đưa vào tàng thức, nên thức thứ bảy đồng thời chung khởi chấp ngã và ngã sở, suy tư nhân duyên tương tục không gián đoạn nên nói là thức thứ bảy. Do nhân duyên lần lượt lỗi là ý thức. Khi ý thức đã chuyển không còn gom góp cảnh giới ngoại trần nên phân biệt không còn sanh khởi nữa, thức thứ bảy cũng chuyển theo, kiến chấp theo đó hết thì tạng thức chuyển thành Như Lai Tạng tròn lặng”.

    Ngộ Tịnh có hình dáng nước da đen là nói thức thứ bảy để cho thức thứ sáu chiếm ngụ chỗ ở nên bỏ chạy vào nhập với thức thứ tám làm căn cứ. Bởi u tối si mê bám chấp thức thứ tám làm thật ngã, và luôn nhận bóng dáng của sáu trần đem vào tàng thức cất giữ thành chủng tử. Khi trực diện với trần cảnh thực tại thì tống khứ chủng tử ra ngoài hiện hành ở thân, miệng và ý. Do có ý nghĩa như thế, nên trong truyện diễn đạt Ngộ Tịnh trên đường đi đến Linh Sơn thỉnh kinh chuyên gánh vác hành lý là ý này.

    Thức thứ bảy hay lo nghĩ, suy tư, ghi nhớ sinh diệt tương tục thường đắm đuối bám chặt vào ngã tướng, nên Ngô Thừa Ân cho nơi cư trú của Ngộ Tịnh khi chưa giác ngộ là dòng sông Lưu Sa. Vì ở sông Lưu Sa chảy rất mạnh, do đó Ngô Thừa Ân lấy tên sông đặt làm họ cho Ngộ Tịnh là Sa. Nay đã giác ngộ, thức thứ bảy có tác dụng biết ngăn chặn sự hiện hành chủng tử và đào thải những chủng tử Ngã, Pháp ra khỏi tàng thức không còn chấp giữ nữa là nhờ thức thứ sáu không khởi tác ý, nên nó không còn thọ nhận những bóng dáng ngoại cảnh đem vào. Bởi biết ngăn chặn và đào thải mà dòng tương tục được tĩnh lặng, rồi trợ lực hộ trì cho tạng thức được trong sạch. Cho nên  xem truyện, ta thấy Ngộ Không khi được gỡ lá bùa thoát khỏi Ngũ Hành Sơn theo hầu Đường Tăng đến Linh Sơn, trên đường đi Ngộ Không thâu phục được Bát Giới và Sa Tăng cùng theo hầu Đường Tăng là nói lên ý: Khi Ý thức chuyển thì Năm thức trước và Thức thứ bảy cũng chuyển theo. Vì vậy, Ngô Thừa Ân chọn người có hình dáng nước da đen và gương mặt trầm lặng mà đặt tên là Sa Ngộ Tịnh, hay có tên thường gọi là Sa Tăng (ông tăng họ Sa). Cổ nhân có làm bài thơ nói về tám thức như sau:

           Bát cá đệ huynh nhất cá si

           Độc hữu nhất cá tối linh ly

           Ngũ cá môn tiền tố mãi mại

           Nhất cá gia trung tác chủ y.

    Nghĩa là:

           Anh em tám chú một chàng si (thức thứ 7)

           Duy có ý thức rất khôn ngoan (thức thứ 6)

      Năm người ngoài cửa lo buôn bán (năm thức trước)

           Làm chủ trong nhà đệ bát y (thức thứ 8).

     

  • 24. LONG MÃ (Ngựa Bạch)

    LONG MÃ

    (Ngựa Bạch)

     

    Khi Đường Tăng phát nguyện sang Tây Trúc thỉnh kinh, vua Đường có trao tặng cho một con ngựa để làm phương tiện đưa Ngài đến Tây Trúc, nhưng lúc đi đến khe Ưng Sầu thì bị yêu tinh ăn mất. Mà trước đó yêu tinh đã quy y với Bồ Tát Quan Âm, nên Ngài bảo nó đợi khi nào có người sang Tây Trúc thỉnh kinh đi ngang đây, hãy theo hầu đưa vị ấy không được trái lệnh. Yêu tinh vâng lời chờ đợi ... Song khi Đường Tăng đi ngang qua, vì nó không biết nên bắt con ngựa ăn mất. Bồ Tát biết được đến bảo nó phải làm ngựa thay thế để đưa Đường Tăng. Yêu tinh đó nguyên là con rồng bị đọa, nên khi hóa ngựa thì thành con Long Mã (hồi 15).

    Long Mã là con ngựa rất khỏe, dũng mãnh ít bệnh hoạn lại giỏi leo núi, xuống khe, qua rừng vượt suối, nhờ vậy mới đưa Đường Tăng đi suốt đoạn đường dài đến Tây Trúc được như thế.

    Ở đây nên biết con ngựa là chỉ cho sắc thân. Trên đường hành đạo chúng ta phải có một sắc thân khỏe mạnh, hăng hái giống như con Long Mã thì mới có thể vượt qua những trở ngại khó khăn của nghịch cảnh từ môi trường thời tiết và cuộc sống vật chất, nói chung là những hoàn cảnh tác động đến thân này. Nếu yếu đuối nhu nhược chỉ nghĩ đến sắc thân cứ lo chải chuốt chiều chuộng, không gan dạ chịu đựng sự nhọc nhằn gian khó, không cố gắng vượt qua những chướng ngại, hầu thoát khỏi mọi khổ ách để đến nơi an vui giải thoát, thì chúng ta sẽ bị đọa lạc trôi lăn biến dạng.

    Con ngựa của vua Đường tặng là biểu trưng cho sắc thân khi còn mê tối buông xuôi theo nhục dục của thế tình để cảm thọ, là một sắc thân yếu mềm nhu nhược thì chẳng thể vượt qua những khó khăn trở ngại. Nên khi Tôn Hành Giả đi cầu viện Bồ Tát đến thâu phục con rồng ở khe Ưng Sầu, Bồ Tát nói với Tôn Hành Giả: “Con rồng đó ta đã đích thân đến tâu với Thượng đế để đưa nó về đây cốt làm ngựa cho người lấy kinh cưỡi, nhà ngươi tưởng con ngựa phàm trần ở Đông Độ lại đi được thiên sơn vạn thủy à! Làm thế nào mà đến được Linh Sơn đất Phật? Phải có con Long Mã ấy mới đi tới nơi được”. Vì thế, con ngựa của vua Đường cho nếu không bị ăn thịt cũng chưa chắc đưa Đường Tăng đến nơi, mà phải là con Long Mã mới giúp được.

    Bởi chúng ta do thói quen chiều chuộng sắc thân nên trên đường hành đạo gặp lúc bệnh hoạn, thiếu thốn vật chất hay những khó khăn do nghịch cảnh đưa đến thì dễ bị thối tâm. Do đó phải khéo điều phục nó, không lo lắng quá mức, cũng chớ có khổ hạnh cùng cực mà hãy quân bình. Mặc thì che kín đủ ấm, đói có ăn đủ sống đừng đòi hỏi xa hoa, cầu kỳ và đừng ép xác đến suy nhược mà không tiến được trên đường hành đạo; còn nếu suốt ngày chỉ lo cho sắc thân thì dễ quên việc hành đạo. Thế nên, quá cung dưỡng thân hay khổ hạnh ép xác, cả hai đều là cực đoan cần phải tránh.

    Đối với thân, ta phải đặt câu hỏi là sống để làm gì? Như trong kinh nói thân này có hai mặt:

    Thứ nhất được thân người rất khó, nghĩa là có phước lắm mới được thân này.

    Thứ hai, nói thân này là gốc của tội lỗi. Tại sao vậy, có mâu thuẫn không? Thật ra không có mâu thuẫn gì cả. Vì được thân người là có phước thật sự, bởi cõi người là nơi vui ít, khổ nhiều nhưng lại có Phật pháp. Do đó, chúng ta biết nhận thức một chút sẽ thấy cõi người là nơi dễ tu. Vì sao? Vì thấy mình và người đều khổ mà trong pháp Phật đã chỉ quá rõ, lại đúng thực tế ở cuộc sống. Như mới Sanh ra đã khổ (khóc). Đã có thân thì phải có Bệnh, mà bệnh thì ăn uống và ngủ nghỉ không yên, nằm một chỗ cũng khổ. Già yếu gối mỏi mắt mờ, tai điếc, lưng đau làm gì cũng không được nên khổ. Khi Chết lo lắng sợ hãi, tứ đại nơi thân bức bách đau khổ. Mong cầu không được như ý nên khổ. Khi sáu căn mình mong muốn những cái hay ưa thích mà không được đáp ứng theo nhu cầu, cho nên phải khổ. Ví như thân mong muốn cảm xúc êm ái, nhưng ngoại cảnh không làm cho mình được toại nguyện, hoặc giả thân bị đau bệnh, bực bội nóng nực hay lạnh lẽo v.v... Kế nữa là Thương yêu nhau mà xa lìa phải khổ. Hoặc mình ưa thích cảm mến những cái làm vừa lòng thỏa mãn ở các căn, mình cảm thích hoài không muốn xa lìa, bỗng nhiên thất thường không còn như trước hoặc bị mất mát nên phải khổ. Kế nữa là đối tượng ta Thù ghét lại phải đối diện nên rất khổ. Hoặc có những cái một trong sáu căn mình không ưa thích mà nó cứ đến hoài làm cho mình bực bội. Ví như mũi không thích những mùi hôi thối mà nó cứ quanh quẩn ở bên mũi làm mình phải ngửi, do vậy nên khổ muốn xa lánh. Tiếp đến là Thân năm ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) luôn có sự xung đột mâu thuẫn nhau, như bị luật vô thường chi phối từ trẻ đến già, từ khỏe bất chợt bệnh, từ bệnh đến chết, thành thử rất lo buồn, lại bị thất tình lục dục lôi cuốn, bị vọng tưởng điên đảo xoay chuyển không tự chủ được nên rất khổ. Nói sơ bao nhiêu đó mỗi chúng ta tự cảm nhận nơi bản thân mình thì cũng đủ biết có thân này là khổ hay vui rồi!

    Ở đây nói khổ không phải làm cho con người bi quan, mà biết khổ để chúng ta tìm cách vượt qua không bị nó chi phối, chớ không phải nói khổ để giậm chân chịu khổ. Có cái nhìn như thế mới là người có trí, nếu không thì ta biết khổ lại càng thêm khổ. Nếu thật sự cuộc đời này là an vui thì người ta không tạo ra những cuộc vui này, trò chơi nọ để đánh lừa khỏa lấp những ngày tháng căng thẳng vất vả đua chen trong cuộc sống và mọi nỗi buồn khổ, lo sợ... Nhưng họ đâu có biết những cuộc vui đó là trá hình làm cho con người tạm quên đi sự căng thẳng và khỏa lấp nỗi buồn khổ để mà sống gượng gạo cho qua ngày đoạn tháng, chờ ngày trút hơi thở cuối cùng chẳng biết thác sanh nơi lành hay dữ. Nếu có nhận định kỹ thì ta mới  thấy được nỗi khổ nơi mình và người nên dễ thức tỉnh, có thể khi đủ điều kiện thuận duyên gặp thiện tri thức tìm hiểu học hỏi biết phương cách hành trì mà thực dụng giải khổ bản thân; hơn nữa thấy ai hợp duyên với mình có thể khích lệ họ thức tỉnh hầu thoát khỏi khổ ách kiếp nhân sinh. Hành trì ở đây không phải hành hạ thân xác, mà là thực hành đúng pháp của Phật dạy cho phù hợp với tâm bệnh của mình thì mới hết khổ. Nên nói được thân người là có phước và biết dùng thân này để chuyển hóa những nỗi khổ trở thành an vui. Thành thử con Long Mã là hình ảnh minh họa biểu trưng cho những điều vừa nêu trên.

    Kế đến, nói thân là nguồn gốc của tội lỗi, nghĩa là có thân mà không biết sống để làm gì, do đó cứ lo cố chấp, ái nhiễm hưởng thụ, cái gì cũng vì mình là trên hết, cho nên tham, sân, si, mạn, nghi... đầy ắp trong tâm, rồi sai khiến thân làm những điều tội lỗi xấu ác phải bị đọa lạc không thể tránh khỏi.

    Tuy rằng sắc thân là duyên hợp tạm bợ, nhưng biết dùng hãy nương nó để thoát khỏi khổ não, đưa ta đến an vui giải thoát, chớ không phải thấy tạm bợ rồi lo hưởng thụ, sợ nó mất không thưởng thức được dục lạc thì điều đó rất sai lầm. Như ngài Sơ tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông khi còn làm vua đã hiểu đạo tu hành, ở ngay trong triều đình mà Ngài xem của cải châu báu và cung phi mỹ nữ như dép rách không màng tới. Sau khi truyền ngôi lại cho con, lúc thì Ngài vào núi ẩn dật tu hành, khi tùy duyên đi giáo hóa nơi này nơi kia chớ không ở một chỗ để hưởng thụ.

    Trong kinh nói được thân người cũng giống như con rùa mù tìm bọng cây trôi ở giữa biển để chui vào, nhưng con rùa mù lại một trăm năm mới trồi đầu lên một lần thì chắc gì gặp bọng cây mà chui vào? Cũng thế, chúng ta được thân này khó như con rùa mù tìm gặp bọng cây mà chui vào vậy. Thực tế là thời nay vì kế hoạch hóa gia đình và y dược phát triển nên có thuốc ngừa và phương pháp tránh thụ thai. Hơn nữa trong đạo Phật có nói nếu người nào hiện đời giữ tròn được năm giới thì đời sau mới trở lại làm người toàn vẹn luôn gặp những điều tốt lành. Bằng ngược lại thì đời sau khó được làm người, nếu có được làm người thì thân tâm bị khổ sở nhiều mặt vì giữ giới bị khiếm khuyết. Song xét kỹ hiện đời được bao nhiêu người giữ trên năm mươi phần trăm của năm giới? Thành thử được thân người là một điều rất khó; đã làm thân người lại gặp được chánh pháp là điều khó thứ hai; gặp chánh pháp nhưng biết ứng dụng đúng đến nơi đến chốn là điều khó thứ ba.

    Lại nữa, chúng ta đang là những kẻ bị chìm thuyền ở giữa biển sanh tử (trôi lăn sáu nẻo luân hồi), lại vớ được khúc củi mục hay một tử thi trôi lềnh bềnh ở giữa biển không biết ngày nào rã tan (thân này) thì hãy tạm nương vào đó bơi vào bờ để thoát chết (giác ngộ giải thoát), chớ đừng vì quí khúc củi mục mà ôm mãi chẳng chịu rời thì một ngày nào đó nó sẽ rã hoại, ta sẽ bị chết chìm giữa biển sanh tử (rơi ba đường khổ). Cũng vậy, tuy biết sắc thân là giả dối tạm bợ, nhưng trong cái giả dối đó có cái chân thật đang ngầm ẩn, chúng ta phải biết nương sắc thân mà gắng sức hành đạo để sớm giác ngộ ra cái chân thật và đạt đến giải thoát cứu cánh. Vì vậy, được thân tráng kiện khỏe mạnh hãy cố gắng dũng mãnh, giữ vững ý chí đừng vì những cái hào nhoáng bên ngoài quyến rũ mà nhẹ dạ ngả lòng theo dục lạc, không khéo sẽ bị đọa lạc khốn khổ hơn kiếp sống hiện tại.

    Tóm lại, con Long Mã là tượng trưng cho sắc thân của hành giả đang trên đường hành đạo phải có ý chí gan dạ vượt qua bao nỗi khó khăn ở thể xác, chớ không nên yếu đuối nhu nhược mà sa ngã theo thế tình vậy.                     

     

     

  • 25. LỜI KẾT

    LỜI KẾT

     

    Theo lời đầu sách của truyện nói Tây Du Ký là bộ sách quí nằm trong tủ sách của mọi gia đình. Nhưng theo thiển ý tôi thì Tây Du Ký là bộ sách của mỗi người. Vì tất cả nhân vật trong truyện đều ám chỉ cho những trạng thái tâm của mỗi chúng ta. Ta là Đường Tăng đang trên đường thỉnh kinh, là Tề Thiên Đại Thánh náo loạn lung tung, là Tôn Hành Giả biện biệt rành rẽ, mà cũng là Trư Ngộ Năng, cho đến yêu tinh quỷ quái, hay Phật, Bồ Tát v.v... lại cũng là ta. Tại sao vậy? Bởi lúc mê mờ u tối thì tâm vị kỷ gian xảo, dối trá, hung ác, tham lam, sân si đủ cả. Rồi khi tỉnh thức giác ngộ thì hiền lành thánh thiện, từ bi vị tha... Mê tối hay giác ngộ cũng chỉ là ta chớ không ai khác, chỉ biết chuyển hóa từ xấu thành tốt, từ mê thành giác, từ một chúng sinh chuyển thành Phật thánh chẳng phải hai người. Cho nên xem Tây Du Ký hãy nhìn lại mình, xem mình đang giống nhân vật nào trong truyện để chỉnh đốn lại cho được hoàn thiện hơn.

    Là người con Phật phải xét nét kỹ lưỡng để chọn cho mình một lối đi cao thượng tốt đẹp chớ đừng theo con đường trụy lạc tăm tối mà phải bị đọa lạc ba đường xấu – Súc Sanh, Ngạ Quỷ, Địa Ngục; xa hơn nữa là ba đường lành – Trời, Người, A Tu La, mà ba đường này vẫn bị khổ sở vì sanh, lão, bệnh, tử chi phối. Dù biết rằng trên đường đi cao thượng tốt đẹp đó có nhiều chướng ngại thì phải khéo mượn phương tiện. Vì thế, trong thiền môn nói phải lấy trí tuệ làm đầu mà dò đường dẫn lối, là phương tiện tốt nhất để nương tựa. Bởi chúng ta từ lâu bị vô minh che lấp nên mê mờ không thấy rõ chân lý nơi các pháp phải bị trầm luân, nếu không dùng trí tuệ để chiếu phá đêm tối vô minh thì không có phương tiện nào hay hơn cả. Dùng sáng để phá tối là cái chân lý từ ngàn xưa đến giờ không bao giờ thay đổi được, trừ phi các bậc có trí tuệ sáng suốt hoàn hảo.

    Nếu đến với đạo Phật bằng tín ngưỡng mà không trí tuệ thì sẽ dễ sanh mê tín, vì chỉ biết cầu xin tha lực bên ngoài rồi sanh ỷ lại chớ chẳng chịu tự lực cải hối chuyển hóa những thói hư tật xấu. Nếu cầu xin không được như ý thì nói cầu Phật ở chùa không linh, rồi nghe nói nơi nào đó cầu được linh ứng liền chạy đến lạy lục khẩn cầu, nên chúng ta thấy có số người tuy đi chùa nhiều nhưng khổ lại vẫn khổ. Đó là do họ không chịu học hỏi giáo pháp để ứng dụng trong cuộc sống. Phần đông người đến với đạo vì tình cảm nhiều hơn là lý trí. Họ đến với đạo để cầu xin Phật, Bồ Tát ban phước lành và nhờ quí thầy quí cô chú nguyện tiếp sức cho họ hầu vượt qua những khó khăn của nghịch cảnh, nhưng thực tế có được như ý chăng? Nếu không được như ý họ mất lòng tin ở đạo, do đó dễ sanh tâm hướng qua những điều mê tín dị đoan rồi lạc vào tà đạo. Hoặc giả có người thấy quí thầy quí cô có phẩm hạnh gì đó nên sanh lòng cảm kính quí mến mà theo đạo chớ không chịu học hỏi, hay có học hỏi lại chẳng thực hành theo lời dạy để giải bớt những vướng mắc trói buộc ở lòng và khi trực diện với nghịch cảnh không bị chúng chi phối, thành thử chẳng giải tỏa được nỗi khổ; đó là do chính họ không thực dụng chứng nghiệm chứ chẳng phải lời dạy của Phật không giá trị. Bởi họ đến với đạo bằng tình cảm nên khi được đáp ứng đúng theo nhu cầu, như ý muốn thì họ có cảm tình với đạo, với quí thầy cô, bằng ngược lại thì buồn, có đôi lúc lại than vãn trách móc, từ đó tham sân si tác khởi. Cho nên, khi đến với đạo phải có trí tuệ suy xét tìm hiểu để học hỏi, xem xét những lời đó có đúng với chân lý các pháp trong thực tế cuộc sống không? Nếu có lợi ích cho chính mình cùng mọi người mọi vật trong hiện tại và những đời sau thì mình mới tin theo học hỏi thực hành, chứ đừng nghe theo ai hoặc nhất thời xu hướng, sẽ không có lợi cho ta sau này, vì đạo Phật là đạo tự giác.

    Nếu tìm hiểu học hỏi ứng dụng đúng thì trí tuệ càng ngày càng phát triển, mới giải được bao phiền muộn do tham, sân, si tác động và cởi mở bớt thất tình lục dục đang cột trói. Nếu ứng dụng đúng một phần thì giải bớt khổ một phần, thành thử được vui một phần, còn ứng dụng đúng rốt ráo y như lời Phật dạy là vui trọn vẹn, chớ không phải tu rồi đợi bỏ thân này qua bên cõi Phật mới an vui. Cho nên đạo Phật là đạo rất thiết thực ngay cuộc sống.

    Đạo Phật là đạo tự lực, tự giác. Bởi ta tạo nhân thì phải chấp nhận quả báo chớ không có ai thưởng hay phạt cho ta cả. Tự trói buộc chúng ta phải tự mở lấy, thầy và bạn chỉ là những người trợ duyên giáo huấn hướng dẫn ta tiến trên đường đạo, chứ không thể gánh chịu bớt niềm đau nỗi khổ của mình hay ban phước lộc gì cho ta, mà chính chúng ta phải tự nỗ lực chuyển hóa thôi. Tuy thế nhưng khi nương tín ngưỡng, gặp những hình tượng Phật và Bồ Tát ta chiêm ngưỡng, lễ bái là để noi theo những đức tính siêu phàm ở các vị chớ không phải lễ lạy để cầu xin hay nhờ các Ngài ban ơn cứu rỗi. Chúng ta đừng có quan niệm rằng Phật, Bồ Tát là những vị thần linh hay ban phước lành, mà phải biết đó chỉ là những hình ảnh được biểu trưng qua tư tưởng tín ngưỡng. Cho nên khi chiêm ngưỡng lễ lạy các Ngài mình phải biết ý nghĩa.

    Như Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni là vị có đức hạnh từ bi và trí tuệ siêu việt, nên khi chiêm ngưỡng lễ lạy là tán thán ca ngợi Ngài và noi gương học hỏi theo đức tính đó để ứng dụng trong cuộc sống. Do có học và làm theo thì trí tuệ sẽ phát sanh mới thấy lẽ thật các pháp. Hơn nữa, theo cách nhìn của Thiền tông thì hình ảnh Phật được biểu tượng cho tánh giác. Nếu ai biết trở về với tánh giác thì Phật ở ngay chính họ chớ chẳng phải Phật nơi cõi xa xôi nào. Hay chiêm ngưỡng Phật A Di Đà cũng thế, bởi Phật A Di Đà có những lời nguyện rất cao thượng, khi có chúng sinh nào tưởng niệm đến và làm đúng theo những điều Ngài dạy mà trong kinh còn ghi chép để lại thì sẽ được tiếp độ. Vả lại, Ngài là hình ảnh tượng trưng cho tâm thể thanh tịnh sáng suốt, nên nói Ngài có vô lượng công đức - vì tâm thể không bị hoen ố vẩn đục; có vô lượng thọ - vì tâm thể không bị sanh diệt; có vô lượng quang - vì tâm thể luôn sáng suốt không mê mờ. Khi lễ lạy hình tượng Ngài là để trở về tâm thanh tịnh sáng suốt ở chính mình cũng có những cái vô lượng như vậy. Nếu đã trở về sống với tâm thể thì an vui hết khổ. Còn như lễ Bồ Tát Quan Âm là noi gương theo hạnh ban vui và cứu khổ, hay nhẫn nại những khó khăn trở ngại để vượt qua. Lễ Bồ Tát Phổ Hiền là noi theo đức hạnh Ngài vì người tiếp độ lợi sinh, giúp họ vượt khỏi mê lầm. Lễ ngài Di Lặc là học và làm theo hạnh hỷ xả, buông bỏ những cố chấp dính mắc để được an ổn, vui vẻ. Lễ Bồ Tát Văn Thù là nương hình tượng Ngài mà phản quan tự kỷ để phát huy trí tuệ trở về căn bản trí sẵn có nơi chính mình. Lễ ngài Đại Thế Chí là học hỏi cái ý chí dũng mãnh, tinh tấn của Ngài để ngõ hầu vượt qua bao khó khăn chướng ngại mà tiến đến giác ngộ giải thoát. Vì vậy, khi lễ lạy phải biết ý nghĩa như thế, chớ không phải lễ lạy để cầu xin.

    Hơn nữa, khi lễ lạy các Ngài là chính ta tự biết xả bỏ cái tâm cống cao ngã mạn, vì từ lâu phần đông chúng ta hay tự tôn tự đại nên xem thường mọi người ít chịu cúi mình khiêm hạ. Do đó tổ Bát Nhã Đa La vấn Hoàng tử Bồ Đề Đa La: “Trong các vật, vật gì là tối cao?”.

    Đa La đáp: “Trong các vật, nhân ngã là tối cao”.

    Hoàng tử Đa La đáp rất chính xác nên sau này tổ Bát Nhã Đa La truyền pháp y cho Hoàng tử kế vị làm tổ thứ 28, tức là tổ Bồ Đề Đạt Ma.

     Hơn nữa phải biết rằng, nếu ở thế gian ai ai cầu xin cũng được hết thì tất cả con người không ai nghèo, không ai khổ cả, lại làm mất đi sự công bằng và luật nhân quả nữa. Song trên thực tế không phải ai cầu cũng được. Ở đời ai cũng muốn làm ăn buôn bán mong lợi nhiều, nhưng đâu có được suôn sẻ hết, có người đạt, kẻ thì không. Kế nữa, khi đau bệnh nan y nằm một chỗ điều trị đủ thứ thầy thuốc mà không hết, rồi vái lạy xin các Ngài ban ơn cứu giúp cho lành bệnh, dứt khổ. Vậy thật sự có hết bệnh, hết khổ hay không? Nếu có được đi chăng nữa là do cái nghiệp quả làm cho mình bệnh đó nay duyên đã mãn, cộng với sự tịnh tâm nơi mình nên có thể cảm ứng đến năng lực của các Ngài trợ duyên, hay cũng có thể chiêu cảm cái phước dư thừa do mình đã tạo nhân tốt lành ở quá khứ, nay quả đến thấy có linh nghiệm giảm bệnh (hằng ngày vẫn dùng thuốc nhưng là cây cỏ sơ sài) vơi bớt khổ hay được như nguyện, thì cũng là do sự tự lực của chính mình mà cảm nên, chớ đâu phải ai điều trị hay cầu xin cũng được hết đâu. Do có ý nghĩa như thế nên trong nhân gian người ta thường nói câu: “Phước chủ may thầy”. Nhưng đó chỉ là phần phụ, vì làm người là có nghiệp, mà có nghiệp là có bệnh hoặc ít hoặc nhiều, nên hiện tại thấy người thì bệnh nặng, kẻ bệnh nhẹ, có ai mà chẳng bệnh đâu phải không? Mà phần chính là hiện tại phải biết tự lực phát huy trí tuệ thấy đúng lẽ thật các pháp mới hết khổ. Vì thế tín ngưỡng và trí tuệ phải như đôi cánh của chim không thể tách rời thì mới lợi ích cho mình và mọi người.

    Có tín ngưỡng mà không có trí tuệ sẽ chẳng chịu tự lực loại bỏ sự dính mắc trói buộc ở lòng nên khổ lại vẫn khổ. Còn có trí tuệ mà không có tín ngưỡng thì dễ sanh tâm ngã mạn xem thường chẳng kính lễ ai, không học được những đức tính và hạnh nguyện cao thượng của các Ngài để phát huy những cái hay đẹp mà ứng xử trong cuộc sống tốt hơn.

    Hình như phần đông con người đều có tư tưởng khi lớn lên đến tuổi trưởng thành hiểu biết chút ít cuộc đời thì nương tựa ở môi trường sự sống thích hợp theo ý tưởng. Như về tình cảm họ tìm chỗ hợp duyên để nương tựa, hầu mong khi bệnh hoạn hay sức yếu tuổi già mà hũ hỉ có nhau lúc tối lửa tắt đèn. Còn về tinh thần thì lại nương vào sự tín ngưỡng tôn giáo ngõ hầu  được thần thánh phù hộ che chở khi lỡ tạo những điều lầm lỗi, hay cầu các vị ban phúc cho trong sinh hoạt cuộc sống được an lành tốt đẹp. Cũng có hạng người khi mang tâm trạng buồn phiền khổ sở lại nương vào việc mua vui nơi trà lâu tửu điếm, hút xách ăn chơi trác táng v.v... để thỏa mãn khoái cảm hầu xóa tan đi bao nỗi buồn khổ. Đó là nói lên sự yếu đuối của con người không thoát ra khỏi những ràng buộc ái nhiễm.

    Nếu mọi sự việc trên có thuận buồm xuôi gió đi chăng nữa thì cái vui đó chỉ là cái vui trá hình của đau khổ. Phải biết tất cả sự việc ở thế gian này đều không thường còn, luôn luôn thay đổi biến chuyển không dừng trụ. Nếu thấy có vui mà không giữ được mãi thì đó không phải trá hình là gì? Mà suốt cuộc đời bảy, tám mươi năm ở thế gian, chúng ta thấy những cái vui trá hình đó có làm thỏa mãn hết các dục vọng trong lòng mình chăng? Điều này ta hãy nên nghiệm kỹ lại để thấy bản chất thực của chúng đừng ái nhiễm chấp mắc. Nếu ý thức được cuộc sống tạm bợ như thế thì hãy nên chọn cho mình một lối đi cao thượng, đừng vướng phải những sự ràng buộc ấy để ngay hiện đời được nhẹ nhàng thảnh thơi hơn, và cũng là cái nhân tốt đẹp cho hậu lai thăng hoa tiếp tục cuộc hành trình tiến lên tột đỉnh tinh thần Chân, Thiện, Mỹ hay đến nơi cứu cánh giải thoát.

    Chúng ta biết chuyển hóa theo con đường thanh cao hay lối đọa lạc nơi tối tăm đau khổ là tùy sự lựa chọn của chính ta chớ không ai bắt buộc, và phải biết mọi sự ở đời tương đối này đều nằm trong luật nhân quả. Tuy nhiên, nói nhân quả như bóng theo hình, nhưng nếu chúng ta biết chuyển hóa thì sẽ thay đổi. Nếu không vun bồi chăm sóc những nhân bất hảo nữa và biết tái tạo lại nhân cởi mở an vui giải thoát thì kết quả của nhân tạo trước đó sẽ có chuyển đổi, trong tương lai cuộc sống sẽ thăng hoa tốt đẹp hơn.

    Muôn sự muôn vật không có gì là cố định, nó luôn luôn chuyển biến, nếu hội đủ nhân và duyên lại thì thành tựu nên có thiên hình vạn trạng sai biệt, khi duyên hết thì ly tán, bởi có tụ tán mà gọi là vô thường, thành thử vô thường là lẽ thường nhiên của các pháp, nên kinh nói: “Tất cả pháp đều là bất định pháp”.

    Trong đạo Phật người đạt niềm tin là khi đã có trí tuệ nhận xét đúng lẽ thật các pháp, sau khi tin rồi mới thực hành. Hoặc là theo tiến trình của sự học hỏi thì trong nhà Phật có dạy “Tam huệ học” (văn huệ, tư huệ, tu huệ).

    Văn là nương nơi văn tự kinh luận hay nghe những lời dạy bảo của các vị đã thực dụng nghiệm chứng qua lời Phật dạy, rồi tự tư duy, ngẫm xét (tư) xem có đúng với chân lý và thực tế hay không? Nếu thấy đúng rồi khi ấy ứng dụng thực hành theo (tu) thì mới nếm được hương vị an lạc qua sự chứng nghiệm, mới thấy lời của Phật dạy rất thiết thực. Nếu nghe đâu tin đó chẳng chịu tìm hiểu suy xét kỹ lưỡng thì sẽ dễ lầm lạc không có lợi cho ta sau này, đôi khi còn bị rơi vào mê tín. Vì vậy, một trong tám phương pháp của Phật dạy (Bát Chánh đạo) Chánh kiến là bước đầu.

    Chánh kiến là cái thấy chân chánh, cái thấy đúng lẽ thật các pháp, thấy không lệch lạc nên cũng gọi là trí tuệ. Cho nên trí tuệ là bước đầu khi ta đến với đạo Phật. Nếu không có trí tuệ thì sẽ dễ bị lầm lạc không thể nào đi đúng đường đến an vui giải thoát, có khi phải bị rơi đọa vào chốn tối tăm nữa.

    Con người sở dĩ hơn các loài động vật khác là vì có trí tuệ biết trở về với con người thật chính mình (Bổn tâm). Nhưng muốn vậy phải biết quay về giáp mặt một sự thật đang ngổn ngang trong lòng (những vọng niệm, vọng tình đang lưu chuyển) mà hóa giải chúng. Còn nếu không dám nhìn lại để chuyển mọi ngổn ngang ấy là do chúng ta cam nhận nó là mình mà quên đi cái linh tri huyền diệu, tức cố nhiên ta đã chấp nhận một cuộc sống chồng chất đầy kiến thức với những cố chấp sâu dầy đa dạng, thì con người mình cũng như mọi động vật khác, chỉ khác hơn chúng một chút về tri thức mà thôi. Cho nên khi con người không biết trở về với chính mình thì so với các loài vật khác đôi khi còn ác độc hơn chúng nhiều. Ví như, con thú dữ khi đói chỉ biết đi kiếm bắt lấy con vật nào đó cấu xé mà ăn, khi ăn no rồi thôi, chừng nào đói mới đi tìm giết nữa. Còn con người đôi khi vì tham vọng, hoặc sân si họ giết cả trăm đến ngàn người. Hay chỉ có con người mới dám đạp chân đè đầu con vật cắt cổ làm thịt rồi ngụy biện nói rằng: “Con gà con vịt ăn dơ ở dáy đầu thai kiếp khác làm ăn”. Còn loài vật thì không có cái kiểu đó. Cho nên sự hoạt động của ý thức khôn ngoan lanh lợi quá mà ta không biết trở về với con người thật chính mình thì chẳng khác chi những động vật hạ cấp. Nhưng động vật dưới một hình thức ngụy trang mới mẻ, nhìn thấy bề ngoài cũng đẹp đẽ lắm, mà đôi khi bên trong ẩn chứa đầy những ác độc và man rợ. Nên trong dân gian người ta hay châm biếm bằng một câu: “Thân người mà dạ thú”. Chúng ta phải biết cái tâm lăng xăng suy tư nghĩ tưởng vốn cũng là tướng hiện tượng như bao nhiêu hiện tượng vật chất khác. Nó là một thứ tướng tế nhị cũng do hội đủ ba yếu tố hợp lại thành. Như căn tiếp xúc cảnh bất giác thức sanh dính mắc duyên theo trần cảnh, rồi khởi tưởng suy nghĩ tiếp tục, nên thấy nó liên tục như một chuỗi dài do từng niệm từng niệm nối tiếp cho đó là mình thì quả thật mê lầm, mà chẳng biết tất cả căn cảnh trong ngoài đều do thức biến hiện, bản chất chúng vốn huyễn sanh, huyễn diệt; không tự tánh, không thực thể, thảy đều do vọng tưởng chấp trước mà thấy có các pháp. Nếu không vọng động thì các pháp trong ngoài vốn dĩ như nhiên, nên kinh Pháp Hoa nói: “Pháp nhĩ như thị” là vậy. 

    Thành thử chúng ta phải biết trở về con người thật chính mình là vấn đề trọng đại, mỗi người phải tự lo liệu lấy, chớ không ai làm thay cho. Hãy tự thắp đuốc lên mà đi, nhưng thắp lên đúng chân lý chánh pháp thì mới dứt khổ được vui.

    Tất cả chúng ta ai ai cũng luôn luôn đề cao và tôn trọng sự thật, nhưng đa số rất khó chấp nhận sự thật ngay lòng mình thì đối với kẻ khác làm gì ta có sự thật tâm với họ? Cho nên việc quan trọng là phải khám phá thấy biết sự thật nơi mình để chỉnh đốn chuyển hóa những thói hư tật xấu (tham sân si chủ động), những cố chấp dính mắc trở thành chân thật, lành mạnh tốt đẹp cho cuộc sống bản thân và nhân loại.

    Nếu ai ai cũng biết quay về nhìn sự thật cõi lòng để chuyển hóa thì ở thế gian này sẽ trở thành cõi an vui hạnh phúc, vì không có những tâm ấu trĩ, ích kỷ và si mê v.v... Còn nếu chúng ta sợ không dám nhìn nhận sự thật ở lòng thì chẳng khác nào mình như yêu tinh quỷ quái, hay đang núp bóng dưới dạng Tề Thiên Đại Thánh luôn ngã mạn, lúc nào cũng lăng xăng không an ổn, cái gì cũng ta là trên hết. Hay giống Trư Ngộ Năng gặp thứ chi cũng tham đắm vướng mắc để rồi phải rơi lụy khốn khổ. Mỗi người hãy nhìn lại chính mình thì mới thấy lẽ thật đó, nên nghiệm kỹ chớ bỏ qua.

    Đường đến chùa Lôi Âm (Phật quả) xa hay gần nên hỏi lại chính mình, vì mình quyết định cho đoạn đường đó chớ không phải xa mười muôn tám ngàn dặm. Đến mau hay chậm là do ta chứ thầy bạn chỉ trợ duyên thúc đẩy cho ta tinh tiến trên lộ trình. Có đi ắt có ngày đến, hoặc sớm hoặc muộn vậy thôi.

    Khi trí tuệ phát sanh thì ta sẽ có niềm vui ngay trong cuộc sống làm cho thân tâm vững mạnh hơn và tăng thêm ý chí, nghị lực vượt qua chướng ngại. Bởi có yếu tố trí tuệ chúng ta tự biết chuyển hóa những nỗi khổ và niềm đau buồn một cách mầu nhiệm linh hoạt không cứng nhắc cố chấp, nên được an lạc. Đó là một thức ăn mà người hành đạo chân chính phải có thưởng thức thì mới nếm được hương vị của Phật pháp hay hương vị giải thoát, mà trong đạo Phật gọi là “Thiền duyệt vi thực”.

    Nếu người hành đạo mà không thưởng thức được hương vị của đạo thì dễ nản lòng thối chí sa ngã qua nếm hương vị tạm bợ của dục lạc. Hương vị của dục lạc là nhất thời chẳng khác nào một miếng ăn ngon khi nuốt qua khỏi cổ. Trong lúc thưởng thức tuy thấy có vui mà không biết cái vui đó chỉ là một chuỗi dài đau khổ (vì vui không được tồn tại nên ta luôn nuối tiếc). Muốn tìm lại hương vị đó ta chỉ thấy qua sự tưởng tượng chứ không thật có, nên nó là trá hình của đau khổ; lại duy trì tư tưởng đó để nối tiếp khổ đau ở vị lai. Đó là điều mà hầu như chúng ta hay mắc phải. Còn hương vị của đạo lúc nào cũng vui, khi đói hay no, khi lạnh lúc ấm đều cảm nhận vui, cho đến lúc bệnh hay sắp lìa bỏ cõi đời cũng thấy an vui nhẹ nhàng chớ không như người thế tục. Vì sao? Vì đã sáng suốt rõ ra con người thật chính mình và lẽ thật trên các pháp mà được an lạc.

    Tuy nhiên, dù đã thức tỉnh giác ngộ có trí tuệ nhưng trong tâm còn nhiều tập khí sâu dầy, phải luôn giữ vững ý chí lập trường, dũng mãnh tinh tiến để hóa giải chúng. Rồi một ngày nào đó tâm không còn trụ bám vướng mắc các pháp, lòng thanh thoát thảnh thơi an nhiên trên muôn cảnh mới không hổ thẹn.

    Phật thân hiện ẩn ngay lòng người

    Hồi tâm phản tỉnh gắng tiến tu

    Giải bao vướng mắc phiền lụy hết

    Sáng tỏ đạo mầu dứt khổ đau.

     

    *        *        *        *        *

     

    Những lời lẽ trong đây xin quí vị hãy xem như là một giọt nước thấm qua cổ người đang ở giữa sa mạc.

Mục lục

Tây Du Ký qua cách nhìn của người học phật
  • 1. Dẫn nhập
  • 2. Huyền sử hay chính sử
  • 3. Tất cả là một
  • 4. Ý thức từ đâu
  • 5. Công năng ý thức
  • 6. Ý mã
  • 7. Tâm vượn
  • 8. Ngoại chướng
  • 9. Sắc dục
  • 10. Vàng bạc
  • 11. Bát phong
  • 12. Nội chướng
  • 13. Sáu giặc
  • 14. Vọng và chân
  • 15. Thất tình
  • 16. NGUỒN GỐC CỦA NIỆM
  • 17. TAM ĐỘC
  • 18. TÂM THỨC
  • 19. TRÍ & THỨC
  • 20. HỶ XẢ
  • 21. ĐƯỜNG TĂNG(TAM TẠNG)
  • 22. TRƯ NGỘ NĂNG (Bát Giới)
  • 23. SA NGỘ TỊNH (Sa Tăng)
  • 24. LONG MÃ (Ngựa Bạch)
  • 25. LỜI KẾT

Tìm kiếm

Lịch

Thống kê truy cập

  • Lượt truy cập: 15904
  • Online: 35