Con đường tự thắng mình 1

15/03/2016 | Lượt xem: 0

LỜI ĐẦU SÁCH

 

 

Tập sách nhỏ này ghi lại  những bài giảng của ĐĐ. Thích Đạt Ma Khế Định - Trụ trì TVTL Chánh Thiện - Bình Thuận tại các đạo tràng, do một nhóm Phật tử phát tâm ghi lại để những Phật tử chưa có điều kiện nghe giảng trực tiếp hoặc nghe qua băng đĩa được đọc.

Với mong muốn tha thiết những bài giảng này có thể mang lại lợi ích cho các Phật tử trong quá trình tu tập, chúng con đã trình Thầy tâm nguyện của mình và được Thầy đồng ý cho in để nhiều người cùng đọc. Vì ghi từ lời giảng nên tập  sách không tránh khỏi những khiếm khuyết. Mong quý độc giả thông cảm và bỏ qua cho những lỗi mà chúng con vấp phải.

Chúng con cũng xin dâng tấm lòng thành kính tri ân của chúng con đến Hòa thượng Ân Sư và xin hồi hướng công đức in sách  xin Sư Ông trụ thế lâu dài để hàng Phật tử chúng con được nương theo tu tập.

Chúng con xin được hồi hướng công đức này đến bốn ân ba cõi, khắp pháp giới chúng sanh, nguyện cho tất cả đều trọn thành Phật đạo.

Nhóm Phật tử Miền Bắc

  • 1. Đạo Phật Đến Để Mà Thấy

     

    ĐĐ.Thích Khế Định thuyết giảng tại
    Thiền tự Đạo Viên Canada

    Đức Phật đã dạy: “Gieo nhân nào gặt quả đó”. Ngày hôm nay quý vị được làm thân người, sáu căn đầy đủ thì phải biết rằng trong quá khứ mình đã gieo nhân rất tốt. Nếu không tiếp tục gieo nhân thì dù cho quý vị có đến chùa, được Thầy cầu chúc điều tốt lành mà quý vị còn có tâm sát sanh thì lời cầu chúc cũng vô ích. Nếu muốn được an vui thì phải khởi tâm từ bi.

    Muốn có được tâm từ bi thì phải gieo nhân.

    Có một vị Thừa tướng một hôm đến thưa với Thiền sư Mã Tổ: “Nên ăn thịt uống rượu hay không nên ăn thịt, uống rượu?”

    Thiền sư Mã Tổ trả lời: “Ăn thịt uống rượu là duyên phận, còn không ăn thịt uống rượu là phúc khí”. Tức là nếu quý vị được ăn thịt, uống rượu đầy đủ là duyên phận của quý vị tốt. Nếu quý vị ở một xứ nghèo khổ, muốn ăn thịt, uống rượu cũng không có. Đó là do trong quá khứ đã gieo nhân xấu nên giờ chịu quả khổ đói kém.

    Còn “Không ăn thịt, uống rượu là phúc khí”, có nghĩa là mình có mà mình không ăn hoặc giảm bớt, chẳng hạn như có ngày đáng lẽ quý vị định giết gà để ăn mà mình kiêng cữ không sát sanh (như mùng 1 hoặc ngày rằm), tức là có sự giảm bớt thì phúc của quý vị ngày càng tăng trưởng, tạo nhân lành để kiếp sau mình sinh ra trong cảnh yên ổn hơn ngày hôm nay. Cho nên chúng ta phải tạo dựng cho mình một cuộc sống có sức mạnh của lòng từ.

    “Từ” là ban vui, “bi” là cứu khổ. Đức Phật thấy chúng sanh còn lăn lộn trong ba đường sáu nẻo, sống chết không biết đi về đâu nên Ngài khởi tâm từ bi, bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp, con thơ nên quyết tâm ra đi tìm đạo, thấy được con đường thoát khổ và chỉ dạy lại cho chúng sanh cũng ra khỏi cảnh khổ.

    Tinh thần của Bồ Tát đạo luôn luôn lấy ba pháp làm tiêu điểm.

    Một là “chúng sanh từ”, có nghĩa là theo cặp mắt của người giác ngộ thì thấy tất cả chúng sanh trong cõi đời này đều có nhân duyên nhiều đời từ kiếp quá khứ, hoặc làm cha, hoặc làm mẹ, hoặc làm anh em. Đức Phật có dạy: Đi cùng trên một chiếc thuyền hay chuyến đò đã có nhân duyên 500 kiếp, cho nên phải có nhân duyên rất sâu dày nên ngày hôm nay chúng ta mới cùng nhau ngồi đây nghe và học hiểu Phật pháp. Cho nên hàng Bồ Tát lấy “chúng sanh từ” làm tiêu điểm để đi vào cuộc đời này. Quý vị thử nghiệm một điều: Tại sao trong cuộc đời, nhiều khi mình khởi được tâm từ bi đối với con vật nhưng lại không thể khởi được tâm từ bi đối với con người, có khi cả với người thân của mình, thậm chí nhiều khi còn thù ghét, tật đố, ích kỷ. Sở dĩ như vậy là do chúng ta không có sức mạnh của lòng từ. Còn khi  chúng ta có sức mạnh của lòng từ thì dù cho người đó có chỉ trích, đánh đập, hủy nhục mình, mình vẫn cười, an ổn sống trong cuộc đời này. Đó mới là người Phật tử chân chánh. Cho nên Phật pháp rất là thiết thực, mình học Phật pháp không phải là học suông mà học để cho mình có được sức mạnh của lòng từ.

    Hai là “Pháp giới từ”. Theo cặp mắt giác ngộ của chư Phật, chư Bồ Tát thì tất cả chúng sanh đều là huyễn và tất cả các pháp cũng đều là huyễn. Bồ Tát vào cuộc đời này, biết các pháp là huyễn, chúng sanh là huyễn nhưng các Ngài vẫn khởi tâm từ bi, dùng sức mạnh của lòng từ để đánh thức, lay tỉnh mình khỏi cơn mê.

    Ba là “Vô duyên từ”, tức là lòng từ không cần duyên cớ. Sở dĩ các Ngài bố thí, thấy đói liền cứu, thấy khổ liền giúp, làm hết tất cả thiện pháp mà không chấp, không trụ là bởi vì có lòng từ không duyên cớ. Sở dĩ các Ngài được như vậy là do có sức mạnh của lòng từ bi đã gieo nhân từ thời quá khứ. Còn mình nhiều khi bố thí, cúng dường cầu phước là mình có pháp để chấp, có pháp để trụ.

    Trong Kinh nói: “Chư Phật trong mười phương đều chứng quả trong nhân đạo”, có nghĩa là Phật pháp tại thế gian, chẳng lìa thế gian mà giác ngộ. Lìa thế gian tìm quả Bồ đề giống như tìm sừng thỏ. Muốn thành Phật đạo, đừng ỷ lại vào việc đến chùa, tụng kinh, sám hối. Đến chùa gieo duyên với Tam Bảo cũng tốt, nhưng chỉ là tu với Phật, còn ra ngoài đời mới là tu thực sự. Ở chùa, quý vị tụng kinh, sám hối, ngồi thiền rất là thành tâm nhưng về nhà bị người thân nói ra nói vào mà quý vị nổi tham, sân, si thì Phật đạo khó thành, sau này cận tử nghiệp đến sẽ dễ chiêu cảm quý vị đến cảnh giới xấu.

    Trong Kinh Duy Ma Cật: “Làm hết tất cả các việc phàm phu mà luôn luôn khởi niệm Phật đạo”, tức là khi lái xe hay khi nấu cơm, quét nhà, giặt giũ đều trong tinh thần chánh niệm, tỉnh giác. Muốn biết một người giải thoát hay không giải thoát thì thấy người đó sống trong cuộc đời giải thoát hay không giải thoát.

    Đức Phật do sức mạnh của lòng từ bi đã độ thoát cho người cực ác như Ương Quật Ma La (giết người rất nhiều) hay người nghèo hèn như ông Ni đề (làm nghề hót phân).

    Nhân địa tu hành Bồ Tát đạo: Bồ Tát thường dùng sức mạnh của lòng từ bi làm bổn nguyện, lấy thân mình làm cầu để độ cho tất cả chúng sanh, dù người đó là người thiện hay người ác. Bồ Tát vào cuộc đời đối với người thân hay người thù ghét, hủy nhục mình đều coi như bình đẳng, giống như cây cầu, có tình nhưng vô tình với tất cả các pháp. Quý vị cũng có thể có tình, thương hết tất cả mọi người nhưng trong tình thương đó vẫn lồng bản ngã của chính mình, không thâm nhập được tinh chất của con đường vô ngã, ai đụng vào mình thì dễ nổi sân, si.

    Thiền sư Triệu Châu một hôm có một vị tăng đến hỏi:

    “Nghe danh cầu đá Triệu Châu đã lâu, nhưng đến đây chẳng thấy cầu đá, chỉ thấy cầu khỉ”.

    Thiền sư Triệu Châu nói:

    “Ông chỉ thấy cầu khỉ, chưa từng thấy cầu đá”.

    Ông Tăng hỏi: “Thế nào là cầu đá của Triệu Châu?”

    Ngài nói: “Độ lừa, độ ngựa, độ hết tất cả mọi người”.

    Cầu đá Triệu Châu, đó là tâm bình đẳng độ hết tất cả chúng sanh, cho nên các ngài vào cuộc đời này nhưng không bị cuộc đời này làm cho đau khổ. Còn mình làm thiện pháp mà có tâm chấp trước thì ai nói gì mình cũng đau khổ.

    Trong Nhân địa Bồ Tát hạnh, Đức Phật cũng từng xả hết tất cả: đầu, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân để bố thí, cúng dường. Sở dĩ Ngài làm được như vậy bởi vì Ngài có sức mạnh của lòng từ bi. Quý vị cũng có thể bố thí giống như Đức Phật ngày xưa.

    Chẳng hạn có người chửi mắng, nhục mạ quý vị thì quý vị đừng duyên theo tiếng chửi mắng mà khởi lòng thương người đó đang nằm trong cảnh giới vô minh, nếu giờ mình chửi mắng lại thì không khác gì người đó cả. Tức khắc giờ đó quý vị đang bố thí lỗtai. Hoặc đi đến chùa hay chỗ đông người, nhìn thấy người mình không ưa, có thù ghét mà tâm bình thản, coi người đó giống như người thân của mình thì giờ phút đó mình đang bố thí cặp mắt (sau này ra đời cặp mắt như hoa sen). Trong cuộc sống, ai sanh ra cũng muốn mình xinh đẹp, nhưng không phải ai cũng được như ý, đó là do nhân địa tu hành ngày hôm nay, mình nói xấu người này, thị phi người nọ. Nếu như mình không nói xấu người này, người khác thì giờ phút đó mình đang bố thí lưỡi. Rồi trong cuộc sống, mình làm hết tất cả các việc thiện pháp mà không chấp trước, thì lúc đó mình đang bố thí tay, bố thí chân, bố thí tất cả mà không chấp trước tất cả. Bố thí bao gồm nội bố thí và ngoại bố thí.

    Ngoại bố thí là bố thí tiền, tài, của cải mà nội bố thí là bố thí thân mình, làm hết tất cả trong tinh thần từ bi và trí tuệ.

    Thực hành hạnh nguyện từ bi để làm sức mạnh trong cuộc sống đầy của cải vật chất. Trong cuộc sống giữa đời thường, nếu chúng ta không có sức mạnh, năng lực của lòng từ bi thì tâm thức mình sẽ luôn bị phiền não chi phối.

    Trong Kinh Trung bộ số 21, Đức Phật dạy:

    “Này các Tỳ kheo, như khi những tên đạo tặc hạ liệt dùng cưa hai lưỡi cắt tay chân các ông. Tuy vậy, ngay khi ấy, người nào giữ tâm thù hận, vì lý do đó người ấy không thực hành lời dạy của ta.

    Ở đây chư Tỳ kheo, các ông cần tu tập như sau: Tâm sẽ không lạc hướng, ta cũng không thốt lên lời ác mà chúng ta sẽ sống thân ái, bi mẫn với tâm thân thiện, không thù nghịch, chúng ta sẽ sống sung mãn toàn thể thế gian với tâm thuần thiện, bao la quảng đại, không căm thù, không sân hận, này các Tỳ kheo, đấy là các ông phải tu tập bản thân”.

    Chúng ta là Phật tử có dám phỉ báng Phật không? Phật nói nếu người nào tu học Phật pháp mà không thâm nhập được nghĩa lý của Phật pháp, không hành theo lời Phật dạy thì người đó phỉ báng Như Lai. Nếu ai đó nói nặng lời với mình, ngay khi đó mình giữ tâm bình thản, không thù hận, không thốt lên lời ác thì lúc đó mình đang sống với tâm từ ái, là thực hành theo những lời Phật dạy.

    Trong Kinh Trường bộ 1, Phật dạy:

    “Tu tập đời sống tối thượng là cách hành trì của các bậc thượng nhân, sống đời từ bi bởi vì đây chính là cách sống tối cao ở đời, hoặc là những trạng thái tâm cao thượng có tên từ ái, tình thương vô hạn, bao la và đầy thiện chí. Đối với muôn loại hữu tình, bi mẫn với tất cả chúng sanh đang đau khổ trong bất an, hoạn nạn và mong được cứu giúp”.

    Do đó, Đức Phật thường khuyến khích các đệ tử thực hành hạnh từ bi và Ngài luôn luôn nhấn mạnh đến con đường tu tập lòng từ. Nhờ phát triển lòng từ mà các đệ tử ngài có sức mạnh đi vào cuộc đời mà không bị cuộc đời làm cho đau khổ.

    Toàn bộ giáo pháp của Đức Phật đều nêu lên sức mạnh của lòng từ bi. Nếu có năng lực của lòng từ bi, quý vị khỏi cần ai cầu chúc điều gì cả mà vẫn được mạnh giỏi, được an lạc. Còn cầu chúc hay mà quý vị không gieo nhân thì cũng không được như lời chúc. Gieo nhân tốt thì mới gặt được quả tốt.

    Quý vị phải nhớ, đến chùa không phải là để xin. Phật không phải là một vị thần linh để ban phước, giáng họa cho ai mà Đức Phật là bậc thầy dẫn đường, chỉ cho mình biết đi con đường nào là con đường khổ, đi con đường nào là con đường an lạc và hạnh phúc, còn đi hay không đi là do chính mình quyết định.

    Trong Kinh A Hàm, khi ngài A Nan bạch Phật rằng:

    “Bạch Đức Thế Tôn, nửa phần giáo pháp của Đức Thế Tôn nằm trong việc tu tập lòng từ.

    Đức Phật dạy rằng: Không phải nửa phần mà toàn bộ giáo pháp của Như Lai.

    Trong Kinh Pháp cú, Phật dạy: “Lấy từ bi và ôn hòa để thắng nóng giận, lấy hiền lành để thắng hung dữ. Lấy bố thí và lòng rộng rãi để thắng san tham. Lấy chân thật để thắng giả dối”.

    Sở dĩ quý vị nóng giận là do mình không phát khởi được tâm từ bi. Nếu tâm từ bi sung mãn thì dù người đó nói nặng mình cũng bỏ qua. Cho nên những người hay nóng giận phải quán tâm từ bi thật nhiều để xóa bớt nghiệp nóng giận.

    Trong Kinh Pháp cụ, Phật dạy:

    “Vui thay khi ta sống

    Không hận giữa hận thù

    Giữa những người hận thù

    Ta sống không hận thù”.

    Tức là mình sống giữa những người tật đố, những người ghét mình mà mình không có hận thù, không có tật đố. Muốn được như vậy, mình phải phát khởi tâm từ bi thật rộng. Tinh thần từ bi đó có trí tuệ Bát Nhã, thấy đúng như thật.

    Chiến thắng chính bản thân mình, chiến thắng sự nóng giận, lòng tham lam của chính mình thì đó là người có sức mạnh bậc nhất.

    “Thắng ngàn quân địch chưa phải là chiến công oanh liệt nhất. Tự chiến thắng mình, đó mới là chiến công oanh liệt nhất”.
    Phương pháp tu tập hàng ngày để chuyển hóa tâm sân hận thành tâm từ bi:

    Trong Kinh A Hàm kể lại: Một hôm đi khất thực, Tôn giả La Hầu La được mấy đứa nhỏ chửi mắng. Lúc này La Hầu La khởi niệm hoàn tục, về nhà nối ngôi vua, sau đó sẽ giắt binh lính đến tàn sát làng này, đặc biệt là mấy đứa nhỏ. Đức Phật thấy được tâm niệm của La Hầu La bèn trách và bắt La Hầu La ngồi xuống dùng phương pháp sổ tức, theo dõi hơi thở và từng niệm xấu ác của mình. Sau khi thấy rõ được niệm xấu của mình thì quý vị mới chuyển hóa được niệm xấu thành niệm tốt được, còn mình sợ và trốn tránh thì làm sao mà chuyển hóa được.

    Tối trước khi đi ngủ, chịu khó ngồi lại tịnh tâm nhìn lại ngày hôm nay mình đã làm điều gì xấu ác, ảnh hưởng đến những người chung quanh mình. Khi thấy được rồi thì phải phát nguyện từ nay trở đi con không làm điều gì xấu ác cho người khác nữa. Như vậy, chắc chắn khi ra đi mình sẽ sinh về cảnh giới lành. Trong lúc đi trên con đường Bồ Tát đạo, quý vị phải thực thi con đường chánh niệm, làm việc gì rõ biết mình đang làm việc đó, biết là đúng hay sai. Đó là “trạch pháp giác tri”, phân biệt rõ ràng thiện và ác.

    Vì thế, tâm từ có đặc tính không luyến ái bất kỳ ai. Nó bao hàm một tình thân hữu không có nhục dục. Bởi vậy tình thương của Đức Phật trải rộng ra không chỉ có loài người, mà còn cho tất cả chúng hữu tình.

    Như trong Kinh Tiểu bộ, Phật nói:

    “Nguyện cầu an lạc chúng sanh.

    Mọi loài tâm trí tốt lành vui tươi.

    Cầu sao tất cả muôn loài,

    Cao to yếu mạnh ngắn dài, nhỏ chung.

    Dầu ta thấy được hay không,

    Những loài xa vắng hay gần bên ta.

    Những loài đã được sanh ra,

    Hoặc chưa sanh thảy an hòa tâm tư”.

    Trong Kinh A Hàm, Phật dạy tiếp:

    “Này các Thầy Tỳ kheo, thật không dễ dàng tìm thấy một vị hữu tình nào ở trong tiền kiếp lại không phải là mẹ, cha, anh, chị, con trai, con gái các ông ở một kiếp quá khứ trong vòng luân hồi tái sinh vô thủy này”.

    Có một ông Tăng trong pháp hội của Ngài Trí Khải đại sư, một hôm nhớ mẹ quá nên khóc. Ngài Trí Khải bèn nói: “Ông chỉ thấy được kiếp hiện tại là mẹ ông thôi, còn trong quá khứ lâu xa biết bao chúng sanh là cha, là mẹ của ông. Vô lượng kiếp về trước, cha mẹ ông rất là nhiều”. Lúc này ông Tăng tỉnh ngộ.

    Sở dĩ mình đau khổ trong cuộc đời này là mình chấp chặt vào cha mẹ trong hiện đời, còn với cặp mắt giác ngộ của đức Phật thấy tất cả mọi người đều là cha, là mẹ của mình. Thấy như vậy, quý vị còn khởi niệm sân hận được không?

    Trong Kinh Tăng chi bộ, Phật nói về mười một điều lợi ích của sự tu tập từ bi:

    1. Ngủ ngon
    2. Thức dậy thấy khỏe, nhẹ nhàng trong lòng (Người có tâm quảng đại, luôn bao dung, tha thứ thì ít bệnh hơn những người luôn cau có, cằn nhằn).
    3. Ngủ không có ác mộng.
    4. Được gần gũi và thân cận với nhiều người.
    5. Được thân cận loài phi nhơn và chim cá
    6. Chư Thiên ủng hộ, bảo vệ
    7. Không bị lửa, chất độc làm hại
    8. Dễ đi vào thiền định
    9. Nét mặt luôn trầm tĩnh
    10. Lúc chết không có mê mờ,
    11. Khi chết sanh vào cõi trời Phạm thiên.

    Trong Kinh Như Thị ngữ, Đức Phật dạy: “Tất cả công đức mà ta thực hiện ở trên đời, góp lại cũng  không bằng sự thực tập từ quán. Làm chùa, đúc chuông hay làm việc xã hội, v.v…, tất cả những công đức đó chỉ bằng một phần mười sáu công đức thực tập lòng từ. Cũng như khi nhìn lên trời, chỉ thấy trăng vào sao, và nếu ánh sáng của các ngôi sao hợp lại không bằng ánh sáng của mặt trăng”.

    Tóm lại, sống trong cuộc đời này phải luôn luôn phát khởi lòng từ bi đối với tất cả mọi người, đó là năng lực, là sức mạnh để chúng ta sống trong cuộc đời này mà không bị cuộc đời làm cho đau khổ.

  • 2. Pháp là con thuyền đưa chúng sanh thoát khổ

    ĐĐ.Thích Khế Định thuyết giảng tại Thiền tự
    Đạo Viên - Canada

    I. Dẫn nhập   

    Trong các thứ khổ của cuộc đời mà mình đã từng trải qua, Quý vị thấy cái gì là khổ nhất ?

    Đức Phật nói rằng, trong các thứ khổ của cuộc đời thì cái khổ sanh tử là lớn nhất. Chúng ta có mặt trong cuộc đời không phải chỉ có lần này mà trong vô lượng kiếp đã trôi lăn trong sanh tử. Nguyên nhân của việc trôi lăn trong sanh tử có một nguyên nhân chính. Lấy ví dụ cho dễ hiểu.  Ví dụ thứ nhất: hai người đi trong mưa, một người bị ướt và một người không bị ướt, người không bị ướt vì có cây dù. Cũng vậy, sanh trong cuộc đời này đều là khổ, nhưng mà khi cái khổ đến cùng một lúc, một người không cảm thấy đau khổ, bởi vì họ có cây dù Chánh Pháp che chở. Cho nên Đức Phật đã khẳng định rằng: “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, thắp đuốc với chánh pháp”.

    Ví dụ thứ hai, một hòn sỏi nhỏ bỏ xuống biển có chìm không? Chắc chắn là có chìm. Nhưng đem một tảng đá lớn bỏ xuống biển lại không chìm. Vì sao hòn sỏi nhỏ bỏ xuống biển lại chìm mà một tảng đá lớn bỏ xuống biển lại không chìm? Sở dĩ hòn sỏi nhỏ nhưng chìm vì không có gì nâng đỡ, còn tảng đá lớn bỏ xuống không chìm vì nhờ có một chiếc tàu lớn nâng chở. Chiếc tàu lớn ở đây được ví như Chánh pháp của Đức Phật, nhờ con thuyền chánh pháp này mà chúng ta vượt qua được những khổ nạn trong cuộc đời.

    Trong các thứ vui, thứ vui gì là tối thượng nhất?

     Đức Phật khẳng định rằng chỉ có người biết nghe pháp, biết hành pháp, đó là cái vui tối thượng nhất. Chúng ta có phúc duyên ngày hôm nay được ngồi đây nghe pháp, hạt giống chánh pháp không bị mất mà đến một lúc nào đó đủ nhân đủ duyên phát huy ra. Khổng Tử nói: “Sáng nghe đạo, chiều chết cũng cam lòng”.Ngày hôm nay, chúng tôi muốn chia sẻ với quý vị đề tài “Pháp là con thuyền đưa chúng sanh thoát khổ”

    II. Pháp là con thuyền đưa chúng sanh thoát khổ

    Đức Phật đã khẳng định: Chánh pháp là con thuyền lớn đưa chúng sanh thoát khổ.

    Tôi xin kể một câu chuyện.

    Một hôm, vua Đường Đại Tông đến gặp Quốc sư Huệ Trung

    - Bạch Hòa thượng, chúng sanh chìm đắm trong biển khổ sanh tử, làm cách nào để cứu thoát chúng sanh?

    Quốc sư không nói gì, sai thị giả mang ba thau nước đến, bắt con kiến bỏ vào. Thau nước lớn, con kiến rớt vào chắc chắn chết.

    Vua Đường Đại Tông liền quỳ xuống tha thiết xin Quốc sư cứu con kiến. Quốc sư sai thị giả ra vườn bứt cọng cỏ thả vào, con kiến bèn nương theo cọng cỏ ra khỏi thau nước. Vua Đường Đại Tông ngay đó liền ngộ. Ở đây, con kiến giống như mình là chúng sanh đang chìm đắm trong biển khổ, cọng cỏ như Chánh pháp đưa mình ra khỏi biển khổ sanh tử.

    Quốc sư khai thị: "Chỉ cần cọng cỏ nhỏ thôi nhưng nương cọng cỏ mà vào được bờ."

    Cổ đức có nói: “Một kiếp không tu muôn kiếp khổ. Một đời không ngộ vạn đời sầu”.

    Một kiếp nếu không được nghe pháp, không hành pháp, không chuyển hóa nội tâm thì muôn kiếp khổ trong sanh tử. Mà một đời không ngộ được bản tâm, con người chân thật của mình thì muôn đời sầu khổ.

    Chúng ta thấy rằng Chánh pháp của Đức Phật là vi diệu, tối thượng.

    Trong sử 33 vị Tổ, Tổ Bát Nhã Đa La đưa viên ngọc cho ba Thái tử xem, thì hai anh của Tổ Bồ Đề Đạt Ma nói rằng trên đời này không có gì quý bằng viên ngọc này, chỉ vua mới có được. Đến lượt Thái tử Bồ Đề Đa La (sau này là Tổ Bồ Đề Đạt Ma), Ngài trả lời rằng: “Châu này là của báu ở thế gian, trong các thứ trân bảo, chỉ có pháp bảo là cao tột nhất, là tối thượng nhất”. Sở dĩ chúng ta thấy được tiền bạc châu báu, cho đó là cao quý là bởi vì mình còn nghèo khổ, thiếu thốn. Nhưng Đức Phật đã khẳng định hạnh phúc đó mỏng manh, vô thường, tạm bợ, chỉ có Pháp bảo là cao quý, tối thượng. Trong các thứ thí, Pháp thí cũng là tối thượng nhất. Đây là ánh sáng của thế gian, trong các thứ ánh sáng, chỉ có ánh sáng trí tuệ là cao tột, là tối thượng. Muốn được trí tuệ này chỉ có nghe pháp, hành pháp mới có.

    Bàng cư sĩ lúc ngộ đạo, cảm khái làm bài kệ:

    Người đời quý trân bảo

    Ta quý sát na tịnh

    Báu nhiều loạn lòng người

    Tịnh nhiều thấy Phật tánh.

    Quý Phật tử thử nghiệm lại, sau những ngày làm ăn, bôn ba đi ngược về xuôi, được tiền nhiều cũng hạnh phúc, cũng vui, nhưng có những lúc cuộc đời sầu khổ, quý vị mất cha, mất mẹ, mất anh chị em, mất đủ thứ… Có những lúc quý vị ngồi yên, lắng tâm lại, giây phút này chỉ có tìm được nơi chính mình. Muốn được như thế chúng ta phải thiền tập, phải chánh niệm, đó là hạnh phúc từ nơi tự thân của mình.

    Báu nhiều loạn lòng người: Trong Thiền thoại có ghi lại, có anh nông dân nhà nghèo, nhưng cảm thấy cuộc sống rất hạnh phúc. Một hôm anh ra ruộng, cuốc đất đào được một bức tượng A la hán bằng vàng. Sau khi chở về nhà, cả gia đình đều mừng. Từ đó anh ăn không được, ngủ không được, không phải vì sợ trộm mà anh suy nghĩ xem 17 bức tượng còn lại nằm ở đâu.

    Như vậy, quý vị có thể thấy lòng tham của con người là vô bờ bến.

    Đức Phật đã dạy: “Chúng sanh khát ái về dục giống như uống nước biển, càng uống càng khát”.

    Sơ Tổ Trúc Lâm có bài kệ:

    Số đời một hơi thở

    Lòng người hai biển vàng

    Cung ma dồn quá lắm

    Cõi Phật vui nào hơn.

    Quý vị thử nghiệm lại xem mình sống được bao nhiêu? Chúng ta cứ nghĩ rằng mình sẽ sống 20, 30 hay 50 năm nữa, nhưng với cặp mắt giác ngộ của chư Phật, chư Tổ, cuộc đời chỉ trong một hơi thở, hít vô không thở ra là chết, trong khi đó lòng tham thì vô cùng. Chúng ta ít khi nào chịu lắng tâm nghe thánh pháp của Phật.

    Phật pháp rất vi diệu. Trong Luận Thập trụ Tỳ bà sa có ghi, Bồ Tát muốn có được trí tuệ thanh tịnh phải nên xa lìa các pháp làm giảm sút trí tuệ.

    - Không kính trọng pháp và người thuyết pháp.

    - Giấu kín và xẻn tiếc yếu pháp

    - Tạo chướng ngại, phá ý muốn nghe pháp của người ưa thích chánh pháp, tác hại nhiều đời nhiều kiếp, sanh ra đời không gặp Phật pháp và mất đi hạt giống trí tuệ.

    - Có lòng tự cao, xem thường người khác.

    Bồ Tát phải thường xuyên tu tập các pháp đạt được Trí tuệ Bát Nhã:

    - Cung kính Chánh pháp và người thuyết pháp.

    Tôi xin kể một câu chuyện: Cuối niên hiệu Khai nguyên đời nhà Đường có một nhà tướng số rất giỏi,chỉ cần nghe tiếng nói ông có thể đoán được một người có tuổi thọ dài hay ngắn. Một hôm, ông tướng sư đến trọ ở chùa Tư Thánh, ông nghe ngoài cửa có tiếng của một người hỏi thì ông biết rằng người này chỉ sống trọn một ngày hôm nay rồi chết. Ông lấy làm lạ bèn bước ra cửa xem người này là ai và tại sao lại chết yểu như thế. Ông thấy một vị đồng tử tuổi khoảng mười ba dung mạo đoan chánh dễ thương. Ông lấy làm tiếc nghĩ rằng tại sao trời sinh ra một con người dung mạo đoan chánh như vậy mà lại chết yểu. Sáng hôm sau, ông rất ngạc nhiên khi nghe tiếng của vị đồng tử nhưng âm thanh kỳ này rỗng suốt, tiếng nói rất lớn. Ông bèn nghĩ chẳng nhẽ mình coi tướng gần sáu chục năm mà sao bị trật, bèn quyết định đốt sách. Nhưng trước khi giải nghệ, ông muốn biết tại sao, bởi ông coi rất chắc chắn không sai được. Vị tướng sư ra hỏi vị đồng tử về thuật kéo dài tuổi thọ. Vị đồng tử nhớ lại, hồi hôm ở tăng phòng sát Chánh điện, trong lúc Chư Tăng giảng kinh Thọ mạng cậu chăm chú lắng nghe. Ông tướng sư bèn nói Phật pháp thật vi diệu không thể nghĩ bàn, dẫu đem hết sách tướng số cũng không thể so đoán được. Như vậy trong giờ phút thực tại này, vị đồng tử đúng ra tối nay chết, nhưng nhờ chăm chú lắng nghe Phật pháp mà đã được kéo dài tuổi thọ.(Nghe Pháp phải chăm chú lắng nghe).

    - Tâm thanh tịnh giảng nói cho người khác nghe đúng như mình đã được nghe và đọc tụng.

    - Siêng năng cầu học Phật pháp không ngừng nghỉ. Nghe Phật pháp không phải nghe cho vui mà phải suy ngẫm để chuyển hóa tâm. Lão Tử nói: “Bậc hạ nghe pháp cười to bỏ đi, bậc trung nghe pháp thoạt nhớ thoạt quên, bậc thượng nghe pháp thấm vào tứ chi, phổ ra hành động.

    Pháp chỉ là phương tiện, mục đích là chuyển hóa tâm. Nghe pháp để chuyển hóa. Nhờ nghe Phật pháp nhiều, chúng ta cũng dần được chuyển hóa.

    Trong truyện Tam Bảo cảm ứng có ghi vào đời nhà Đường có vị cư sĩ ở thành Dương Châu, ông không tin vào lý Phật tánh thường trụ trong kinh Đại Niết Bàn. Vì trong kinh Đại Niết Bàn có ghi: “Người nào chỉ cần nghe hai chữ “thường trụ” thì sẽ không đọa vào ba đường ác”. Thường trụ có nghĩa là không biến đổi, vĩnh cửu, miên viễn. Dù nghe mà không tin cũng không rơi vào 3 đường ác. Ông không tin, cho rằng dẫu nghe hết bộ kinh cũng chưa chắc không rơi vào ba đường ác đạo, nữa là chỉ nghe có hai chữ “thường trụ”. Về sau, vị cư sĩ này bệnh rất nặng, tắt hơi nhưng người nhà chưa phát tang. Bảy ngày sau, ông tỉnh dậy kể lại  rằng ông đã được đưa đến một thành,  có vị quan nói: “Ngươi khinh báng kinh điển đại thừa sâu mầu tất sẽ gặp quả báo đọa vào địa ngục A ty”. Ông bèn nhớ lại trong lời kinh:” Dù khinh báng bị đọa địa ngục nhưng chỉ cần nghe hai chữ “thường trụ” cũng có thể đóng cửa ba đường ác đạo”. Khi đó, giữa hư không hiện ra một vầng sáng lớn, trong đó có một vị Phật nói bài kệ:

    Hoặc tin hoặc không tin

    Vừa nghe chữ thường trụ

    Quyết định không đọa ác

    Sanh cõi Phật bất động.

    Nghe đến đó, ông giật mình và sống lại. Từ đó người ta thấy ông chuyên tụng kinh Đại Niết Bàn.

    Ở đây nói qua lý thiền, giữa hư không có một hào quang lớn là chỉ cho tàng thức của ông, chỉ cho tâm thức của ông trong lúc nghe hai chữ thường trụ đó, thì hạt giống hai chữ thường trụ đó không mất mà luôn đi suốt cả cuộc đời, cho nên vừa nghe vị quan nói ông nhớ lại và thoát khỏi biển khổ sinh tử. Do đó Phật pháp rất vi diệu, vi diệu ở chỗ mình nghe Phật pháp, học hỏi Phật pháp

    III. Nhân lành nghe pháp

    Ngày hôm nay quý vị đến đây nghe pháp là nhờ  nhân gì?

    Ngày hôm nay cùng quý vị ngồi đây yên tịnh là có túc duyên lành nhiều đời từ quá khứ nên ngày hôm nay được gặp nhau cùng chia sẻ Phật pháp. Cùng ở trong pháp hội như vậy, quý vị đừng tưởng là ngẫu nhiên. Phật dạy rằng đi cùng nhau trên một chiếc xe đò hay trên một chuyến máy bay là đã từng gặp nhau nhiều đời. Thiền sư Hoàng Long Huệ Nam đọc đến chỗ này cảm khái làm bài kệ:

    “Thuyền lẻ cùng qua sông

    Còn có nhân đời trước

    Ba tháng hạ chung ở

    Đâu không duyên nhiều đời”.

    Thiền sư Đạo Thế nói: “Muốn nghe pháp phải thật lòng kính pháp, trọng người, chí thành muốn xa lìa phiền não, không cầu pháp hữu vi trời người”. Có nghĩa là quý Phật tử đến đây học hỏi, nghe hiểu Phật pháp, trong lúc lắng thần nghe pháp, phải phát một nguyện lực lớn: Ngày hôm nay đến đây nghe và học hiểu Phật pháp, con không cầu quả vị cõi trời được sung sướng, cõi người được hạnh phúc, mà con phát nguyện nhờ việc nghe pháp này, con tu thành Phật, rồi đem giáo pháp giác ngộ này chỉ dạy cho người khác. Đó là tâm Bồ Tát, là tâm Phật.

    Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy:

    “Người nghe chú tâm như khát uống,

    Từng lời, từng nghĩa chẳng dám buông

    Nghe pháp xúc động mừng vô hạn

    Thuyết cho người này chẳng luống công”.

    Trong Kinh Ưu bà tắc ghi: Khi nghe giảng pháp, phải có đủ 16 điều kiện mới tăng trưởng công đức:

    1. Đúng lúc

    2. Ưa thích

    3. Chí tâm

    4. Cung kính

    5. Không nhằm hoặc tìm lỗi của người

    6. Không nhằm bàn luận

    7. Không vì hiếu thắng

    8. Không khởi tâm xem thường người nói

    9. Không có tâm xem thường pháp

    10. Không tự khinh mình

    11. Tâm xa lìa ngũ cái: tham dục, sân, hôn trầm, trạo cử, nghi.

    12. Để thọ trì và đọc tụng

    13. Để dẹp trừ ngũ dục

    14. Tín tâm

    15. Để biết mà dạy bảo cho người khác

    16. Để dứt trừ sự ngu dốt.

    Trong Kinh Cụ Tạp thí dụ có ghi lại: Xưa ở nước An Tức có một vị sa môn chuyên tụng kinh suốt ngày đêm, có một con chó nằm dưới gầm giường để hết tâm nghe kinh, quên cả việc ăn uống. Cứ như thế trong nhiều năm. Sau con chó chết sinh làm người nữ trong thành Xá Vệ, lớn lên thấy Sa môn khất thực qua nhà cảm thấy rất vui mừng, muốn cúng dường. Sau cô xuất gia, sau 3 tháng chứng quả A la hán.

    Loài vật còn như thế huống chi là người.

    Trong Kinh Phó pháp tạng, Phật dạy: “Tất cả chúng sanh muốn thoát khỏi biển khổ tam giới cần phải nhờ thuyền pháp. Pháp là gió mát xua tan hơi nóng phiền não. Pháp là thuốc tốt chữa lành bệnh phiền não. Pháp là thiện tri thức chân thật của chúng sanh, đem lại lợi ích lớn dứt trừ các đau khổ. Vì sao? Vì tất cả chúng sanh đều có tâm tính bất định, theo thói quen. Hễ gần người thiện thì có tính thiện, mà gần người ác thì có tính ác. Nếu ở gần người ác, chúng sanh tạo nghiệp ác, lưu chuyển trong sanh tử không có giới hạn. Nếu ở gần bạn tốt, chúng sinh khởi lòng tin kính, nghe và thọ trì diệu pháp, chắc chắn lìa được khổ đau trong ba đường. Do công đức ấy, người này được hưởng niềm vui thắng diệu của Niết Bàn”.

    (Nghe pháp mà rung động, cảm động thì giờ phút đó không còn phiền não. Nghe diệu pháp có ảnh hưởng lớn đến đời sống tâm linh của chúng ta).

    Hôm nào tâm mình sân hận, tật đố, ích kỷ, chúng ta cảm thấy rất ngột ngạt, không sung sướng gì, đó là chúng ta đang đi trên lộ trình địa ngục. Hôm nào tâm chúng ta vui, tùy hỷ thì đó là thiên đường. Như vậy, địa ngục hay thiên đường là từ nơi tự tâm. Tâm sinh ra các pháp.

    Trong Kinh Duy Ma Cật, Bồ tát Duy Ma Cật khẳng định: “Tâm tịnh Phật độ tịnh”. Thiền hay các tông phái khác đều y cứ nơi tâm mà lập bày các pháp môn. Chúng ta muốn chuyển hóa nội tâm cũng phải từ nơi tâm mà chuyển. Muốn chuyển hóa nội tâm phải nhờ nghe, học hiểu Phật pháp.

    Trong Luật Thiện kiến có ghi:

    Lúc Đức Phật nói pháp, trong ao có một con cóc nghe âm thanh của Phật liền bò ra khỏi hang chăm chú lắng nghe. (Do năng lực của Đức Phật rất vi diệu, bất khả tư nghì, một lời của Đức Phật nói ra, tất cả các loài chúng sanh đều nghe và hiểu được. Một Đức Phật ra đời mà tuyên dương chánh pháp thì một hạt bụi cũng rúng động).

    Cũng ngày đó có một ông chăn bò cũng đến nghe pháp, chống cây gậy lên mình con ếch. Chỉ cần thụp xuống bùn là thoát khỏi, nhưng vì muốn nghe pháp nên không thụp xuống bùn. Sau đó, con cóc chết và sinh về cõi trời Đao Lợi. Vị trời này quán xét nhân duyên sinh về cõi trời của mình bèn xuống rải hoa cúng dường Phật.

    Các Thầy Tỳ kheo liền hỏi vị thiên tử do nhân duyên gì mà rả hoa cúng dường, vị này liền trả lời:

    “Ngày xưa là thân cóc

    Kiếm ăn trong ao nước

    Nghe tiếng Phật giảng pháp

    Con chui vào bụi cỏ

    Có một người chăn bò

    Cầm gậy đến nghe pháp

    Cắm gậy nhằm đầu con

    Con chết sanh lên trời”.

    Con cóc chăm chú nghe pháp còn được như vậy, huống chi mình là người.

    IV. Tín tâm cần cầu diệu pháp

    Kinh Tạp Bảo Tạng ghi: “Phật pháp rộng lớn cứu độ chúng sanh không cùng tận. Người chí tâm cầu đạo đều được chứng quả".

    Kinh Phổ Diệu, Phật dạy: “Nếu có người nghe kinh điển này mà chắp tay tự quy y thì lìa bỏ được gốc của 8 sự biếng nhác, thành tựu 8 công đức:

    1. Dung mạo xinh đẹp

    2. Sức lực mạnh mẽ

    3. Quyến thuộc đông đảo

    4. Mau được vô lượng biện tài

    5. Học tập nhanh, được xuất gia xa lìa ba đường ác đạo

    6. Việc làm thanh tịnh

    7. Đạt được tam muội

    8. Trí tuệ sáng suốt, hiểu biết tất cả

    Kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy: “Nếu nghe một câu pháp chưa từng được nghe thì quý hơn tất cả châu báu trong cõi tam thiên, đại thiên thế giới. Bồ Tát ấy được nghe một bài kệ chánh pháp mà khởi tưởng là pháp tài vô thượng thì còn quý hơn cả được ngôi Chuyển luân thánh vương"

    Kinh Niết Bàn ghi: “Không có thiện nam, thiện nữ nào nghe được kinh này còn sanh vào 4 đường ác. Nếu có chúng sanh nào nghe qua bài kinh này một lần đều trừ sạch tất cả tội ác, ngay cả nghiệp tội địa ngục Vô gián”.

     

     

  • 3. Chết là con đường chúng ta phải đi

    ĐĐ.Thích Khế Định thuyết tại Bỉ

    1. I.Dẫn nhập

    Con người có sanh thì phải tử, đó là lẽ đương nhiên, dù cho đó là người da đen, da trắng hay da vàng, người giàu, người nghèo, người ngu, người trí ai cũng phải đi theo con đường đó. Trong Cổ học tinh hoa có ghi lại người sống lâu nhất là ông Bành Tổ, thì hiện nay quý vị có thấy ông Bành Tổ không? Cổ đức nói: “Ngay như Bành Tổ sống đời. Tám trăm tuổi thọ nay thời còn đâu”. Như vậy, chắc chắn một điều là chúng ta sẽ phải chết. Vậy thì trước đó, chúng ta phải chuẩn bị hành trang như thế nào? Hay chúng ta phải sống làm sao để ngày ra đi được thanh thản, thảnh thơi. Do vậy, ngày hôm nay, chúng tôi muốn chia sẻ với quý Phật tử đề tài: “Chết là con đường chúng ta phải đi”.

    II.Chết là con đường chúng ta phải đi

    Vua Trần Thái Tông nói: “Sanh, già, bệnh, chết là lẽ thường nhiên”.

    Đại Sư Liên Hoa Sanh nói: “Chết là một quá trình tự nhiên, chừng nào chúng ta còn sống trên trái đất này thì cái chết vẫn diễn ra như một sự thật tất yếu. Nếu đã biết không ai có thể lẩn tránh cái chết thì chúng ta không nên quá lo lắng về nó. Cái chết cũng giống như một bộ quần áo khi đã cũ rách thì cần phải thay bộ mới. Mặt khác, chết là không thể dự đoán trước được, chúng đều không biết bao giờ mình sẽ chết.”.

    Nhưng làm cách nào để thay áo. Nếu quý vị có tiền thì mới mua áo mới được, nếu không không những không mua được áo mới mà phải mặc áo súc sanh, áo ngạ quỷ.

    Có khi nào chúng ta dự đoán được mình chết như thế nào không? Một cơn gió độc thoảng qua, chết. Một con rắn độc cắn, chết. Đi trên một chiếc máy bay, một chiếc xe đò đều không có gì bảo đảm. Chúng ta đừng tin chắc rằng mình sống trọn cả một đời, hay sống thọ khoảng 70-100 tuổi, mà nên hình dung cái chết luôn luôn có thể đến với mình. Đây không phải là bi quan, đạo Phật không bi quan mà dạy cho mình nhìn thẳng vào sự thật để mình tu tập và chuyển hóa. Trước khi cái chết đến, chúng ta cần phải chuẩn bị tốt tâm lý cho chính mình.

    Trong Thiền thoại có ghi: Một ông bá hộ đầu năm đến gặp Thiền sư Tiên Nhai, xin Hòa thượng từ bi ghi một câu liễn nói về sự thịnh vượng, hạnh phúc của đời người.

    Thiền sư Tiên Nhai lấy một tờ giấy thật lớn rồi viết: “Cha chết, con chết, cháu chết”.

    Ông bá hộ nổi giận: “Tôi nhờ ngài viết cho câu gì nói đến hạnh phúc của gia đình tôi. Sao ngài lại lại đem ra để đùa cợt thế này?”.

    Lúc này, Thiền sư Tiên Nhai mới nói: “Ông thử nghĩ xem, nếu con ông chết trước ông thì sao, cháu ông chết trước con ông thì sao? Thật là một điều bất hạnh, đau khổ. Nếu mỗi thế hệ trong gia đình ông mà chết một cách tuần tự thì mới gọi là sự thịnh vượng thật sự”.

    Trong Thiền thoại cũng có kể:

    Thiền sư Bảo Phước vào thời hậu Đường, một hôm, lúc Ngài sắp tịch, đại chúng ai cũng than khóc.

    Có một vị đệ tử nói: “Nếu như tuổi trời đã tận thì sư phụ nên ra đi hay là nên ở lại?”

    Thiền sư Bảo Phước cười, nói: “Theo con thì lúc này ta nên làm thế nào?”

    Đệ tử nói: “Sống cũng tốt, mà chết cũng tốt, tất cả là tùy duyên”.

    Lúc này Thiền sư mới nói: “Lời nói trong lòng ta, không biết con đã nghe trộm từ bao giờ”. Nói xong, Ngài ngồi tịch.

    Sống trong cuộc đời, nếu quý vị sống thật tốt thì ngày ra đi sẽ được an ổn, vì quý vị đã làm hết tất cả cho con, cho cháu mình, cho xã hội, cho cộng đồng.

     

    III.Ý thức về sự chết

    Ngài Đạt Lai Lạt Ma nói: “Ý thức sâu xa về sự chết, khi cái chết đến, ta có sự chánh niệm nhiều hơn”.

    Trong Kinh A Hàm, lúc Đức Phật sắp nhập Niết Bàn, Ngài A Nan khóc lóc rất là thảm thiết. Đức Phật bèn dạy: “Người có trí tuệ và trầm tĩnh phải chấp nhận sự thật về cái chết, sự chia ly với tất cả những gì chúng ta thương yêu là không thể tránh được. Tất cả những gì do duyên hợp đều phải tan rã. Các Thầy đều phải nỗ lực, hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”.

    Trong cuộc đời này, có hợp thì có tan, có đến thì có đi, chúng ta đang sống tức là chúng ta đang chết. Thấy được như vậy, chúng ta sẽ an vui, đối xử với mọi người chung quanh với thái độ trầm tĩnh, bao dung, tha thứ.  

    Trong Kinh Trung Bộ có kể, bà Tỳ Xá Khư có đứa cháu nội lên ba tuổi vừa mất. Bà rất buồn, khóc và tìm đến Đức Phật. Đức Phật nói: “Bà có muốn tất cả mọi người trong thành Xá Vệ này đều là con cháu của bà không?” Bà Tỳ Xá Khư trả lời: “Con rất thích, được như vậy thì rất là vui”. Lúc này Đức Phật nói: “Nếu như vậy thì ngày nào bà cũng khóc, vì ngày nào cũng có người chết”.

    Trong Kinh A Hàm cũng kể một bà lão có một đứa con bị mất, khóc lóc đến xin Đức Phật cứu. Đức Phật nói bà đi tìm nắm tro ở nhà nào không có người chết. Bà lão đi từ đầu làng đến cuối làng hỏi xin nhưng nhà nào cũng có người chết. Cuối cùng bà lão thức tỉnh.

    Qua câu chuyện này, chúng ta thấy rằng cái chết đến không trừ một ai.

    Tỳ kheo Vishuajata nói: “Nói đến cái chết là nói đến sự tang tóc, khổ đau, sầu não. Vì thế có mấy ai thích suy ngẫm về cái chết, phân tích mổ xẻ nó để tìm ra ý nghĩa đích thực của cuộc đời. Sự chết mặc dù là quy luật tự nhiên và có thể xảy ra bất cứ lúc nào nhưng người ta ngần ngại, thậm chí sợ nghĩ đến cái chết, nhất là cái chết của chính mình”.  

     

    IV.Tiến trình của sự chết, nơi chấm dứt và con đường tái sinh.

    Đại sư Liên Hoa Sanh nói: “Con người luôn chết đi với một trong các trạng thái tâm thức, hoặc thiện, hoặc ác, hoặc vô ký”.

     Trong trường hợp đầu, người sắp chết mang trong tâm thức của mình một đối tượng thiện pháp”.

    Tức là lúc chết, khi thần thức đi ra thì đối tượng thiện pháp hiện lên. Trong Kinh Bách Duyên có kể lại một hôm Tôn giả A Nan và Đức Phật đi qua sông Hằng thì chứng kiến cảnh một đứa bé thình lình bị rớt xuống sông. Người mẹ thấy thế liền nhảy ngay xuống cứu, nhưng do nước lớn quá nên cuốn 2 mẹ con đều bị chết. Buổi tối, khi Ngài A Nan đang ở cạnh Đức Phật thì có một vị thiên nữ hào quang sáng chói từ cung trời Đao Lợi xuống rải hoa cúng dường Đức Phật. Lúc này Đức Phật nói: “Này ông A Nan, ông có biết vị thiên nữ này là ai không?” Tôn giả A Nan trả lời: “Bạch Đức Thế Tôn, con không thể nào biết được”. Đức Phật nói: “Vị thiên nữ này chính là người mẹ cứu con bị chết đuối buổi sáng”. Tôn giả A Nan ngạc nhiên: “Tại sao một người bị chết đuối lại có thể tái sinh thành thiên nữ?”.  Đức Phật bèn nói “Do người mẹ nhảy xuống cứu con với lòng thương vô hạn, như thương một chúng sanh cần phải cứu chứ không phải chỉ vì con mình. Do năng lực đó, khi vừa chết tái sinh lên cõi trời”.

    Ở đây cần làm rõ một điểm, tại sao chúng ta phải quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng? Có người cho rằng ở ngoài làm việc thiện cũng được chứ không cần phải quy y. Nhưng nếu quy y thì lúc thần thức đi ra, chúng ta nhớ về Phật, nhớ về Pháp, nhớ về Tăng với lòng tôn kính thù thắng cùng với hình ảnh hàng ngày chúng ta đi chùa, với năng lực thiện pháp đó sẽ đẩy quý vị đến chỗ an ổn.

    Trong Kinh Bách Duyên cũng kể có một bà già nghèo, dành dụm tiền mua được xấp vải để cúng dường một vị Thầy Tỳ kheo tu hành thanh tịnh, giới đức trang nghiêm. Một thời gian sau, bà chết. Trong lúc từ giã cõi đời, lúc thần thức vừa ra thì niệm sân khởi lên, bà thấy trước mặt bà là cả một hỏa ngục lớn. Nếu quý vị hay sân thì rất tai hại cho cái ngày mình ra đi. Ngay lúc đó, bà lại nhớ lại ngày xưa bà có mua một xấp vải cúng dường vị Thầy Tỳ kheo, vừa khởi niệm đó, thì trước mặt bà là tấm y màu vàng nâng thân bà lên đến cung trời Đao Lợi.

    Cho nên trong cuộc sống này, tại sao chúng ta nên làm thiện pháp, bố thí, cúng dường, học hỏi Phật pháp, vì hạt giống đã gieo không mất.

    Người xưa nói:

    “Xuân một hạt giống gieo,

    Thu gặt ngàn thóc mễ.

    Người đời tạo lành dữ,

    Quả báo cũng như thế”.

    Có người nói: “Tu cũng chết, không tu cũng chết”, đó là cái lý của người thế gian. Còn người tu thì trong cuộc sống khác với người không tu. Cùng uống một ly nước, nhưng người tu uống có chánh niệm, có lòng thương yêu đối với những người khác. Tín thí cúng dường cho mình một ly nước, một hạt gạo thì lòng thương của mình cũng bao trùm cả người tín thí cúng dường mình. Như vậy, trong cuộc sống, một người tu rất khác với người thế gian, huống chi là ngày ra đi.

    “Hay vị Thầy bổn sư của mình và làm phát khởi tín tâm vào Phật pháp”. Trong cuộc đời tu hành, vị Thầy bổn sư vô cùng quan trọng, đặc biệt là đối với ngày cuối cùng mình ra đi.

     “Hoặc có khi người sắp chết khởi tâm xả vô lượng và thoát ra khỏi tất cả sự tham ái”. 

    Trong Thiền thoại ghi lại có 2 vợ chồng sống gần một ngôi chùa, được một vị Thiền sư hướng dẫn nên tu hành rất đắc lực, một thời gian sau vị Thiền sư chuẩn bị ra đi. Trước khi đi Ngài nói với hai vợ chồng: “Chuyến này Thầy đi lâu, có khi từ 1 năm đến 3 năm mới về, nếu sau này một trong hai người các con mà mất thì các con đừng có luyến ái, khóc lóc, vì cuộc đời này ai cũng phải ra đi”. Sau một thời gian khoảng 1 năm từ khi vị Thiền sư đi thì người chồng bị bệnh rồi mất. Người vợ vì thương quá mà khóc lóc thảm thiết, sau khi lo liệu tang sự xong thì vị Thầy về. Lúc này, tự nhiên lỗ mũi người vợ bị sưng lên, hỷ ra một con sâu trong đó. Vị Thầy bèn nói với người vợ: “Đây chính là người chồng của con, vì khi chết con khóc thương nhiều quá nên chồng con sanh tâm luyến ái, thác sanh làm con sâu ở trong mũi của con”. Nói xong, Thầy bèn khai thị cho con sâu đó, sau khi khai thị xong, con sâu chết, tái sanh về cảnh giới tốt.

    Do vậy chúng ta phải tu tập để xả bỏ sự luyến ái đối với những gì mình sở hữu. Quý vị lưu ý khi học Phật nên tránh việc chấp một chiều. Tinh thần của Đạo Phật hay của nhà thiền là từ khước, từ khước, xa lìa mọi tham đắm, chấp thủ, tật đố, ích kỷ, làm vướng bận cho mình, cho người chứ không phải từ khước, xa lìa cuộc sống. Chúng ta vẫn làm hết tất cả nhưng không chấp thủ, dính mắc.

    “Và sân hận đối với mọi chúng sanh hữu tình, hoặc giả người sắp chết thiền quán nhập vào tánh Không, hay phát khởi tâm từ bi”.

    Nếu ai hay bị sân hận nhiều thì tập phương pháp rải tâm từ, đầu tiên là rải tâm từ đến những người mình thương yêu nhất, sau rồi mới rải đến người thù của mình”.

    Phát niệm thứ nhất: “Con cầu xin cho mọi chúng sanh đều được hạnh phúc”.

    Phát niệm thứ hai: “Cầu xin cho các chúng sanh tránh được mọi điều nguy hại”.

    Phát niệm thứ ba: “Cầu xin cho mọi chúng sanh tránh khỏi mọi sự đau khổ về tinh thần”.

    Phát niệm thứ tư: “Cầu xin cho mọi chúng sanh tránh khỏi mọi sự đau khổ về thể xác”.

    Phát niệm thứ năm: “Con cầu xin cho tất cả mọi chúng sanh đều được an vui”.

    Trong Thanh tịnh đạo luận có ghi: “Một người có thói quen rải tâm từ sẽ qua đời một cách an ổn như thể rơi vào một giấc ngủ an vui”.

    Ví dụ như khi chuẩn bị ngồi thiền, quý vị quán tưởng đối tượng ở trước mặt mình, đây là người thân của mình, mình rải tình thương yêu, bao dung, bảo bọc người đó. Sau một thời gian, quý vị quán chiếu người mình thù nhất, lúc đầu có thể chưa làm được, nhưng sang khoảng tháng thứ ba chắc chắn sẽ thành công. Chúng ta luôn luôn rải tâm từ, nhất là trước khi ngồi thiền khoảng 5 phút. Quý vị phải thực tập điều đó, vì sống trong cuộc đời này đầy những khổ đau, hận thù, ô trược, ở cõi này dễ thực tập nhất.

    “Nếu vị này không đạt được quả vị A la hán, như thế khi đi tái sinh, vị này có thể sanh vào cõi trời. Quán tưởng được như thế là bởi người sắp chết nhớ lại công phu hành trì của mình lúc còn sống”.

    Một vị Thiền sư Nhật Bản có nói: “Muốn biết người đó khi chết có được giải thoát hay không thì nhìn vào lúc sống”. Trong lúc sống mình giải thoát bao nhiêu thì ngày ra đi mình giải thoát bấy nhiêu. Quý vị thử nghiệm lại, trong lúc mình làm thiện, làm ác, ai chứng minh cho mình? Thường các chùa Nguyên Thủy thường thờ tượng Đức Phật ngồi tay phải chạm xuống đất, gọi là ấn địa xúc. Khi Thái tử Sĩ Đạt Đa ngồi 49 ngày đêm dưới cội Bồ Đề thì ma vương hiện lên, nói rằng: “Ông nói trong thời quá khứ, ông đã bố thí, cúng dường đầu, mắt, vợ, con, thành ấp…, nhưng ai làm chứng cho ông?”. Lúc này, Thái tử lấy tay chỉ xuống mặt đất thì mặt đất rung động theo 4 cách, Ngài nói: “Chỉ có mặt đất làm chứng cho ta”. Mặt đất đó tiêu biểu cho đất tâm của mình. Trong thời quá khứ, chúng ta đã từng làm thiện, làm ác, chỉ có đất tâm làm chứng cho mình. Trong cuộc sống, có lúc chúng ta trải qua những giai đoạn hạnh phúc, mình không biết tưởng chắc năm nay là do sao tốt, rồi qua thời gian sau gặp những chuyện bất như ý, tưởng là do sao xấu. Không phải vậy. Quý vị mang thân này là thân tổng báo, trong thời quá khứ có lúc chúng ta làm thiện, có lúc lại làm ác thì đến giai đoạn chín muồi, quả chiêu cảm. Những chặng đường chúng ta làm thiện thì được hưởng quả thiện, còn có những chặng đường chúng ta làm ác thì giờ quả ác trổ ra, chúng ta phải chịu chứ không có gì cả.

    Đức Phật có nói bài kệ:

    “Nay vui, đời sau vui

    Làm phước hai đời vui

    Nó vui, nó an vui

    Thấy nghiệp tịnh mình làm”.

    Trong lúc quý vị bố thí, cúng dường, tâm mình vui hay không vui? Vui. Thấy nghiệp tịnh mình làm ngày xưa thì trong lúc an ổn thanh tịnh đó, chết tái sanh về nhàn cảnh.

    “Hoặc nhờ có người ở bên cạnh nhắc nhở thúc đẩy, nếu người sắp chết phát được các tâm thiện kể trên vào lúc lâm chung thì người đó tạo được cận tử nghiệp thiện và sẽ tái sanh trong các cảnh giới cao thượng hơn”.

    Thiền sư Nam Tuyền một hôm đang ngồi thiền định hét lên một tiếng rồi bảo thị giả xuống Niết Bàn tăng (nơi người bệnh sắp chết nằm ở đó), kêu một vị tăng sắp chết lên. Thị giả xuống thấy vị tăng sắp chết đã tỉnh lại và đang đi lên gặp Thiền sư Nam Tuyền. Thiền sư hỏi: “Lúc nãy ông thấy gì?”. Vị tăng thưa: “Con thấy mình chết, thần thức đi ra ngoài tối mịt, rồi thấy một tòa lâu đài lớn, có một cô gái ra mời uống nước. Con đang chuẩn bị vào thì nghe thấy một tiếng hét rất lớn. Con giật mình tỉnh dậy”. Lúc này Thiền sư Nam Tuyền nói: “Nếu lúc nãy không nhờ lão tăng thì ông đã sinh vào làm heo ở nhà kế bên rồi. Cái tòa lâu đài mà ông thấy chính là bụng con heo nái”. Vị tăng nghe xong sợ hãi, trời mùa đông mà mồ hôi ướt đầm cả áo. Từ đó về sau ông tu tập vô cùng tinh tấn có kết quả, đến 72 tuổi thì ngồi tịch mà đi.

    Trong Thanh tịnh đạo luận có ghi: “Một Thầy Tỳ kheo có chánh niệm về sự chết luôn luôn nỗ lực tinh tấn, vị này có một sự nhận thức rõ ràng về tất cả những kiếp sống hay sự hiện hữu. Vị này chiến thắng sự chấp thủ vào đời sống, vị này kết tội sự xấu xa, vị này từ bỏ nhiều tích lũy, vị này không tham lam những vật dụng, sự nhận thức về vô thường lớn mạnh trong tâm người này”.

    Có nghĩa là ý thức sâu xa về sự chết không phải là bi quan, yếm thế mà để xa lìa sự chấp thủ, sự tật đố, sự ghen ghét người khác, luôn luôn đem đến hạnh phúc cho người khác.

    “Nếu một người không có sự tu tập chánh niệm về sự chết sẽ trở thành nạn nhân của nỗi sợ hãi, nỗi khiếp đảm và hoang mang vào thời điểm cận tử như thể bất ngờ bị những loài thú hoang, ma quỷ, rắn rết, trộm cắp hay những kẻ sát nhân túm lấy”.

    Như vậy, nếu chúng ta không có chuẩn bị trước, không có chánh niệm, không có chuyển hóa nội tâm trong lúc chúng ta sống thì vừa chết, những hiện tượng này sẽ xảy ra. Mà ma quỷ, rắn rết này là từ đâu? Từ những hạt giống trong tâm của mình. Quý vị nhớ khi ngồi thiền, nếu những tâm tật đố, ích kỷ, ghen ghét hiện ra, chúng ta phải tức khắc chuyển hóa, nếu không chuyển hóa được mà còn nuôi thì khi chết những hạt giống xấu này hiện ra và dẫn chúng ta vào con đường xấu ác. Vậy phải chuyển hóa như thế nào?

    Tổ Lâm Tế nói: “Tùy duyên tiêu nghiệp cũ, hồn nhiên mặc áo xiêm”.

    Tiêu trừ nghiệp cũ nhưng đừng huân tập thêm nghiệp mới, đừng có tật đố, ích kỷ, sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, nếu không thì có tu cũng như không, vì nghiệp cũ chưa chuyển hóa hết đã huân thêm nghiệp mới vào.

    V. Sống hạnh phúc chết bình an

    Hạnh phúc ở đây không phải là sự giàu sang, sung sướng về mặt vật chất, không phải là con cháu nhiều, mà hạnh phúc ở đây thứ nhất là được tắm mình trong giáo pháp đức Phật, thứ hai là luôn sống trong sự tỉnh giác, chánh niệm, thứ ba là biết buông xả.

    Chẳng hạn như có một người làm cho mình đau khổ, mình phải ráng, phải cố gắng buông xả, không tiếp tục nhắc lại sự việc đó nữa.

    Như vậy, lúc sống luôn giữ gìn chánh niệm tỉnh giác và biết buông xả thì bảo đảm chúng ta sống được an ổn, hạnh phúc, chết sẽ được bình an.

    VI.Chết, con đường của sự tái sinh

    Trong Luận tái sanh có ghi: “Chính từ chân tâm không sanh không diệt này, nghiệp lực sẽ bắt đầu xuất hiện dẫn dắt thần thức đi vào đời sống mới, nếu thần thức lưu trú trong chánh niệm, nhất tâm trong thiền định thì pháp thân sẽ xuất hiện. Còn nếu thần thức bị năng lực của nghiệp báo dẫn dắt, thần thức sẽ xa dần pháp thân thường trụ.

    Cho nên nghiệp có sức mạnh kéo mình đi, một người nghiện uống rượu thì đi qua quán rượu rất dễ bị lôi vào, còn người không thèm rượu thì đi qua trăm quán rượu cũng dửng dưng, không vấn đề gì. Hàng ngày mình chánh niệm tỉnh thức, có lòng thương bao dung người khác thì nghiệp không bao giờ chơi xấu mình.

    “Lúc đó một tâm niệm chấp thủ khởi lên và tùy theo mức độ chấp thủ, thần thức sẽ đi vào những cảnh giới khác nhau trong lục đạo. Chính năng lực chấp thủ là động cơ thôi thúc đi vào sáu cõi luân hồi”.

    Chấp thủ lớn nhất của chúng ta là sự hận thù, ích kỷ, ghen ghét thì nghiệp lực chắc chắn sẽ đưa ta xuống địa ngục. Cho nên quý vị phải cố gắng, dù gặp chuyện gì cũng phải ráng buông xả.

    Có một vị tướng đến gặp Thiền sư Bạch Ẩn nói làm gì có thiên đường, địa ngục. Nếu có thì Hòa thượng thử chỉ xem thiên đường, địa ngục ở đâu. Thiền sư Bạch Ẩn nhìn rồi nói:”Ông giống như tên ăn trộm, chẳng giống người làm tướng”. Vị tướng tức giận liền rút kiếm ra định đâm thì Thiền sư nói: “Đó là địa ngục”. Vị tướng sợ quá, rút kiếm lại quỳ xuống sám hối, Thiền sư lúc này lại nói: “Đó là thiên đường”. Thiên đường, địa ngục đều từ nơi chân tâm của mình phát ra. Ngay trong lúc chúng ta sân hận hay hận thù thì đó là địa ngục hiện ra. Hàng ngày, quý vị thích ở địa ngục hay thiên đường? Nếu chúng ta biết sám hối, thiền định, chánh niệm, có lòng bao dung tha thứ thì đó là thiên đường.

    “Sự chấp thủ của cõi này (cõi ngạ quỷ) là tật đố và ganh ghét đến người khác và sân hận trong lúc ra đi”.

    Trong một ngôi chùa có một vị Hòa thượng tu hành khổ hạnh miên mật, nhưng rồi ông bị bệnh rất nặng. Trong lúc nằm bệnh, có một bà Phật tử nói với thị giả của Hòa thượng là Ngài bệnh do khổ hạnh quá, cần phải nấu cháo gà cho Hòa thượng ăn thì sẽ hết bệnh, tất nhiên không để Hòa thượng biết. Thị giả vì thương Thầy nên làm theo. Quả tình Hòa thượng hết bệnh, sau khi khỏe lại ông hỏi thị giả cho mình uống thuốc gì. Thị giả thành thật trả lời. Hòa thượng nghe xong, nghĩ đến hơn bốn chục năm giữ giới của mình đã bị phá hủy, uất ức quá mà ngã chết luôn. Sau khi chết, cứ khoảng vào buổi chiều tối, người ta thấy ông đi quanh chùa, kêu:

    “Vì bệnh nằm liệt giường

    Nên phải húp cháo gà”.

    Cứ liên tục ngày nào cũng vậy, dân làng ai cũng sợ hãi, mọi người trong chùa cũng bỏ đi hết. Một thời gian sau, có một vị Thiền sư đi ngang qua, được người dân ở đấy kể lại câu chuyện này và thỉnh Ngài cứu giúp. Chiều chạng vạng tối, vị Hòa thượng kia lại hiện lên đọc hai câu: “Vì bệnh nằm liệt giường, nên phải húp cháo gà”. Thiền sư nghe thấy bèn nói: “Ba nghiệp hằng thanh tịnh, đồng Phật vãng Tây phương”. Vị Hòa thượng nghe được hai câu này liền tỉnh ngộ, tức khắc được giải thoát. Ba nghiệp là gì? Đó là thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp. Thân nghiệp, tự thân ông không đi xuống mua gà; khẩu nghiệp, ông không sai đệ tử đi mua gà, rồi ý nghiệp, khi ăn không có nghĩ đây là cháo gà. Như vậy là ba nghiệp của ông thanh tịnh.

    Như vậy, qua câu chuyện này, quý Phật tử thấy cận tử nghiệp và tích lũy nghiệp, cái nào quan trọng nhất? Chúng ta lo cho cận tử nghiệp hay lo tích lũy nghiệp? Quý vị phải nhớ, nếu vị Hòa thượng này không nhờ giữ giới 40 năm thì sẽ khó gặp được vị Thiền sư có năng lực lớn đến khai thị. Thành ra tích lũy nghiệp cũng rất là quan trọng. Hàng ngày chúng ta chịu khó tu tập, nếu lỡ lúc ra đi bị nghiệp xấu dẫn thì sẽ nhờ tích lũy nghiệp giúp chúng ta gặp những vị thiện tri thức có năng lực lớn đến khai thị.

    Trong Kinh Bách duyên có kể câu chuyện: Vua A Kỳ Đạt lúc sinh thời bố thí, cúng dường rất là nhiều. Sau khi ông chết đi, một hôm có vị Tỳ kheo đã chứng A la hán đi vào trong rừng, thấy một con rắn. Con rắn nói với vị Tỳ kheo: “Con chính là vua A Kỳ Đạt”. Tỳ kheo thắc mắc: “Vua bố thí, cúng dường rất là nhiều, tại sao lại đầu thai làm rắn?”. Rắn trả lời: “Trong lúc con đang bệnh sắp chết, có một đứa hầu đến quạt, vô tình làm rơi chiếc quạt vào mặt con. Con tức quá rồi chết, do vậy tái sinh vào loài rắn này. Bây giờ nhờ Thầy khai thị giùm”. Vị Tỳ kheo dùng năng lực của mình để khai thị, sau đó con rắn chết, tái sinh về cung trời Đao Lợi.

    Vì vậy, những niệm sân hận trong cuộc đời này, chúng ta phải cố gắng hóa giải, hóa giải bớt chừng nào, chúng ta được an ổn chừng đó.

    “Thứ ba, sự chấp hữu keo kiệt, bỏn xẻn, luyến tiếc, không buông xả của cải thì tái sinh vào loài súc sanh

    “Thứ tư, sự chấp hữu cõi người, khám phá và thụ hưởng, tâm còn luyến ái cha mẹ vợ con thì tái sinh vào cõi người”.

    Chúng ta thường hay nghe: “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, ý là người cha làm ác thì người con sẽ bị sao đó. Thực ra thì không phải vậy. Nghiệp chia ra làm hai phần là cộng nghiệp và biệt nghiệp. Nếu mình sống làm những điều ác thì mình sẽ cộng nghiệp với những người ác, nghiệp cảm duyên khởi khiến những người có nghiệp tương ưng gặp nhau.

    “Thứ năm, sự chấp hữu về tranh đấu”.

    “Trời là sự chấp hữu duy trì đời sống thiền định, sâu lắng, an ổn và muốn an trú vào cõi nào đó”.

    Tóm lại, tinh thần Phật giáo đối với vấn đề thần thức, nghiệp, sự tái sanh lành dữ là tùy duyên mà tái sanh, không chủ thuyết một linh hồn bất diệt.

     

    VI. Chọn hướng đi cho chính mình

    Không ai tránh khỏi cái chết.

    Sống phải làm gì khi bệnh, chết đến nhìn lại cuộc đời mình, tâm không có chút hối hận nào?

    Nhẹ nhàng, thanh thản trong cuộc sống, luôn luôn thực hành phương pháp buông xả

    Thiền sư Trung Nguyên có bài kệ:

    “Hãy buông bỏ quyến thuộc đi,

    Tiền của trả lại người,

    Nên gìn giữ căn lành,

    Đường hiểm lương thực đầy”.

    Quyến thuộc ở đây là tham, sân, si, tật đố, ích kỷ, ngã mạn. Còn đường hiểm là ngày mà mình từ giã cõi đời, mà mình có tu tập, chuyển hóa, làm các việc phước thiện là có lương thực đầy. Ngày ra đi chỉ đem theo được cái này mà thôi.

    Để tóm kết lại, Ngài Hàm Sơn có bài kệ:

    “Đáng thương người sống tạm

    Lăng xăng khi nào xong

    Mỗi ngày không rảnh rỗi

    Năm qua chẳng biết già

    Thảy vì cầu ăn mặc

    Khiến tâm sanh phiền não

    Lăng xăng trăm ngàn năm

    Tới lui ba ác đạo”.

    Quý Phật tử thấy mình sống tạm không? Nhìn kỹ lại, sẽ thấy cuộc đời này chỉ là quán trọ. Mình có duyên may ở khách sạn năm sao cũng là quán trọ, những người nghèo khổ bần cùng ở dưới gầm cầu cũng là quán trọ. Ý thức được như vậy, mình tu tập chuyển hóa rất là an ổn, rất là thảnh thơi, vì biết chắc chắn rằng cuối cùng, chết là con đường chúng ta phải đi.

     

  • 4. Đâu là hạnh phúc chân thật

    ĐĐ.Thích Khế Định thuyết giảng tại TVTL Đà Lạt

    I. Dẫn nhập

    Thường trong cuộc sống mỗi người cảm nhận hạnh phúc khác nhau, như đang đói mà được ăn là hạnh phúc, lạnh mà được ấm là hạnh phúc, cuộc sống no đủ, gia đình êm ấm là hạnh phúc, gia tài đồ sộ, công danh tột đỉnh là hạnh phúc. Nhưng với cặp mắt giác ngộ của nhà Phật thì những hạnh phúc đó đều vô thường, khổ không vô ngã, đến một lúc nào đó cũng đi đến con đường hoại diệt.

    Tham dục càng nhiều khổ càng nhiều, giống như nước biển, càng uống càng khát. Ái dục không chỉ là ái dục về nam nữ mà còn cả ái dục về danh lợi, tiền tài, sắc đẹp, tất cả những thứ mình ham muốn.

    Phật dạy các vị Tỳ kheo nếu không khéo sẽ bị ngọn lửa tham, sân, si thiêu đốt. Chẳng hạn nếu thấy cái gì đẹp muốn lấy là bị ngọn lửa tham thiêu đốt con mắt. Nếu nghe ai đó chửi mắng mà mình chạy theo tiếng, nổi sân là bị ngọn lửa sân thiêu đốt lỗ tai. Còn nếu nghe chửi mà mình không chửi lại là quý Phật tử đang bố thí lỗ tai. Thấy danh lợi, tiền tài sắc đẹp mà không chạy theo, không dính mắc là bố thí con mắt. Công đức thành tựu ngay chỗ đó. Muốn thành Phật đều phải đi qua con đường Bồ tát đạo này. Tu là như vậy chứ không tìm cầu ở đâu mà trong cuộc sống hàng ngày, mọi hành động đi đứng nằm ngồi đều phải chánh niệm tỉnh giác.

    Ví dụ như có ai đó chửi mắng mình, mình biết rằng đây là vô thường, sẽ có ngày hoại diệt thì tự nhiên mình hết sân hận.

     Vua Phổ An nói thế này: “Chỗ luận của các ông đều là gốc của sự khổ não, là nguồn của sự lo buồn, trước vui sau khổ, lo buồn muôn mối, đều là do những thứ ấy, không bằng tịch tĩnh, chẳng cầu chẳng muốn, đạm bạc giữ mực. Đó là hạnh phúc chân thật”.

    Phật nói bài kệ:

    Yêu thích sanh lo

    Yêu thích sanh sợ

    Nếu không yêu thích

    Nào lo nào sợ.

    Vui đẹp sanh sợ

    Nếu không vui đẹp

    Nào lo nào sợ.

    Tham dục sanh lo

    Tham dục sanh sợ

    Cởi bỏ tham dục

    Nào lo nào sợ.

    Yêu thích vật gì thì sợ mất. Như có vợ con đẹp thì đó cũng là hạnh phúc nhưng là hạnh phúc mong manh vì có ngày sẽ mất. Quý Phật tử học đạo, đến đây nghe pháp, trước là thấy khổ, nhưng trong giờ phút này, nếu chánh niệm lắng lòng nghe pháp, gieo duyên với quý Thầy thì mai kia ra đời không bị sa vào ba đường ác đạo.

    Trong chuyện Góp nhặt cát đá, có một vị tướng quân đánh trăm trận trăm thắng, ông có một chiếc ly ngọc rất yêu thích, một hôm ông đang uống nước thì tuột tay làm rơi chiếc ly khiến ông hoảng hốt. Sau đó ông nghĩ: Tại sao mình ra trận đánh trăm trận trăm thắng mà không hề sợ, nay chiếc ly ngọc suýt bể lại làm mình sợ. Ông nhận ra cái gì mình thích mà bị hư, mất thì mình lo buồn sầu khổ. Cuối cùng ông đập bể luôn chiếc ly.

    Nhà Phật nói, trong cái vô thường có cái thường. Nếu như mình cũng vô tình làm bể cái ly mà ngay lúc đó không tiếc nuối, chấp thủ thì sẽ nhận được cái thường tại trong tâm thức của mình.

    Phật nói thương là khổ, nhưng trong cuộc sống này, nếu thiếu tình thương thì rất khó sống. Nhưng tình thương trong đạo Phật là tình thương vô ngã, vị tha, thương hết tất cả nhưng không dính mắc tất cả. Bồ Tát vào cuộc đời này, vô tình với tất cả nhưng có tình với tất cả.

    Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta cũng phải thương tất cả mà không đắm nhiễm, tức là từ bi phải có trí tuệ.

    II. Đâu là hạnh phúc chân thật.

    Trong kinh Tăng Chi bộ, có một vị Tỳ kheo một hôm trời nóng xuống tắm sông. Có một vị tiên nữ thấy bèn hỏi: “Tại sao Ngài lại bỏ đi cái hạnh phúc hiện tại mà đi tìm cái hạnh phúc vị lai xa xôi?”. Vị Tỳ kheo không trả lời mà đưa cô đến Đức Phật.

    Đức Phật nói bài kệ:

    “Không thấy rõ ái dục

    Mới vướng vào ái dục

    Ảo tưởng về ái dục

    Đưa người về nẻo chết.

    Thấy chân tướng ái dục

    Tâm ái dục không sanh

    Tâm ái dục không sanh

    Ai cám dỗ được mình”.

    Thấy được chân tướng của ái dục, tự nhiên mình sống tri túc (sống biết đủ). Sống tri túc không có nghĩa là phải sống nghèo, sống khổ mà sống biết đủ với cái mình hiện có, không quá mong cầu thêm nữa.

    Hạnh phúc của người tu đó là thấy được thực tướng của các pháp, đó là hạnh phúc chân thật.

    Sở dĩ chúng ta đau khổ vì luôn chấp thân ngũ uẩn (sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn) này là thật. Năm uẩn này giống như năm dòng sông sanh diệt. Nếu nói ngã là thật thì phải đủ 3 yếu tố: chủ thể, đồng nhất, bất biến. Nhưng cái gì là chủ thể? Ví dụ mình đau bụng mà bảo là nó đừng đau nữa có được không? Rồi trong thân mình có đất, nước, gió, lửa, bốn cái đối nghịch với nhau, không đồng nhất. Bất biến là thường tại, nhưng các tế bào trong mình từng sát na sanh diệt liên tục.

    Cho nên quý Phật tử ngày hôm nay tu tập Phật pháp, chúng ta ngồi thiền, niệm Phật là dừng tâm vọng tưởng. Mình ngồi đây nghe pháp mà chú tâm nghe thì tăng trưởng công đức, còn ngồi mà nhớ chuyện năm trên, năm dưới thì có ngồi cũng vô ích. Khổng Tử nói có ba bậc nghe pháp, bậc hạ dùng thân nghe pháp, bậc trung dùng thức nghe pháp, mà bậc thượng thì dùng thần nghe pháp.

    Thiền sư Minh Chánh cảm được chỗ này bèn có bài kệ:

    “Hay lắm Thuần Đà, hay lắm Thuần Đà

    Chẳng nói ngắn, chẳng nói dài

    Ngắn dài, tốt xấu thảy đều sai

    Tìm hay khéo bị người chê vụng

    Bắn sẻ ai dè sói chực ngay

    Công danh cái thế màn sương sớm

    Phú quý kinh nhân giấc mộng dài

    Chẳng biết bản lai vô nhất vật

    Công phu luống uổng một đời ai”.

    Trong cuộc sống, chúng ta làm ăn tích góp, thậm chí lừa dối người nhưng một khi vô thường đến mất tất cả. Con chó sói tượng trưng cho sự vô thường. Nghe nói về vô thường để cảm nhận được cuộc đời là vô thường, để không chấp thủ, tật đố, ganh ghét mà sn sàng làm tất cả mọi việc vì lợi ích của mọi người. Biết của cải vô thường, nên thấy ai nghèo khổ mình sẵn sàng giúp đỡ thì nhờ của cải đó mình tăng trưởng được phước đức.

    Trong Kinh kể lại, có một vị Tỳ kheo vào rừng, thấy một con quỷ đang đánh một cái thây chết, bèn hỏi tại sao. Con quỷ nói, cũng vì cái xác này mà tôi phải sanh làm ngạ quỷ (vì khi sống do ích kỷ, tham lam, bỏn xẻn). Vị Tỳ kheo đi một lúc nữa thấy một vị Thiên tử đang rải hoa trên một xác chết, bèn hỏi tại sao. Vị Thiên tử nói, nhờ cái xác này mà tôi bố thí, cúng dường, kính tin Tam Bảo nên giờ tôi sanh về cõi trời. Cũng là một con người, nhưng nếu đi chệch hướng thì sanh về địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, còn nếu cũng thân ngũ uẩn này mà biết tu tập thì chưa được giải thoát cũng sanh về cõi trời, sau khi xuống cõi đời này cũng biết được Phật pháp để tu tập.

    Như vậy, cái gì là hạnh phúc chân thật? Nghe, học hiểu và tu tập theo Phật pháp chính là hạnh phúc chân thật.Sống trong cuộc đời này khác hơn ngày xưa, luôn làm lợi ích cho mọi người, là mình đang đi trên con đường của Phật, của Tổ. Mình chưa thành Phật, thành Tổ nhưng mình đang đi trên con đường của các Ngài, con đường này là con đường Từ Bi và Trí Tuệ, thương xót tất cả mọi người. Một người biết được Phật pháp sống rất an ổn và hạnh phúc.

    Trong Kinh Pháp cú, Phật dạy:

    “Ai sống một trăm năm

    Ác giới, không thiền định

    Tốt hơn sống một ngày

    Trì giới, tu thiền định”.

    “Ai sống một trăm năm

    Ác tuệ, không thiền định

    Tốt hơn sống một ngày

    Có tuệ, tu thiền định”.

    Bảo đảm ở đây, ai cũng có trí huệ hết. Nếu không có trí huệ về Thánh pháp trong thời quá khứ thì ngày hôm nay, quý vị không bao giờ đến đây nghe Phật pháp. Mình phải gieo trồng căn lành trong rất nhiều kiếp nên ngày hôm nay mới đến đây, chịu thời tiết nóng nực, ngồi đây nghe Phật pháp.

    Khổng Tử nói: “Sáng nghe đạo, chiều chết cũng vui”.

    Cận tử nghiệp và tích lũy nghiệp, cái nào quan trọng? Tích lũy là chứa nhóm.

    Chuyện tốt mình làm, khi chết ít khi mình nhớ, toàn nhớ những chuyện đâu đâu nên hay tái sinh vào cảnh giới xấu. Cho nên trong cuộc đời này, nếu lỡ làm điều gì xấu, sám hối xong là buông luôn, đừng nhớ nữa.

    Trong Kinh Pháp cú, có một vị giảng sư nói rất hay, nhưng một lần đến Đức Phật, Đức Phật nói đây là ông sư rỗng, có nghĩa là nói được nhưng hành chưa được. Ông buồn bã, một hôm vào rừng nhiếp niệm tu thì có một vị Sa di chỉ bày cho ông nhiếp phục sáu căn. Lúc này, Đức Phật nói bài kệ:

    “Tu thiền, trí huệ sanh

    Bỏ thiền, trí huệ diệt

    Biết con đường hai ngả

    Đưa đến hữu, phi hữu

    Hãy tự mình nỗ lực

    Khiến trí huệ tăng trưởng”.

    Trí huệ tăng trưởng, đó là hạnh phúc chân thật, là tài sản quý không ai cướp được của mình.

    Nếu quý Phật tử ngồi thiền, chịu khó chánh niệm. Uống ly nước, ăn cơm cũng chánh niệm, tỉnh giác. Mọi hành động đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng, động tĩnh đều thúc liễm thân tâm thì lúc ngồi thiền được tịch tĩnh, đó là hạnh phúc chân thật.

    Trong cuộc sống, ai muốn có hạnh phúc xuất thế gian?

    Trong Kinh Pháp cú, Phật dạy:

    “Nhìn đời như ảo ảnh

    Nhìn đời như bọt nước

    Ai nhìn đời như thế

    Thần chết không bắt gặp”.

    Tóm lại, muốn có được hạnh phúc chân thật, chúng  ta  đừng đắm mê ngũ dục trong cuộc đời này nữa mà phải sống biết đủ. Quyền làm chủ là do quý vị chứ không có vị thần linh nào định đoạt. Muốn hết đau khổ, được hạnh phúc là quyền của quý Phật tử. Đạo Phật trả hết quyền tự do cho mỗi con người chúng ta. Phật chỉ là một bậc Thầy dẫn đường, còn đi hay không là do mình., lLên thiên đường hay xuống địa ngục đều do mình.

     

     

  • 5. Tâm Là Chủ Muôn Pháp

    ĐĐ Thích Khế Định giảng tại chùa Đại Giác – Sóc Trăng

    Hôm nay, chúng tôi sẽ chia sẻ với quý Phật tử đề tài “Tâm là chủ muôn pháp”. Mình có tâm hay không có tâm? Có thì nó ở đâu? Thiền sư Từ Đạo Hạnh có bài kệ:

    “Có thì có tự mảy may

    Không thì cả thế gian này cũng không

    Kìa xem bóng nguyệt lòng sông

    Ai hay không có có không là gì”.

    Nói có cũng không được mà nói không cũng không được.

    Cổ đức nói:

    “Ba chấm như ba sao

    Móc câu tợ trăng liềm

    Mang lông từ đây có

    Thành Phật cũng từ đây”.

    Trong Thiền thoại có kể lại câu chuyện: Có một vị Pháp sư ở xứ Triều Tiên qua Trung Hoa tham học, một hôm trên đường đi, do trời tối và mệt, Ngài nghỉ tại một ngôi miếu hoang. Vì mệt và khát nước nên Ngài ra bờ suối uống nước, cảm thấy rất dễ chịu. Sáng hôm sau, khi chuẩn bị ra đi, Ngài tiếp tục ra bờ suối đó lấy nước để uống và mang đi. Lúc xuống uống nước, Ngài phát hiện ra trên gần đầu nguồn có một xác chết đang sình lên, thối rữa, tanh hôi. Ngay lúc đó, Ngài liền ói mửa ra hết. Trong lúc ói mửa, Ngài ngộ ra được vạn pháp do tâm tạo. Chứng ngộ được điều đó, Ngài liền trở về xiển dương Thiền tông, không qua xứ Trung Hoa tham học nữa.

    Tại sao cũng một con người mà lúc tối hôm trước uống nước cảm thấy ngọt, mát, nhưng sáng hôm sau, lúc phát hiện ra xác chết lại ói mửa ra. Đều là do tâm mình tưởng ra cả.

    Có một vị Tăng đến hỏi Thiền sư Bạch Ẩn: “Thế nào là sắc tức thị không?”

    Thiền sư Bạch Ẩn trả lời: “Ô hô, một bát canh ngon có hai cục cứt chuột”.

    Một bát canh ngon, đang chuẩn bị ăn nhưng phát hiện ra có 2 cục cứt chuột nên không thể ăn nổi.

    Ngài Cưu Ma La Thập lúc 7 tuổi theo mẹ đến chùa, thấy một chiếc bát bằng đồng bèn nhấc lên nghịch, để trên đầu. Lúc để trên đầu, Ngài khởi niệm: “Tại sao chiếc bát bằng đồng rất nặng mình lại có thể để lên đầu?. Ngay lúc khởi niệm như vậy thì không nhấc được chiếc bát nữa”.

    Như vậy, Phật giáo luôn chú trọng về tâm. Chúng ta làm thế nào đó để có thể nhận diện và chuyển hóa được tâm mình.

    Ngài Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 nói: “Phật giáo không chấp nhận một đấng Thượng đế, một thần linh, mà đấng Thượng đế này chính là tâm. Một khi tâm trong sáng thì nói gì, làm gì cũng đều trong tinh thần an vui, hạnh phúc đến cho mình và người. Ngược lại, tâm cấu nhiễm là cửa của ác đạo”.

    Đức Phật đã khẳng định rằng, không có ai làm cho mình hạnh phúc hay không có ai làm cho mình khổ đau mà chính do tâm của mình, gọi là thừa tự của nghiệp. Nếu Thượng đế sinh ra con người thì chắc chắn Thượng đế mong muốn ai cũng giàu sang, ai cũng sung sướng, sống không có bị động đất, sóng thần hay khủng bố. Nhưng chúng ta thấy tai nạn rất là nhiều, đó là do nghiệp của chúng sanh chiêu cảm. Thấy được như vậy, chúng ta phải tu làm sao để chuyển nghiệp, sống với tâm thái tự do an ổn của chính mình.

    Lục Tổ dạy: “Một niệm suy nghĩ gọi là biến hóa. Suy nghĩ việc ác thì hóa là địa ngục. Suy nghĩ việc thiện thì hóa là thiên đường. Độc hại hóa làm rồng rắn, từ bi hóa làm bồ tát, trí tuệ hóa làm thượng giới, ngu si hóa làm hạ giới giới”.

    Quý vị có ai để ý phát hiện công phu tu tập khi thắp hương không? Nếu chúng ta công phu giống như cây hương thì tức khắc trong giờ phút thực tại được giải thoát, được an ổn. Khi thắp cây hương khoảng chừng 5 phút, thấy tàn rớt xuống, còn khói thì bay lên. Tàn hương rớt xuống là bởi vì nó nặng, còn khói hương bay lên là bởi vì nó nhẹ. Chúng ta cũng như vậy, tu tập như thế nào để tâm mình rỗng, thư thái, an ổn thì lúc ra đi, tùy theo nghiệp lực và hạnh nguyện, tâm buông xả được bao nhiêu thì giải thoát bấy nhiêu.

    Ví dụ như mình thấy có người họ tu tập tốt, làm gì cũng được như ý, được thầy thương, bạn mến, mình khởi tâm tật đố là lúc đó mình đang ở trong địa ngục. Hàng ngày chúng ta thường khởi niệm nào là vừa chết cảnh giới tương ưng sẽ hiện ra chiêu cảm.

    Một Thiền sư Nhật Bản nói: “Muốn biết người đó có giải thoát hay không là nhìn trong cuộc sống của họ”.

    Tinh thần của nhà Phật là “Từ khước” và “Xa lìa”. Từ khước cái gì? Từ khước những tham dục, những tật đố, ích kỷ, san tham, những cái chấp ngã nhưng không từ khước cuộc sống. Chúng ta vẫn làm hết như ngày xưa nhưng ngày hôm nay biết tu tập, biết chuyển hóa nên làm tới đâu buông tới đó. Như ngày xưa làm từ thiện thì chấp có mình làm từ thiện, còn nay làm từ thiện nhưng Phật sự đó coi như hoa đốm giữa hư không. Chỉ cần một niệm buông xả thì tâm hồn rất thư thả.

    Lục Tổ dạy tiếp: “Tự tánh biến hóa rất nhiều, người mê không hay tỉnh giác. Mỗi niệm khởi ác thường đi trong con đường ác. Soi về một niệm thiện thì trí huệ liền sanh, đây gọi là tự tánh hóa thân Phật”.

    Tổ Lâm Tế nói: “Chưa khởi niệm đừng cho nó khởi, mà đã khởi thì đừng có theo, còn hơn ông đi hành cước mười năm”.

    Trong Thiền thoại có kể: Có một thầy Tỳ kheo tu trên núi nhưng chưa nhận được tâm. Một hôm Thầy quyết định xuống núi đi tham học ở phương xa. Đường đi phải qua một chiếc đò, người chèo đò là một cô gái. Bởi vì chưa khám phá được tâm của mình, chưa biết được con đường niệm khởi như thế nào nên tâm vẫn còn một chút tục trần. Trong lúc đi đò, ông mải ngắm nhìn cô gái. Lúc xuống đò, mọi người đều trả một đồng, riêng ông thầy Tỳ kheo, cô gái đòi phải trả hai đồng. Ông Thầy hỏi tại sao, cô gái nói tại vì Thầy nhìn cô nên cô lấy thêm tiền. Nghe nói như vậy, thầy Tỳ kheo đến khi trở về, cũng xuống đò nhưng quyết không nhìn cô lái đò nữa mà luôn luôn nhìn xuống mặt nước. Nhưng đến khi lên bờ, mọi người đều trả một đồng nhưng cô lấy của ông Thầy bốn đồng. Vị Tỳ kheo liền phản ứng, nói là lần này mình không nhìn thì tại sao lại phải trả nhiều tiền thế. Cô gái nói: Tuy rằng mắt thầy không nhìn nhưng tâm thầy nhìn nên con phải lấy đắt hơn. Ngay sau lúc đó, có một vầng mây sáng hiện và cô lái đò chính là Bồ Tát Quán Thế Âm hiện thân xuống để chỉ dạy cho Thầy Tỳ kheo đó. Từ đó Thầy Tỳ kheo phát minh được tâm địa của mình, không đi hành cước nữa mà ở trên núi chuyên tâm tu tập.

    Chỉ cần thấy và theo dõi được tâm của mình, chúng ta sẽ dừng bớt được tâm niệm xấu ác. Vừa khởi niệm xấu ác, chúng ta biết và chuyển hóa liền.

    Thiền sư Bàng Anh nói: “Một niệm tâm thanh tịnh, Phật ở điện ma vương. Một niệm tâm ác sanh, ma vương vào điện Phật”. Tức là Phật, ma chỉ ở ngay một niệm. Học kinh Bát Nhã, mình tưởng bờ bên này là mê, bờ bên kia là giác nhưng thực ra bờ bên này, bờ bên kia chỉ ngay nơi một niệm. Mê là bờ bên này, giác là bờ bên kia. Trong nhà Thiền nói, chỉ cần chuyển một đường gươm tức khắc thành tựu.

    Trong Kinh Duy Ma Cật, phẩm Phật quốc, Bồ Tát Bảo Tích hỏi Phật “muốn thâm nhập vào cõi Tịnh độ mười phương chư Phật phải làm thế nào?”. Đức Phật trả lời:“Muốn vào Tịnh độ trước phải tịnh tâm của ông”. Ngài Xá Lợi Phất nghe vậy liền khởi niệm: “Phật và các thánh đệ tử ở đây tâm đều thanh tịnh, nhưng thế giới Ta Bà này đầy những gò đổng, núi non, những cái xấu ác, tại sao Thế Tôn gọi là Tịnh độ?”. Đức Phật biết vậy liền nói: “Này ông Xá Lợi Phất, mặt trời mặt trăng chẳng sáng ư, mà sao kẻ mù không thấy? (sáng là sáng với người có mắt nhìn thấy được, còn kẻ mù từ lúc mới sinh thì không thể thấy được). Ngài Xá Lợi Phật bạch rằng: “Đó chẳng phải lỗi của người mù, chẳng phải tại mặt trời, mặt trăng mà tại chúng sanh vô minh nên không thấy được cõi này chính là cõi Tịnh độ”. Phật bảo: “Này Xá Lợi Phất, bởi chúng sanh tội chướng nên chẳng thấy cõi Phật Như Lai trang nghiêm thanh tịnh”.

    Trong Kinh Pháp cú, Phật dạy:

    “Đường này đến thế gian

    Đường kia đến Niết Bàn

    Tỳ kheo đệ tử Phật

    Phải ý thức rõ ràng”.

    Phật không đưa mình đi mà chỉ là người chỉ đường, mình phải ý thức rõ như vậy để tu tập.

    Bấy giờ Phật bảo Tôn giả Xá Lợi Phất: “Cõi nước đây của ta vốn thanh tịnh mà ông chẳng thấy”. Ông Bàng Long Uẩn nghe đến đoạn này có chỗ phát mình và làm một bài kệ như thế này:

    “Thường nghe cõi A Súc

    Nghĩ đến phương Đông cầu

    Hôm nay xét nét kỹ

    Bất động, tự nhiên đến”.

    Trong Kinh Duy Ma Cật diễn tả cõi Phật A Súc nằm ở phương Đông. Ông Bàng Long Uẩn trước đây cũng mong muốn đến cõi phương Đông, nhưng hôm nay xét kỹ, thấy được tâm mình khi bất động thì cõi phương Đông tự nhiên hiện ra. Tâm bất động ở đây là tâm gì? Tâm bất động chính là tâm vô trụ. Trong Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật dạy: “Nếu hay chuyển được vật tức đồng với Như Lai”. Tức là thấy biết rõ vật nhưng không khởi niệm trụ vào vật. Tất cả các pháp đều từ tâm biến hóa ra, nhưng mà chúng ta không chịu sống với cái tâm biết của mình mà chúng ta sống theo vật.

    Chẳng hạn như khi quý vị đến chùa này cúng dường, lúc cúng dường quý vị vui tức là đã gieo một cái nhân tốt. Nhưng tại sao ni sư không cảm ơn quý vị đã cúng dường? Không phải là người tu vô tình mà chính vì không cảm ơn nên mới làm thành ruộng phước cho quý vị. Vì không trụ vào số tiền cúng dường nên tâm thức quý vị rộng thênh thang, đó không chỉ là phước nữa mà còn là công đức từ nơi tự tánh. Như chiều nay quý vị ra ngoài trời đứng, nhìn lên hư không, nếu quý vị thấy một đám mây thì cặp mắt chỉ thấy đám mây chứ không thấy hư không (hư không bằng đám mây), còn nhìn lên bầu trời không một đám mây thì thấy hư không bao la. Cúng dường cũng như thế, gọi là tâm không chỗ trụ.

    Trong Thiền thoại có kể, Thiền sư Nhất Hưu một hôm đi cùng một đệ tử qua khúc sông, gặp một cô gái không qua được sông, Thiền sư Nhất Hưu liền cõng cô gái đó qua sông. Người đệ tử nghĩ Thầy mình phạm hạnh như vậy mà lại phạm giới nên sau đó về buồn, một tháng liền không nói chuyện với Thiền sư. Thiền sư hỏi chuyện, biết được bèn nói: Ta đã bỏ cô gái đó lại, mà ngươi vẫn còn cõng cô gái đó đến tận bây giờ.

    Trong Thiền thoại cũng kể câu chuyện:

    Tăng hỏi Thiền sư Huệ Hải: Thế nào là chỗ vô trụ?

    Thiền sư đáp: “Chẳng trụ tất cả chỗ, ấy là trụ chỗ vô trụ”.

    Không trụ tất cả chỗ tức là rõ ràng, thường biết hết nhưng không trụ, muốn được như vậy quý vị phải chịu khó tu tập. Đây không phải là nói suông, nếu quý vị chịu khó công phu tu tập, chuyển hóa thì sẽ tiến, sẽ có kết quả, dù tu theo pháp môn nào cũng vậy. Pháp không có mạt, mà mạt là do mình.

    Quý vị phải chịu khó tu tập, dù chưa được cũng cứ công phu, đừng suy nghĩ gì hết, cứ công phu sẽ có.

    Tinh thần Thiền nguyên thủy và Thiền đốn ngộ là một. Thiền nguyên thủy: chẳng hạn khi nhìn thấy một vật gì đó quý giá, thực tập biết đây là vị ngọt, đây là nguy hiểm, đây là con đường xuất ly. Nếu mà ăn cắp thì đó là con đường nguy hiểm, biết như vậy thì thoát ly. Còn tinh thần của nhà Thiền thì thấy là thấy đúng như thật, thấy biết như thật thì không khởi niệm trộm cắp, thì đồng với tinh thần Thiền nguyên thủy. Thiền nguyên thủy và thiền tối thượng thừa thực ra không có khác nhau, chỉ là về thực tập, một bên đi thẳng vào tâm, một bên đi từ tướng vào tâm.

    Thấy được điểm này tu tập sẽ rất an ổn, thảnh thơi, dù tu tập theo pháp môn nào. Bất cứ pháp môn nào cũng đều xuất phát từ Đức Phật, pháp không có tranh cãi mà chỉ có người tranh cãi.

    Thấy, nghe, tụng, đọc là tiểu thừa. Y pháp tu hành là trung thừa. Ngộ pháp, hiểu nghĩa là đại thừa. Không có một pháp, không có một chỗ trụ, trí tuệ tỏ sáng, đó là tối thượng thừa. Thừa nào là do mình, sao lại khởi tâm phân biệt?

    Thấy được pháp nào cũng là của Phật, chỉ là tháo đinh nhổ chốt, đừng cho tâm mình trụ vào một pháp nào.

    Để tóm kết lại, tôi xin kể một số câu chuyện. Trong Thiền thoại có kể, Thiền sư Trường Sa một hôm dạo núi, khi về thầy Thủ tọa hỏi: “Hòa thượng đi đâu về?”. Thiền sư đáp: “Lần theo dấu vết cỏ non đi. Nghe tiếng hoa rơi gọi trở về”.

    Đi thì biết đi, đứng chỉ là đứng, nhưng cái gì biết đi, biết đứng, cái gì nghe, mỗi giờ phút tâm thức đều có mặt hết, tất cả các pháp đều hiển bày từ nơi tự tánh của mình.

    Một hôm có ông cư sĩ ra bờ sông thấy một chiếc thuyền đang được đẩy ra sông, cua ốc ở dưới chết rất là nhiều. Ông về hỏi Thiền sư Vô Đức: “Bạch Hòa thượng, con thấy có một chiếc thuyền, ông lái đò đẩy thuyền ra sông, cua ốc chết rất là nhiều, như vậy là tội của ông lái đò hay tội của người ngồi trên đò?”.

    Thiền sư Vô Đức trả lời: “Cả hai đều không có tội, mà là tội của ông”.

    Lúc đó, người lái đò và cả người ngồi trên đò không khởi niệm giết cua cá, tự nhiên ông cư sĩ khởi niệm phân biệt nên có tội. Cho nên “Ba nghiệp hằng thanh tịnh, đồng Phật vãng Tây phương”. Pháp pháp đều từ nơi tự tánh lưu xuất. Lục Tổ nói: Tự tánh thường sanh trí tuệ, tức là phước điền”.

  • 6. Tại sao chúng ta phải phát Bồ Đề Tâm

    ĐĐ.Thích Khế Định thuyết giảng tại
    Đạo tràng Hoa Ưu Đàm - Úc

    I. Dẫn nhập.

    Hôm nay, tại đạo tràng Hoa ưu đàm, chúng tôi xin được chia sẻ Phật pháp với quý Phật tử. Quý Phật tử tu theo Hòa thượng cũng đã lâu, thâm nhập được Phật pháp rất là nhiều. Trước khi đi vào đề tài chính, chúng tôi muốn giảng về cái nhân để đời đời kiếp kiếp chúng ta được gặp Chánh pháp. Tôi thấy một số Phật tử tu thiền, hay tu các pháp môn khác, nhiều khi chúng ta hơi lầm, lầm ở chỗ có khi thấy ai có chút thần thông, chúng ta ca tụng, thần tượng.

    Đức Phật có nói:” Những người theo học Pháp với Phật giống như lông của con bò, những người hiểu pháp của Phật để tu giống như sừng con bò”. Quý vị thấy lông con bò nhiều hay sừng con bò nhiều? Tức là những người theo học Phật thì nhiều nhưng những người hiểu pháp của Phật để tu thì ít. Cho nên ngày hôm nay, nhân mùa Phật đản, tại ngay đạo tràng Hoa Ưu Đàm (tên này rất có ý nghĩa vì một khi hoa ưu đàm nở là một vị Phật ra đời. Trong Kinh diễn tả hoa ưu đàm một ngàn năm mới nở. Còn theo tinh thần nhà thiền, chỉ cần một niệm chúng ta tỉnh, chúng ta giác thì tức khắc trong giờ phút thực tại này có một vị Phật ra đời, mà một niệm chúng ta mê, bất giác thì tức là Phật nhập Niết Bàn), chúng tôi muốn điểm lại những vấn đề chính để quý vị hiểu thêm. Đây tôi muốn hỏi quý vị một số câu:

    Câu thứ 1: Tại sao Đức Phật thị hiện trong cuộc đời này? 

    Câu thứ 2: Tại sao quý Phật tử quy y Tam Bảo, nghe pháp, tu tập theo con đường thiền, kết duyên sâu với Hòa thượng Trúc Lâm?

    Thường thường, mình hiểu Phật thị hiện trong cuộc đời này là do thấy chúng sanh khổ. Nhưng sâu hơn, sở dĩ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện trong cuộc đời đầy đau khổ này là do nhớ lại lời đại nguyện của mình trong vô lượng kiếp khi còn hành Bồ Tát đạo, hay nói cách khác là Bồ đề tâm. Chúng ta ai cũng nhớ, nhưng nếu không phát Bồ đề tâm rộng lớn, không phát đại nguyện lớn thì sau chúng ta cũng quên hết. Cũng như thế, quý vị thấy mình có túc duyên sâu với Hòa thượng nhưng sở dĩ chúng ta quy y Tam Bảo, đến học pháp thiền là do từ vô lượng kiếp, chúng ta đã gieo hạt giống Bồ đề tâm, chính hạt giống Bồ đề tâm đã thúc đẩy quý vị đến đây.

    Cho nên, hôm nay tôi muốn chia sẻ với quý Phật tử đề tài: “Tại sao chúng ta phải phát Bồ đề tâm?”

    II. Tại sao chúng ta phải phát Bồ đề tâm

    Nếu quý Phật tử bố thí, cúng dường, tạo các thiện pháp, tu tập mà chưa phát Bồ đề tâm thì Phật nói người này tạo nghiệp của ma. Bởi vì quý vị bố thí, cúng dường thì có phước, mai này sanh vào gia đình giàu có, sung sướng, đầy đủ, mà không phát Bồ đề tâm thì mình hưởng thụ, hưởng thụ rồi đi xuống. Hoặc quý vị thấy có những người cuộc sống rất đầy đủ, tự nhiên bỏ hết tất cả, dấn thân vào con đường này, chính là nhờ hạt giống Bồ đề tâm thúc đẩy. Vậy, muốn phát Bồ đề tâm phải như thế nào?

    Trong Thiền thoại có kể: Có ông cư sĩ xem Khuyến phát Bồ đề tâm, có câu “Kim Cang chưa phải là cứng, chỉ có nguyện lực phát Bồ đề tâm mới là cứng, mới là chắc”.

    Quý vị thấy kim cương rất cứng, nhưng cũng bị vô thường chi phối. Nhưng nguyện lực của Bồ đề tâm, dù cho bị sóng thần, lũ lụt hay những biến thiên của cuộc đời tác động thì cũng không mất.

    Ông nghe như thế nên đến hỏi Thiền sư Vô Tướng: “Trên đường học Phật giác ngộ, khó tránh khỏi những nghiệp ma, cơ duyên lười biếng của con người”. Nghiệp ma là nghiệp gì? Quý vị thấy một ly nước bẩn có uống được không. Cũng thế, từ nhiều đời quá khứ, chúng ta đã vay nợ rất là nhiều, bây giờ chúng ta tu mà không muốn có những nghịch duyên đến với mình là chúng ta muốn trốn nợ. Chúng ta muốn thành tựu con đường đến bậc hiền, bậc thánh thì trên bước đường công phu, chúng ta sẽ gặp. Chúng ta đi tu là đi con đường ngược dòng, chỉ cần khéo một chút thôi. Chẳng hạn như, có một người thứ nhất muốn đi ra biển, họ chỉ cần nổ máy là chiếc thuyền liền đi ra biển, còn mình cũng lên thuyền, cũng nổ máy mà chiếc thuyền không đi thẳng, cứ chạy vòng vòng quanh bờ. Nếu là người có thông minh, có trí tuệ thì biết là phía dưới bánh lái bị cỏ, rong rêu bám vào, phải gỡ cho hết thì chiếc thuyền mới chạy.

    Trên đường học Phật giác ngộ, chúng ta gặp rất nhiều nghiệp chướng. Ai phát tâm đi tu cũng đều mong muốn tu cho đến ngày thành Phật, nhưng tại sao có những người giữa đường ra, không muốn tu nữa, đó là bị nghiệp ma khảo. Chúng ta thấy mỗi người có một nghiệp riêng, có người không thèm ăn nhưng thèm ngủ, có người không thèm ngủ nhưng thèm coi phim, có người thích danh, thích lợi, có những người gặp sắc thì dính. Giống như khi chúng ta bơm một quả bong bóng, khi bong bóng căng thì có những lỗ mọt làm xì ra. Chúng ta lúc dồn sức công phu tu thì những tập khí mà chúng ta huân tập từ nhiều đời xì ra. Nếu chúng ta khéo mà chuyển thì thành tựu, còn không khéo, không chuyển được thì bị chạy theo nghiệp. Nghiệp ma chính là tâm mình. Đáng ra, vào ngày này, giờ này, mình phải trả một nghiệp rất xấu mà mình đã tạo trong quá khứ, nhưng vào lúc đó nếu đang ngồi thiền, nghe pháp thì có phải trả nghiệp không? Có, nhưng nhờ chúng ta tu nên chuyển được nghiệp. Chẳng hạn, anh này vào ngày này, tháng này, không có tạo những nghiệp đó nên nghe pháp tới đâu là thấm tới đó, nghe tới đâu là tuệ giác khai mở đến đó. Còn ngày này, tháng này chúng ta đến đây nghe pháp mà tâm bồn chồn, bứt rứt như ngồi trên đống lửa thì đó là trả nghiệp, nhưng chuyển từ nghiệp nặng thành nghiệp nhẹ. Khi nghiệp chướng đến, đáng ra chúng ta phải bị khảo, có khi khảo cho đến chết nhưng nhờ sám hối, ngồi thiền, thấy được từng tâm niệm của mình nên chúng ta chuyển. Như vậy là nhờ hạt giống Bồ đề đã gieo từ vô lượng kiếp mà giữ chúng ta sống còn trong con đường giác ngộ.

    Trong mười hai nhân duyên, sợ nhất là ái, ái cha, ái mẹ, ái sắc, ái đủ thứ hết, khi nào ngồi yên lặng, nhất là nhập thất thấy rõ nghiệp trổ ra. Lúc đó, phải thành tâm sám hối, chuyên đi sâu vào con đường thiền định. Nếu như lúc đó ở ngoài, có cảnh thì quý vị sẽ dễ phạm. Sở dĩ chúng ta có duyên nhập thất, xung quanh có đại chúng bao bọc mình, đó là phúc duyên mình tốt, thù thắng, được gần Thầy lành, bạn tốt. Cho nên chúng ta phải phát nguyện gặp được Thầy sáng, dạy đúng con đường Chánh pháp thì cái nợ này chúng ta mới gỡ ra được. Tu tức là chuyển nghiệp.

    Ngài dạy tiếp: “Có khi thối thất tâm Bồ đề, phải nhờ nguyện lực chống đỡ, thúc giục. Cho nên các bậc cao tăng nhiều đời, đạo nghiệp của các Ngài thành tựu là nhờ thệ nguyện không thối chuyển”.

    Có những lúc bị thối thất tâm Bồ đề, không muốn tu nữa. Lúc đó mà bỏ ra thất là thua liền. Chẳng hạn như mình đang ngồi đây mà tâm mình rạo rực, trạo cử, bất an, chỉ cần quý vị bỏ đi không nghe pháp, không ngồi thiền nữa thì ra ngoài có khi gặp chuyện. Cho nên phải phát nguyện dũng mãnh: Dầu cho bất cứ giá nào mình cũng phải đi hết con đường này, chứ không có niệm thứ hai.

    Bồ Tát Sĩ Đạt Đa thành tựu cũng nhờ nguyện lực: Nếu không thành tựu đạo giác ngộ thì dù thịt nát xương tan cũng không rời khỏi cội bồ đề.

    Ngay cả chúng tôi, giờ này vẫn còn mặc được áo  cà sa này đều nhờ nguyện lực. Nếu trên bước đường công phu, nếu chúng ta không phát nguyện lực thì tu một thời gian gặp chuyện này chuyện nọ là mình bỏ. Còn nhờ phát nguyện, tâm Bồ đề giữ mình lại, giúp mình vượt qua cái khổ. Rồi nương đại nguyện đó để tu thì mới không bị rớt, vì bây giờ cảnh rất là nhiều, ra đường liền gặp cảnh.

    Ngài dạy tiếp: “Như mười đại nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền, mười hai đại nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm, bốn mươi tám đại nguyện của Đức Phật A Di Đà, bi nguyện địa ngục chưa trống thề không thành Phật của Bồ Tát Địa Tạng, không một vị nào không phải là tấm gương cho người học Phật”.

    Như Ngài Ngưỡng Sơn khi bị cha mẹ bắt về hoàn tục liền chặt đứt hai ngón tay, Thánh Ghandi ở Ấn Độ bỏ hẳn viên than lửa vào lòng bàn tay thề không nói dối. Chúng ta thấy người đời còn làm được như vậy thì người tu còn phải hơn thế, kể cả Quý Phật tử. Chúng ta phải phát nguyện lớn: “Đời đời kiếp kiếp đi đúng theo con đường Chánh pháp của Phật, không có một niệm thứ hai”.

    Cư sĩ nghe xong chưa hiểu nên hỏi: “Tại sao muốn thành Phật phải lập chí nguyện rộng phát Bồ đề tâm, kế là độ chúng sanh?

    Thiền sư Vô Tướng đáp: “Như một cội cây, chúng sanh giống như rễ của cây, Bồ Tát giống như hoa của cây, Phật là quả của cây. Nếu muốn cây nở hoa, kết quả thì phải siêng năng tưới nước gốc cây, chăm sóc chu đáo, nếu không gốc cây sẽ bị tổn hại. Cây khô héo thì làm sao nở hoa, trổ quả được”.

    Cho nên Kinh Hoa Nghiêm nói: “Muốn làm chư Phật, long tượng, trước phải làm trâu ngựa cho chúng sanh cưỡi”. Tức là phải nhẫn, phải chịu đựng, mà muốn làm được như thế phải có nguyện lực, phải có Bồ đề tâm.

    Cư sĩ nghe xong, mới hiểu được nguyện lực là trọng yếu.

    Ông hỏi tiếp: “Thưa Thầy, nguyện lực của Thầy là thế nào?”

    Thiền sư Vô Tướng nói: “Nguyện lực của ta không thể nói cho ông, sao ông không phát nguyện lực của ông đi?

    Cư sĩ nghe xong, liền đại ngộ.

    Trong Kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy: “Muốn thấy tất cả chư Phật trong mười phương, muốn bố thí kho tàng công đức vô tận, trừ khổ não cho chúng sanh thì phải nhanh chóng phát Bồ đề tâm”. Trên bước đường tu, mình luôn luôn gặp những nghịch duyên, những hoàn cảnh trắc trở mà chỉ cần phát Bồ đề tâm, tự nhiên phiền não vơi bớt và hết. Bởi vì trong lúc phát Bồ đề tâm, cảnh giới này chỉ có Bồ Tát hàng Thập địa mới thấy được, mà trong mỗi con người chúng sanh đều có Phật tánh, trong lúc phát khởi đại nguyện Bồ đề tâm, hạt giống này rung động, đánh bạt bao nhiêu hạt giống phiền não. Bởi thệ nguyện quá sâu nên những khổ đau, phiền não đều có thể vượt qua hết. Nhờ Bồ đề tâm, chúng ta luôn thu thúc sáu căn, tỉnh giác trong mọi hành động.

    Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ dạy: “Tâm Bồ Đề giống như hạt giống, có thể làm tăng trưởng pháp bạch tịnh cho chúng sanh. Tâm Bồ Đề giống như mặt đất vì có thể giữ gìn tất cả thế gian. Tâm Bồ Đề giống như nước trong vì có thể rửa sạch tất cả sự nhơ bẩn của phiền não. Tâm Bồ Đề giống như ngọn lửa lớn vì có thể tiêu đốt tất cả củi kiến chấp”.

    Có người thấy người nào có chút thần thông liền tin tưởng, đi theo, nhưng đó là thần thông sanh diệt. Có những nhà ngoại cảm có khả năng tìm mộ rất giỏi, nhưng nếu trong cuộc đời chưa từng nhìn lại tâm mình mà chỉ đi tìm những tướng sanh diệt bên ngoài thì cũng uổng một kiếp người. Vậy thần thông của nhà Thiền là gì? Là vào sắc, thanh, hương, vị, … không dính mắc, vô nhiễm. Tu một thời gian, khi đã gạn lọc được những ô nhiễm, phiền não, tự khắc quý vị biết mình là ai.

     III. Nhân duyên phát Bồ đề tâm

    Sở dĩ chúng ta tin vào Phật pháp, tin vào những đại nguyện mà chư Phật, chư Bồ Tát dạy là trong thời quá khứ chúng ta đã gieo nhân vô sinh, cho nên ngày nay chúng ta gặt quả thường trụ.

    Trong Nhập bồ đề hành luận có ghi: “Chúng ta may mắn làm thân người thì hãy tư duy những điều thiện pháp, trước hết cho bản thân mình đời này và đời sau”. Muốn được như vậy, phải phát bồ đề tâm, dọn sạch tâm mình, làm tất cả các thiện pháp mà không bị dính mắc

    Nếu chúng ta không sanh làm người mà sinh vào cõi trời, A tu la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì chúng ta cũng không phát được bồ đề tâm. Ngay cả trong cõi người, nếu sung sướng và đầy đủ quá, cũng khó mà phát được bồ đề tâm.

    Và nếu trong thời quá khứ, chúng ta không gieo trồng hạt giống Chánh pháp thì ngày nay, với cuộc sống như bây giờ, chúng ta khó có thể ngồi thiền được.

    Thỉnh thoảng, chỉ trong những khoảng sát na ngắn ngủi, chúng ta mới nghĩ đến điều thiện, là nhờ uy lực của chư Phật, như trong đêm tối có một chút ánh sáng lóe lên”.

    Cho nên, khi vừa khởi một niệm thiện là phải làm luôn, nếu không kịp làm thì sẽ mất. Mà sở dĩ khởi được niệm thiện là do uy lực của mười phương chư Phật và những nhân lành chúng ta đã gieo trong vô lượng kiếp quá khứ.

    Vì sức mạnh của thiện pháp rất yếu, mà sức mạnh của ác pháp thì thường xuyên và to lớn khủng khiếp, nếu không bằng tâm bồ đề tròn đủ thì không điều thiện nào có thể khắc phục. Bấy giờ các Đức Phật Mâu Ni Vương đã trải qua vô lượng kiếp tư duy thấy rõ lợi ích này, do vậy mà an lạc, tăng trưởng an lạc, tràn qua vô lượng dòng thác lũ của thế gian. Những ai muốn vượt qua trăm nghìn thống khổ của ba cõi, diệt trừ mọi bất hạnh cho chúng sanh, muốn hưởng thọ vô số trăm nghìn phước lạc, luôn luôn không rời bỏ tâm Bồ đề”. Do thiện pháp Bồ đề tâm đánh bạt được các ác pháp. Nếu phát tâm Bồ đề rộng lớn làm tất cả vì lợi ích chúng sanh, chịu mọi khổ não của chúng sanh, thì sẽ được an lạc.  

    “Khốn khổ bị trói buộc, ngục tù trong ba cõi, nhưng chỉ một sát na phát tâm thì đã được gọi là con của Đức Phật”.

    Phát Bồ đề tâm giống như mặc áo giáp, những viên đạn, cung tên phiền não có bắn vào cũng bị dội ra hết.

    Cũng như dung dịch đồng được chuyển thành công cụ cứng chắc, tâm Bồ đề cũng vậy, sau khi nhận hình tượng bất tịnh này, tác thành nó thành hình tượng trân bảo vô giá của một bậc tối thắng. Khi một chúng sinh gắn chặt được tâm vào mục đích cứu kính là đại bồ đề thì chúng sinh ấy có thể vượt qua vô lượng chướng ngại, vô lượng khổ đau, chinh phục được những pháp bất thiện cực kỳ mãnh liệt mà với tâm bình thường không thể nào khắc phục được”.

    Mình phải biết rằng đi trên con đường này sẽ gặp nhiều những hoàn cảnh nghịch duyên, nhưng khi phát Bồ đề tâm là mình có hùng lực, đi vào cuộc đời vẫn vui, vẫn cười, không đau khổ, vượt qua được mọi chướng ngại.

    Rồi chẳng hạn khi ngồi thiền có những ác pháp đến rất mạnh, rất nhiều, nếu trước đây có khi chịu không được, nhưng nhờ tâm bồ đề đánh bạt mọi phiền não, được an ổn.

    Để tóm kết lại, con đường chúng ta chọn muốn đi đến đích không phải là đơn giản.

    Ông Bàng Long Uẩn từng nói:

    “Khó khó khó,

    Mười tạ dầu mè trên cây búa”.

    Bà vợ ông Bàng Long Uẩn:

    “Dễ dễ dễ

    Trên đầu ngọn cỏ ý Tổ sư”.

    Cô Linh Chiếu:

    “Cũng không dễ, cũng không khó

    Đói ăn, khát uống, mệt ngủ khò”.

    Như vậy, chúng ta muốn đến đích trên con đường thiền, thành Phật tác Tổ là phải phát Bồ đề tâm. Nhờ phát Bồ đề tâm mới có thể vượt qua tất cả chướng ngại. Mong quý Phật tử luôn gắn chặt Bồ đề tâm cho đến ngày thành Phật.

     

  • 7. Công đức nghe pháp

    ĐĐ. Thích Khế Định thuyết giảng tại
    Thiền tự Đạo Viên – Canada

    Hôm nay chúng tôi xin chia sẻ đề tài “Công đức nghe pháp”. Bình thường, chúng ta ăn cơm, ăn bánh mỳ, uống nước để nuôi cái thân này, mà thân này thì vô thường, vô ngã. Còn chúng ta đi nghe, học hỏi, tu tập theo Phật pháp để nuôi pháp thân huệ mạng của chúng ta. Nếu nghe pháp mà cố gắng lãnh thọ thì cũng có thể tiêu một chút kiết sử trong con người chúng ta.

    Trong Kinh có kể có một vị hiệp sỹ đến gặp Đức Phật đề nghị giới thiệu một cảnh giới bất sanh bất diệt. Phật nói dầu cho ông đi cùng khắp cũng không thể tìm được một cõi giới nào bất sanh bất diệt, chính ngay nơi thân bảy thước của ông là cõi bất sanh bất diệt. Phật tuyên bố: “Này các Thầy Tỳ kheo, Như Lai tuyên bố ngay cái sắc thân của các ông (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), thế giới, sự tập khởi của thế giới, sự đoạn diệt của thế giới và con đường đưa đến sự đoạn diệt của thế giới”.

    Thế giới tập khởi là thế giới tật đố, tham sân, ích kỷ của mỗi con người chúng ta. Chúng ta có thể hiểu rõ về chân như, Phật tánh nhưng vì sao chưa thể thể nhập được, vì chúng ta còn bị những tập khí, kiết sử trói buộc, sai khiến. Như chúng ta không muốn nói những lời thô ác nhưng do còn tập khí nên ứng tác chúng ta vẫn nói những lời thô ác đối với người khác. Học Phật, học thiền phải lưu ý chỗ này.

    Một mảnh đất mà muốn gieo những hạt giống tốt phải dọn sạch cỏ. Muốn đặt chân vào mảnh đất thực tại phải quét sạch hết những tập khí dư thừa. Muốn được như thế chúng ta phải lắng tâm nghe pháp và tu học.

    Muốn được an lạc, hạnh phúc, muốn tu tập tốt thì trong chúng ta luôn luôn phải có những chất liệu sống nuôi dưỡng thân tâm của chúng ta.

    Trong Kinh A Hàm, Phật dạy: “Này các Thầy Tỳ kheo, có một người buổi sáng ý nghĩ điều lành, thân làm điều lành, miệng nói lời lành, người ấy có một buổi sáng an ổn và hạnh phúc”.

    Trong cuộc sống, nếu có một người mang đến cho quý vị 3 tặng phẩm, một là vật chất, hai là tri thức, ba là tâm linh, trong 3 tặng phẩm này, cái nào quý nhất?

    a. Mình đói, khát mà có người mang tặng phẩm vật chất đến thì mình rất biết ơn vì nó giúp mình nuôi dưỡng thân mình. Như vậy, vật chất cũng quý nhưng ở cấp độ thấp vì nằm trong cảnh giới khổ, không, vô thường, vô ngã. Nhưng vật chất nhiều mà tâm linh không có thì sẽ đi đến con đường đoạn diệt.

    Thời Đức Phật, ông Cấp Cô Độc có một người con trai không ưa thích việc cúng dường của cha, vì sợ hao tổn tài sản sau này sẽ thuộc về mình. Ông Cấp Cô Độc muốn hướng người con đến con đường thánh đạo nên ra một điều kiện: “Nếu con muốn lãnh 500 đồng tiền vàng thì khi Thế Tôn thuyết pháp, con hãy đến thọ bát một ngày một đêm”.

    Người con nghe vậy, đồng ý đến nhưng chỗ Đức Phật thì tìm một chỗ kín rồi ngủ. Lần thứ hai, ông Cấp Cô Độc lại đưa ra điều kiện: “Nếu con thuộc được một bài kệ của Đức Thế Tôn thì sẽ được 1000 đồng vàng”.

    Người con đến ngồi để nghe bài kệ của Đức Thế Tôn, do thông minh vừa nghe được bài kệ là thuộc liền. Thuộc xong, ông ra cổng chuẩn bị chạy về nhà nhưng do năng lực của Đức Thế Tôn, vừa ra đến cổng thì ông quên. Do vậy, lại chạy vào để nghe, nhưng nghe xong ra đến cửa lại quên tiếp, lại phải chạy vào lại. Lần này ông quyết tâm lắng thần nghe cho thật kỹ. Khi ông lắng thần nghe pháp thì ngay đó chứng quả dự lưu, nhập vào dòng thánh. Lúc này, đối với ông, tiền bạc không còn nghĩa lý gì, ông từ chối nhận tiền.

    Ông Cấp Cô Độc rất ngạc nhiên, thưa: “Bạch Đức Thế Tôn, xưa này chưa từng có  chuyện công tử Kala chê tiền. Hôm nay tại sao lại chê tiền?”

    Đức Phật nói bài kệ:

    “Dầu làm vua cõi trời

    Dầu làm vua cõi đất

    Cũng không sánh được bằng

    Người bước vào dòng thánh”.

    Người bước vào dòng thánh phá được thân kiến, giới cấm thủ, nghi (nghi Phật,nghi pháp, và nghi chính mình), giữ giới luật trong tinh thần chánh pháp.

    b. Mình kém mà có người hướng dẫn cho mình học hỏi thì cái đó rất quý, nhưng cái đó cũng không quý bằng tặng phẩm tâm linh.

    c. Mình đang chấp thân này là thật mà được Hòa thượng hướng dẫn chỉ ra cái thân này là giả thì điều này vô cùng quý giá. Nếu như chúng ta ở trong hoàn cảnh bế tắc về tâm linh thì mới thấy được công ơn của vị Thầy hướng dẫn tâm linh cho mình, là công đức không gì có thể sánh được.

    Trong Kinh Chánh pháp niệm xứ, Phật dạy: “Này các Thầy Tỳ kheo, có 4 loại ơn thật khó đền đáp. Những gì là bốn? Một là ơn mẹ, hai là ơn cha, ba là ơn Như Lai, bốn là ơn pháp sư thuyết pháp cho mình nghe. Nếu ai biết cúng dường bốn hạng người này sẽ được vô lượng phước đức, hiện tại được mọi người tán thán, đời sau có thể chứng quả Bồ đề”.

    Có người nói: “Nếu tất cả đều có Phật tánh thì ở nhà tu cũng được, đâu cần phải đến chùa nghe pháp”. Quý vị thấy có được không?

    Trong Thiền sư Trung Hoa tập 1, có ông Sa di Hy Thiên gặp Thiền sư Thanh Nguyên Hành Tư.

    Thiền sư hỏi: Ngươi từ đâu đến?

    Hy Thiên trả lời: Con từ Tào Khê đến.

    Thiền sư hỏi: Đem được cái gì đến?

    Ngài nói: Chưa đến Tào Khê cũng chẳng mất.

    Thiền sư lại hỏi: Mặc tình dùng đi, đến Tào Khê làm gì?

    Hy Thiên lại nói: Nếu không đến Tào Khê, đâu biết chẳng mất.

    Ở nhà hành xử như thế nào thì đến đây cũng hành xử như thế ấy, đến đây hành xử như thế nào thì về nhà cũng hành xử như thế ấy, cái đó không mất.

    Còn ở đây, chúng ta vui, hoan hỷ giống như Bồ Tát nhưng về nhà gặp chuyện thì hết vui, hết hoan hỷ. Đây là do tập khí, kiết sử còn dư thừa. Chúng ta đến chùa học hỏi, tu tập theo Phật pháp một ngày là đỡ tạo nghiệp một ngày.

    Một người từ đâu mà nhận ra được cái chẳng mất đó? Trong thân của mình có đầy đủ bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, trí tuệ, thiền định. Ví dụ như trước đây, quý vị chưa từng biết Phật, Pháp, Tăng nhưng trước một người ăn xin, quý vị có bao giờ thấy lòng mình thương cảm mà bố thí. Như vậy, cái đó có sẵn trong quý vị rồi. Nhưng mà mình chưa biết sâu, nên phải nhờ chư Phật, chư Tổ khai phát cho mình. Cho nên Đức Phật chưa ra đời, các pháp vẫn là vô thường, khổ, không, vô ngã. Khi Đức Phật ra đời, các pháp vẫn là vô thường, khổ, không, vô ngã. Nhưng mà khi Đức Phật chưa ra đời thì chúng ta chưa biết. Chân lý sống động là nhờ chư Phật, chư Tổ nên chúng ta phải biết ơn những người hướng dẫn cho mình.

    Trong Kinh Thi Ca La Việt, Phật dạy: “Chọn người lành nên theo, người ác nên xa. Ta theo thiện tri thức từ đó cho đến lúc thành Phật. Bậc Sa môn đạo sĩ dạy người bỏ ác làm lành, mở bày chánh đạo, ơn lớn hơn cha mẹ”.

    Kinh Pháp cú Phật dạy:

    “Như hồ nước rất sâu

    Trong lặng sáng một màu

    Người trí huệ nghe pháp

    Tâm thanh tịnh hết sầu”.

    Chúng ta lắng tâm nghe pháp, biết cái đó không thật nhưng không phải một ngày một giờ, một tháng, một năm mà hết mà phải gạn lọc dần dần những kiết sử. Vừa khởi niệm là gieo hạt giống vào tàng thức, đủ nhân đủ duyên sẽ phát tác. Chúng ta để ý trong cuộc sống giữa đời thường này, một ngày mình không thị phi có khó chịu không? Chúng ta phải thành thật để còn tu, còn chuyển hóa và đoạn diệt tập khí xấu ác.

    Một niệm xấu ác vừa khởi, chúng ta phải chặn nó liền để chuyển hóa, chứ không chuyển hóa thì đủ nhân, đủ duyên chúng ta sẽ nói ác, làm ác. Tu thiền là phải theo dõi từng tâm niệm của mình. Nhiều khi mình nghĩ mình hay lắm, tu tập tốt hơn bạn của mình, nhiều khi hiểu nhiều, sanh tâm ngã mạn mà mình không biết,nhưng khi ngồi yên nhìn lại rồi mới thấy mình xấu hơn cả những người xấu.

    Trong Kinh Chánh pháp niệm xứ, Phật dạy: “Nếu có người dùng tâm lành nghe pháp, đây là phước đức đệ nhất. Vì mục đích đi nghe pháp, dù chỉ bước một bước, phước báo có thể sanh lên cõi trời Phạm thiên. Người nghe pháp do thân, khẩu, ý tạo nghiệp lành nên sanh trong cõi trời, cõi người, được hưởng phước báo, hạnh phúc bậc nhất, mạng sống lâu dài, cuối cùng được Niết Bàn. Tất cả những công đức lớn này đều chỉ nhờ nghe pháp có được nên nghe pháp là an ổn bậc nhất”. Bố thí, cúng dường mà còn tâm chấp ngã, tạo tác nghiệp ác thì còn luân hồi trong ba cõi”.

    Khổng Tử nói: “Sáng nghe đạo, chiều chết cũng cam lòng”.

    Lấy ví dụ, có 1 cái rổ bụi bẩn bám, nếu ngày nào cũng mang chiếc rổ đó ra hồ nhúng xuống nước, không cần rửa, thì lâu ngày rổ cũng sạch. Hồ nước đó giống như giáo pháp của Đức Phật tưới tẩm vào thân tâm của mỗi con người chúng ta, những kiết sử hết hồi nào không hay. Đó chính là sự vi diệu của công đức nghe pháp

  • 8. Cẩn ngôn

    ĐĐ.Thích Khế Định thuyết giảng
    Thiền tự Đạo Viện – Canada

    Hôm nay Quý Thầy có bài chia sẻ với quý Phật tử. Chúng ta thấy rằng bệnh từ miệng mà vào, mà họa cũng từ miệng ra.

    Trong cuộc sống, nếu không khéo, trong lúc giận nói những lời ác khẩu là tạo tội. Nếu tu sơ sài thì không thấy gì hết nhưng nếu đi sâu vào công phu thì thấy nó tạo tác rất lớn, khó đi sâu vào thiền định. Cho nên hôm nay tôi chia sẻ bài pháp “CẨN NGÔN”. Cẩn là cẩn trọng, ngôn là lời nói. Cẩn ngôn là cẩn trọng lời nói.
    Cổ đức có nói: “Một lời nói ra có thể cứu người, mà một lời nói ra cũng có thể giết người” hay “Lời nói như mũi tên bắn ra có thể làm tổn thương người khác”.

    Trong Kinh Phật Tứ Sâm, Phật dạy: “Xét kỹ mọi việc rắc rối, lôi thôi ở đời chỉ sự cãi vã các điều không đâu mà ra, tai vạ từ cửa miệng mà ra, ngàn tai ương, muôn tội lỗi trở lại trói buộc lấy thân mình”.

    Thần khẩu hại xác phàm, nói nhiều thì lỗi nhiều.

    Trong Kinh A Hàm Phật dạy: “Này các Thầy Tỳ kheo, trên đời này có ba lối nói. Lối nói thứ nhất là nói lời như phân”, tức là nói lời ác khẩu đến người khác, làm cho người ta đau khổ, nhức nhối. Một người nếu bị người ta nói nặng giống như bị một mũi tên bắn vào ngực. Nếu chúng ta biết cách chuyển hóa thì rút mũi tên ra, băng bó vết thương lại thì vết thương sẽ lành. Còn nếu không biết chuyển hóa thì mình lấy mũi tên ra nhưng lại đâm vào người khác chung quanh mình (tức là đem kể lại), thì những người chung quanh tiếp tục bị mũi tên đâm. Đó là lời nói như phân.

    “Lối nói thứ hai là nói lời như rác

    “Lối nói thứ ba là lời nói như mật”, nghĩa là có ai đó đang bức xúc, đau khổ, mình dùng lời nói nhu nhuyến để an ủi, chia sẻ. Chúng ta tu Thiền phải nhớ nói những lời nhu nhuyến, thanh tịnh đến người khác.

    CẨN NGÔN CÓ LỢI ÍCH GÌ?

    Trong Kinh Pháp cú, phẩm Song Yếu có ghi: Vua Ba Tư Nặc ở nước Xá Vệ một hôm thiết lễ trai phạn cúng dường Đức Phật. Lúc chuẩn bị cúng dường có hai người lái buôn tới. Người lái buôn thứ nhất nghĩ và nói thế này:“Phật như đế vương, đệ tử như trung thần. Phật giảng thuyết pháp, đệ tử đọc tụng truyền bá. Vua Ba Tư Nặc thật là sáng suốt, biết cách cúng dường”. Ngược lại, người lái buôn thứ hai nghĩ và nói rằng: “Vua Ba Tư Nặc thật ngu, đã là vua rồi, còn cần gì nữa. Phật như bò, đệ tử như xe. Bò kéo xe chạy đông chạy tây. Phật có đạo hạnh gì mà phải kính tin theo”.

    Người thứ nhất khởi thiện tâm và có lời cẩn ngôn, chánh niệm, do đó được Tứ thiên vương ủng hộ. Ví dụ quý Phật tử đáng ra năm nay bệnh nặng nhưng chỉ cẩn khởi thiện tâm, dùng lời nhu nhuyến thanh tịnh với người khác thì tự nhiên được chuyển hóa.Còn người thứ hai khởi ác tâm nên quỷ La sát đến xúi giục uống rượu say, sáng hôm sau bị 500 chiếc xe bò cán chết và thần thức bị sa vào địa ngục A Tỳ. Người thứ nhất thấy vậy không về nữa mà đi sang một nước khác, nước này đang thiếu vua, thấy người này có vầng khí tốt nên mời làm vua. Sau khi lên ngôi, vị vua này biết nhờ hồng ân của Phật nên mời Phật đến. Lúc này Phật nói bài kệ:

    “Tâm là gốc muôn pháp

    Tâm đứng đầu sai sử

    Trong tâm khởi niệm ác

    Nói ác và làm ác

    Thì tội khổ theo ta

    Như xe lăn theo vết”.

    Trong cuộc sống, một niệm ác vừa dấy khởi phải biết cách chuyển hóa, nếu không sẽ nói ác và làm ác. Chuyển hóa như thế nào? Một niệm vừa khởi, thấy biết nhưng không trụ niệm, không chạy theo niệm nên chuyển hóa được. Đi suốt qua tất cả cảnh mà không trụ vào cảnh thì thoát.

    “Tâm là gốc muôn pháp

    Tâm đứng đầu sai sử

    Trong tâm khởi niệm thiện

    Nói thiện và làm thiện

    Thì phước lạc theo ta

    Như bóng đeo theo hình”.

    Theo tinh thần tu hành, rất sợ ác khẩu. Trong Sa di luật nghi ghi lại: Trong một tinh xá vào thời Đức Phật có vị Tỳ kheo già, tụng kinh bị khan tiếng. Có một Sa di trẻ tụng kinh rất hay thấy vậy nói rằng: “Thầy tụng kinh giống như chó sủa”. Ông Thầy Tỳ kheo già đã chứng A la hán thấy vậy kêu lại nói: ta đã chứng A la hán, nếu con nói vậy sẽ bị đọa địa ngục. Con phải sám hối đi. Sám hối rồi, mặc dù không đọa địa ngục, ngạ quỷ nhưng vẫn chịu 500 kiếp làm chó. Sau khi đọa làm chó, đến đời cuối cùng bị người ta chặt bốn chân vứt xuống vực. Gặp Ngài Xá Lợi Phất cho ăn cơm và chú nguyện. Sau khi chết, nhờ phúc duyên làm Sa di trong đời Đức Phật Ca Diếp, ngày hôm nay gặp được Ngài Xá Lợi Phất chú nguyện nên tái sanh làm con ông trưởng giả. Đến bảy tuổi gặp lại Ngài Xá Lợi Phất khai thị chứng quả A la hán. Sau khi chứng quả rồi, nhìn lại những đời quá khứ và nguyên nhân của nó. Ngài phát nguyện cả đời không thọ giới Tỳ kheo, chỉ làm Sa di thôi.

    Trong Kinh Phạm Võng có một cô gái được người mẹ dắt đến tinh xá, gặp một vị Tỳ kheo già mắt chảy gỉ nhèm. Thấy vậy cô liền nói: “Ông Tỳ kheo này giống như con quạ mù”.  Câu chuyện này đến tai Đức Phật, Phật nói: Do cô gái này nói lời ác khẩu đến Thầy Tỳ kheo nên 500 kiếp sẽ làm con quạ mù. Người mẹ nghe vậy sợ quá đến đảnh lễ Đức Phật khóc lóc, nhờ năng lực của Đức Phật để chuyển hóa lại. Các Thầy Tỳ kheo thưa: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là bậc đại từ, đại bi, tại sao lại thọ ký như thế?”.Phật nói: “Ta không thọ ký thì pháp nó cũng như thế. Pháp nhĩ như thị”.

    Do đó, chúng ta thấy nếu không cẩn ngôn thì dù Phật có ra đời cứu cũng không được. Tu phải kiểm soát lời nói chứ không phải chuyện đơn thuần. Một lời nói mình nói ra tác động làm cho người khác đau khổ thì trong cuộc đời mình sẽ gặp phải những hoàn cảnh khó khăn đến.

    Trong Cổ học tinh hoa, Lão Tử nói: “Con người khi sống thì mềm yếu, khi chết thì cứng. Muôn vật cây cỏ khi sống thì mềm yếu, khi chết thì khô cứng. Cho nên cứng là con đường chết, mà mềm là con đường sống”.

    Tinh thần Thiền là phản quan tự kỷ, lo bổn phận mình là đủ, luôn luôn phản chiếu lại tâm thức của mình, chánh niệm, cẩn ngôn, còn chuyện của người ta là chuyện nhân quả người ta gánh. Thiền sư Vô Đức có một vị đệ tử hay nói xấu huynh đệ, Ngài bèn gọi ra nói: “Nhà ông tối thui, sao ông không chịu thắp đèn?”. Vị đệ tử nghe nói liền tỉnh ngộ, sụp xuống lạy.

    Thế nào là Tổ? Ngôn hạnh tương ưng. Mình tưởng ngôn hạnh tương ưng là phải nói ra những lời sấm sét, nói cho người khác ngộ đạo, mà là các Ngài dè dặt, cẩn ngôn.Tóm lại, nói ít không phải là ít nói mà không nói những điều vô ích.

  • 9. Sức mạnh của lòng từ

    ĐĐ.Thích Khế Định thuyết giảng tại
    Thiền tự Đạo Viên Canada

    Đức Phật đã dạy: “Gieo nhân nào gặt quả đó”.

    Ngày hôm nay quý vị được làm thân người, sáu căn đầy đủ thì phải biết rằng trong quá khứ mình đã gieo nhân rất tốt. Nếu không tiếp tục gieo nhân thì dù cho quý vị có đến chùa, được Thầy cầu chúc điều tốt lành mà quý vị còn có tâm sát sanh thì lời cầu chúc cũng vô ích. Nếu muốn được an vui thì phải khởi tâm từ bi. Muốn có được tâm từ bi thì phải gieo nhân.

    Có một vị Thừa tướng một hôm đến thưa với Thiền sư Mã Tổ: “Nên ăn thịt uống rượu hay không nên ăn thịt, uống rượu?”

    Thiền sư Mã Tổ trả lời: “Ăn thịt uống rượu là duyên phận, còn không ăn thịt uống rượu là phúc khí”. Tức là nếu quý vị được ăn thịt, uống rượu đầy đủ là duyên phận của quý vị tốt. Nếu quý vị ở một xứ nghèo khổ, muốn ăn thịt, uống rượu cũng không có. Đó là do trong quá khứ đã gieo nhân xấu nên giờ chịu quả khổ đói kém. Còn “Không ăn thịt, uống rượu là phúc khí”, có nghĩa là mình có mà mình không ăn hoặc giảm bớt, chẳng hạn như có ngày đáng lẽ quý vị định giết gà để ăn mà mình kiêng cữ không sát sanh (như mùng 1 hoặc ngày rằm), tức là có sự giảm bớt thì phúc của quý vị ngày càng tăng trưởng, tạo nhân lành để kiếp sau mình sinh ra trong cảnh yên ổn hơn ngày hôm nay. Cho nên chúng ta phải tạo dựng cho mình một cuộc sống có sức mạnh của lòng từ.

    “Từ” là ban vui, “bi” là cứu khổ. Đức Phật thấy chúng sanh còn lăn lộn trong ba đường sáu nẻo, sống chết không biết đi về đâu nên Ngài khởi tâm từ bi, bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp, con thơ nên quyết tâm ra đi tìm đạo, thấy được con đường thoát khổ và chỉ dạy lại cho chúng sanh cũng ra khỏi cảnh khổ.

    Tinh thần của Bồ Tát đạo luôn luôn lấy ba pháp làm tiêu điểm.

    Một là “chúng sanh từ”, có nghĩa là theo cặp mắt của người giác ngộ thì thấy tất cả chúng sanh trong cõi đời này đều có nhân duyên nhiều đời từ kiếp quá khứ, hoặc làm cha, hoặc làm mẹ, hoặc làm anh em. Đức Phật có dạy: Đi cùng trên một chiếc thuyền hay chuyến đò đã có nhân duyên năm trăm kiếp, cho nên phải có nhân duyên rất sâu dày nên ngày hôm nay chúng ta mới cùng nhau ngồi đây nghe và học hiểu Phật pháp. Cho nên hàng Bồ Tát lấy “chúng sanh từ” làm tiêu điểm để đi vào cuộc đời này. Quý vị thử nghiệm một điều: Tại sao trong cuộc đời, nhiều khi mình khởi được tâm từ bi đối với con vật nhưng lại không thể khởi được tâm từ bi đối với con người, có khi cả với người thân của mình, thậm chí nhiều khi còn thù ghét, tật đố, ích kỷ. Sở dĩ như vậy là do chúng ta không có sức mạnh của lòng từ. Còn khi  chúng ta có sức mạnh của lòng từ thì dù cho người đó có chỉ trích, đánh đập, hủy nhục mình, mình vẫn cười, an ổn sống trong cuộc đời này. Đó mới là người Phật tử chân chánh. Cho nên Phật pháp rất là thiết thực, mình học Phật pháp không phải là học suông mà học để cho mình có được sức mạnh của lòng từ.

    Hai là “Pháp giới từ”. Theo cặp mắt giác ngộ của chư Phật, chư Bồ Tát thì tất cả chúng sanh đều là huyễn và tất cả các pháp cũng đều là huyễn. Bồ Tát vào cuộc đời này, biết các pháp là huyễn, chúng sanh là huyễn nhưng các Ngài vẫn khởi tâm từ bi, dùng sức mạnh của lòng từ để đánh thức, lay tỉnh mình khỏi cơn mê.

    Ba là “Vô duyên từ”, tức là lòng từ không cần duyên cớ. Sở dĩ các Ngài bố thí, thấy đói liền cứu, thấy khổ liền giúp, làm hết tất cả thiện pháp mà không chấp, không trụ là bởi vì có lòng từ không duyên cớ. Sở dĩ các Ngài được như vậy là do có sức mạnh của lòng từ bi đã gieo nhân từ thời quá khứ. Còn mình nhiều khi bố thí, cúng dường cầu phước là mình có pháp để chấp, có pháp để trụ.

    Trong Kinh nói: “Chư Phật trong mười phương đều chứng quả trong nhân đạo”, có nghĩa là Phật pháp tại thế gian, chẳng lìa thế gian mà giác ngộ. Lìa thế gian tìm quả Bồ đề giống như tìm sừng thỏ. Muốn thành Phật đạo, đừng ỷ lại vào việc đến chùa, tụng kinh, sám hối. Đến chùa gieo duyên với Tam Bảo cũng tốt, nhưng chỉ là tu với Phật, còn ra ngoài đời mới là tu thực sự. Ở chùa, quý vị tụng kinh, sám hối, ngồi thiền rất là thành tâm nhưng về nhà bị người thân nói ra nói vào mà quý vị nổi tham, sân, si thì Phật đạo khó thành, sau này cận tử nghiệp đến sẽ dễ chiêu cảm quý vị đến cảnh giới xấu.

    Trong Kinh Duy Ma Cật: “Làm hết tất cả các việc phàm phu mà luôn luôn khởi niệm Phật đạo”, tức là khi lái xe hay khi nấu cơm, quét nhà, giặt giũ đều trong tinh thần chánh niệm, tỉnh giác. Muốn biết một người giải thoát hay không giải thoát thì thấy người đó sống trong cuộc đời giải thoát hay không giải thoát.

    Đức Phật do sức mạnh của lòng từ bi đã độ thoát cho người cực ác như Ương Quật Ma La (giết người rất nhiều) hay người nghèo hèn như ông Ni đề (làm nghề hót phân). Nhân địa tu hành Bồ Tát đạo: Bồ Tát thường dùng sức mạnh của lòng từ bi làm bổn nguyện, lấy thân mình làm cầu để độ cho tất cả chúng sanh, dù người đó là người thiện hay người ác. Bồ Tát vào cuộc đời đối với người thân hay người thù ghét, hủy nhục mình đều coi như bình đẳng, giống như cây cầu, có tình nhưng vô tình với tất cả các pháp. Quý vị cũng có thể có tình, thương hết tất cả mọi người nhưng trong tình thương đó vẫn lồng bản ngã của chính mình, không thâm nhập được tinh chất của con đường vô ngã, ai đụng vào mình thì dễ nổi sân, si.

    Thiền sư Triệu Châu một hôm có một vị tăng đến hỏi:

    “Nghe danh cầu đá Triệu Châu đã lâu, nhưng đến đây chẳng thấy cầu đá, chỉ thấy cầu khỉ”.

    Thiền sư Triệu Châu nói:

    “Ông chỉ thấy cầu khỉ, chưa từng thấy cầu đá”.

    Ông Tăng hỏi: “Thế nào là cầu đá của Triệu Châu?”

    Ngài nói: “Độ lừa, độ ngựa, độ hết tất cả mọi người”.

    Cầu đá Triệu Châu, đó là tâm bình đẳng độ hết tất cả chúng sanh, cho nên các ngài vào cuộc đời này nhưng không bị cuộc đời này làm cho đau khổ.Còn mình làm thiện pháp mà có tâm chấp trước thì ai nói gì mình cũng đau khổ.

    Trong Nhân địa Bồ Tát hạnh, Đức Phật cũng từng xả hết tất cả: đầu, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân để bố thí, cúng dường. Sở dĩ Ngài làm được như vậy bởi vì Ngài có sức mạnh của lòng từ bi. Quý vị cũng có thể bố thí giống như Đức Phật ngày xưa. Chẳng hạn có người chửi mắng, nhục mạ quý vị thì quý vị đừng duyên theo tiếng chửi mắng mà khởi lòng thương người đó đang nằm trong cảnh giới vô minh, nếu giờ mình chửi mắng lại thì không khác gì người đó cả, tức khắc giờ đó quý vị đang bố thí lỗ tai. Hoặc đi đến chùa hay chỗ đông người, nhìn thấy người mình không ưa, có thù ghét mà tâm bình thản, coi người đó giống như người thân của mình thì giờ phút đó mình đang bố thí cặp mắt (sau này ra đời cặp mắt như hoa sen). Trong cuộc sống, ai sanh ra cũng muốn mình xinh đẹp, nhưng không phải ai cũng được như ý, đó là do nhân địa tu hành ngày hôm nay, mình nói xấu người này, thị phi người nọ. Nếu như mình không nói xấu người này, người khác thì giờ phút đó mình đang bố thí lưỡi. Rồi trong cuộc sống, mình làm hết tất cả các việc thiện pháp mà không chấp trước, thì lúc đó mình đang bố thí tay, bố thí chân, bố thí tất cả mà không chấp trước tất cả.

    Bố thí bao gồm nội bố thí và ngoại bố thí.

    Ngoại bố thí là bố thí tiền, tài, của cải mà nội bố thí là bố thí thân mình, làm hết tất cả trong tinh thần từ bi và trí tuệ.

    Thực hành hạnh nguyện từ bi để làm sức mạnh trong cuộc sống đầy của cải vật chất. Trong cuộc sống giữa đời thường, nếu chúng ta không có sức mạnh, năng lực của lòng từ bi thì tâm thức mình sẽ luôn bị phiền não chi phối.

    Trong Kinh Trung bộ số 21, Đức Phật dạy:

    “Này các Tỳ kheo, như khi những tên đạo tặc hạ liệt dùng cưa hai lưỡi cắt tay chân các ông. Tuy vậy, ngay khi ấy, người nào giữ tâm thù hận, vì lý do đó người ấy không thực hành lời dạy của ta”.

    Ở đây chư Tỳ kheo, các ông cần tu tập như sau: “Tâm sẽ không lạc hướng, ta cũng không thốt lên lời ác mà chúng ta sẽ sống thân ái, bi mẫn với tâm thân thiện, không thù nghịch, chúng ta sẽ sống sung mãn toàn thể thế gian với tâm thuần thiện, bao la quảng đại, không căm thù, không sân hận, này các Tỳ kheo, đấy là các ông phải tu tập bản thân”.

    Chúng ta là Phật tử có dám phỉ báng Phật không? Phật nói nếu người nào tu học Phật pháp mà không thâm nhập được nghĩa lý của Phật pháp, không hành theo lời Phật dạy thì người đó phỉ báng Như Lai. Nếu ai đó nói nặng lời với mình, ngay khi đó mình giữ tâm bình thản, không thù hận, không thốt lên lời ác thì lúc đó mình đang sống với tâm từ ái, là thực hành theo những lời Phật dạy.

    Trong Kinh Trường bộ 1, Phật dạy:

    “Tu tập đời sống tối thượng là cách hành trì của các bậc thượng nhân, sống đời từ bi bởi vì đây chính là cách sống tối cao ở đời, hoặc là những trạng thái tâm cao thượng có tên từ ái, tình thương vô hạn, bao la và đầy thiện chí. Đối với muôn loại hữu tình, bi mẫn với tất cả chúng sanh đang đau khổ trong bất an, hoạn nạn và mong được cứu giúp”.

    Do đó, Đức Phật thường khuyến khích các đệ tử thực hành hạnh từ bi và Ngài luôn luôn nhấn mạnh đến con đường tu tập lòng từ. Nhờ phát triển lòng từ mà các đệ tử ngài có sức mạnh đi vào cuộc đời mà không bị cuộc đời làm cho đau khổ.

    Toàn bộ giáo pháp của Đức Phật đều nêu lên sức mạnh của lòng từ bi. Nếu có năng lực của lòng từ bi, quý vị khỏi cần ai cầu chúc điều gì cả mà vẫn được mạnh giỏi, được an lạc. Còn cầu chúc hay mà quý vị không gieo nhân thì cũng không được như lời chúc. Gieo nhân tốt thì mới gặt được quả tốt.

    Quý vị phải nhớ, đến chùa không phải là để xin. Phật không phải là một vị thần linh để ban phước, giáng họa cho ai mà Đức Phật là bậc thầy dẫn đường, chỉ cho mình biết đi con đường nào là con đường khổ, đi con đường nào là con đường an lạc và hạnh phúc, còn đi hay không đi là do chính mình quyết định.

    Trong Kinh A Hàm, khi ngài A Nan bạch Phật rằng:

    “Bạch Đức Thế Tôn, nửa phần giáo pháp của Đức Thế Tôn nằm trong việc tu tập lòng từ”.

    Đức Phật dạy rằng: “Không phải nửa phần mà toàn bộ giáo pháp của Như Lai.”

    Trong Kinh Pháp cú, Phật dạy: “Lấy từ bi và ôn hòa để thắng nóng giận, lấy hiền lành để thắng hung dữ. Lấy bố thí và lòng rộng rãi để thắng san tham. Lấy chân thật để thắng giả dối”.

    Sở dĩ quý vị nóng giận là do mình không phát khởi được tâm từ bi. Nếu tâm từ bi sung mãn thì dù người đó nói nặng mình cũng bỏ qua. Cho nên những người hay nóng giận phải quán tâm từ bi thật nhiều để xóa bớt nghiệp nóng giận.

    Trong Kinh Pháp cụ, Phật dạy:

    “Vui thay khi ta sống

    Không hận giữa hận thù

    Giữa những người hận thù

    Ta sống không hận thù”.

    Tức là mình sống giữa những người tật đố, những người ghét mình mà mình không có hận thù, không có tật đố. Muốn được như vậy, mình phải phát khởi tâm từ bi thật rộng. Tinh thần từ bi đó có trí tuệ Bát Nhã, thấy đúng như thật. Chiến thắng chính bản thân mình, chiến thắng sự nóng giận, lòng tham lam của chính mình thì đó là người có sức mạnh bậc nhất. “Thắng ngàn quân địch chưa phải là chiến công oanh liệt nhất. Tự chiến thắng mình, đó mới là chiến công oanh liệt nhất”.

    Phương pháp tu tập hàng ngày để chuyển hóa tâm sân hận thành tâm từ bi: 

    Trong Kinh A Hàm kể lại: Một hôm đi khất thực, Tôn giả La Hầu La được mấy đứa nhỏ chửi mắng. Lúc này La Hầu La khởi niệm hoàn tục, về nhà nối ngôi vua, sau đó sẽ giắt binh lính đến tàn sát làng này, đặc biệt là mấy đứa nhỏ. Đức Phật thấy được tâm niệm của La Hầu La bèn trách và bắt La Hầu La ngồi xuống dùng phương pháp sổ tức, theo dõi hơi thở và từng niệm xấu ác của mình. Sau khi thấy rõ được niệm xấu của mình thì quý vị mới chuyển hóa được niệm xấu thành niệm tốt được, còn mình sợ và trốn tránh thì làm sao mà chuyển hóa được.

    Tối trước khi đi ngủ, chịu khó ngồi lại tịnh tâm nhìn lại ngày hôm nay mình đã làm điều gì xấu ác, ảnh hưởng đến những người chung quanh mình. Khi thấy được rồi thì phải phát nguyện từ nay trở đi con không làm điều gì xấu ác cho người khác nữa. Như vậy, chắc chắn khi ra đi mình sẽ sinh về cảnh giới lành. Trong lúc đi trên con đường Bồ Tát đạo, quý vị phải thực thi con đường chánh niệm, làm việc gì rõ biết mình đang làm việc đó, biết là đúng hay sai. Đó là “trạch pháp giác tri”, phân biệt rõ ràng thiện và ác.

    Vì thế, tâm từ có đặc tính không luyến ái bất kỳ ai. Nó bao hàm một tình thân hữu không có nhục dục. Bởi vậy tình thương của Đức Phật trải rộng ra không chỉ có loài người, mà còn cho tất cả chúng hữu tình.

    Như trong Kinh Tiểu bộ, Phật nói:

    “Nguyện cầu an lạc chúng sanh.

    Mọi loài tâm trí tốt lành vui tươi.

    Cầu sao tất cả muôn loài,

    Cao to yếu mạnh ngắn dài, nhỏ chung.

    Dầu ta thấy được hay không,

    Những loài xa vắng hay gần bên ta.

    Những loài đã được sanh ra,

    Hoặc chưa sanh thảy an hòa tâm tư”.

    Trong Kinh A Hàm, Phật dạy tiếp:

    “Này các Thầy Tỳ kheo, thật không dễ dàng tìm thấy một vị hữu tình nào ở trong tiền kiếp lại không phải là mẹ, cha, anh, chị, con trai, con gái các ông ở một kiếp quá khứ trong vòng luân hồi tái sinh vô thủy này”.

    Có một ông Tăng trong pháp hội của Ngài Trí Khải đại sư, một hôm nhớ mẹ quá nên khóc. Ngài Trí Khải bèn nói: “Ông chỉ thấy được kiếp hiện tại là mẹ ông thôi, còn trong quá khứ lâu xa biết bao chúng sanh là cha, là mẹ của ông. Vô lượng kiếp về trước, cha mẹ ông rất là nhiều”. Lúc này ông Tăng tỉnh ngộ.

    Sở dĩ mình đau khổ trong cuộc đời này là mình chấp chặt vào cha mẹ trong hiện đời, còn với cặp mắt giác ngộ của đức Phật thấy tất cả mọi người đều là cha, là mẹ của mình. Thấy như vậy, quý vị còn khởi niệm sân hận được không?

    Trong Kinh Tăng chi bộ, Phật nói về mười một điều lợi ích của sự tu tập từ bi:

    1. Ngủ ngon

    2.Thức dậy thấy khỏe, nhẹ nhàng trong lòng (Người có tâm quảng đại, luôn bao dung, tha thứ thì ít bệnh hơn những người luôn cau có, cằn nhằn).

    3. Ngủ không có ác mộng.

    4. Được gần gũi và thân cận với nhiều người.

    5. Được thân cận loài phi nhơn và chim cá

    6. Chư Thiên ủng hộ, bảo vệ

    7. Không bị lửa, chất độc làm hại

    8. Dễ đi vào thiền định

    9. Nét mặt luôn trầm tĩnh

    10.Lúc chết không có mê mờ,

    11. Khi chết sanh vào cõi trời Phạm thiên.

    Trong Kinh Như Thị ngữ, Đức Phật dạy: “Tất cả công đức mà ta thực hiện ở trên đời, góp lại cũng  không bằng sự thực tập từ quán. Làm chùa, đúc chuông hay làm việc xã hội, v.v…, tất cả những công đức đó chỉ bằng một phần mười sáu công đức thực tập lòng từ. Cũng như khi nhìn lên trời, chỉ thấy trăng vào sao, và nếu ánh sáng của các ngôi sao hợp lại không bằng ánh sáng của mặt trăng”.

    Tóm lại, sống trong cuộc đời này phải luôn luôn phát khởi lòng từ bi đối với tất cả mọi người, đó là năng lực, là sức mạnh để chúng ta sống trong cuộc đời này mà không bị cuộc đời làm cho đau khổ.

     

  • 9. Thiền trong biển dục

    ĐĐ. Thích Khế Định thuyết giảng tại TVTL
    Sùng Phúc - Hà Nội

    1. I.Dẫn nhập

    Hôm nay hội đủ duyên lành, được phép của Thầy Trụ trì Thiền viện Trúc Lâm Sùng Phúc có mời chúng tôi giảng một ngày tu thanh tịnh hàng tháng. Trước khi đi vào đề tài chính ngày hôm nay, tôi xin hỏi Quý Phật tử:” Giữa cuộc sống đời thường bận rộn này, Quý Phật tử thử nghiệm lại trong cuộc đời tu tập của mình thấy ở cõi đời này tu dễ hay khó? Tại sao khó?”

    Trong Kinh Bảo Tích, Đức Phật dạy: “Một ngày, một đêm tu thiền trong cõi Ta Bà này thì bằng một năm trên cõi Phật A Súc, cõi Phật A Di Đà, cõi Phật Dược Sư, cõi mười phương chư Phật”. Tại sao lại như vậy? Chỉ cần tu một ngày, một đêm trong cõi Ta Bà này thì thành tựu về Giới, thành tựu về Định, thành tựu về Tuệ.
    Cuộc sống ngày hôm nay dục vọng rất nhiều, đạo đức rất thấp. Chúng ta, dù gì đi chăng nữa, vẫn có phúc duyên may mắn còn sót lại từ đời quá khứ, được ngồi yên ở đây nhìn lại tâm mình để chuyển hoá nội tâm.
    Kinh Pháp cú Phật dạy:

    Ai sống một trăm năm

    Ác giới không thiền định

    Tốt hơn sống một ngày

    Trì giới tu thiền định.

    Quý Phật tử một tháng bỏ ra chỉ có một ngày mà đến đây tu lơ là, không chịu ngồi thiền, không chịu nghe pháp, một số người tụm năm tụm bảy nói chuyện. Mình cứ tưởng mình sống dai, sống thọ cho nên đến đây không có mục đích để tu. Vừa rồi ở bên Úc có mở khoá  tu, Phật tử ngồi thiền cùng với quý Thầy một ngày bốn thời, mỗi thời hai tiếng ngồi kiết già, ngồi yên nghiêm chỉnh, bất động (Trong tinh thần bất động, Thiền sư Đạo Nguyên nói có một pháp là Chỉ quán đả tọa, có nghĩa là ngồi yên, dù cho có sự cố bên ngoài (động đất, sóng thần, nghịch duyên…) vẫn bất động). Những người đó nói rằng trước đây khi chưa biết con đường thiền tập, cuộc sống của họ luôn luôn bị đau khổ, gặp nhiều bức xúc, gia đình không được hạnh phúc. Từ khi gặp Hoà thượng Trúc Lâm chỉ dạy con đường thiền tập thì họ mới có cơ hội sống lại, vươn lên và khẳng định Thiền chính là sự nghiệp của họ. Ngoài ra không còn gì khác. Còn chúng ta ở đây, gần Thiền viện quá nên nhiều khi ỷ lại, đến đây tu lơ là. Có người nói ở nhà tu cũng được nhưng không phải vậy. Trong môi trường tu tập 100, 1000 hay 2000 người, cùng ngồi tu thiền, năng lực từ trường giao thoa thì công đức rất lớn. Mà trong cuộc đời bận rộn, dục vọng điên cuồng này, chúng ta chỉ cần tu một ngày thôi thì giá trị rất là lớn. Mình nghiệm lại trong đất nước Việt Nam, hay trong thành phố Hà Nội này, có bao nhiêu người thức tỉnh tu tập để chuyển hoá.

    Do đó trong Kinh Pháp cú Đức Phật dạy: “Tinh tấn giữa những người buông lung, tỉnh táo giữa những người mê ngủ. Kẻ trí như con tuấn mã, bỏ lại sau lưng những con ngựa gầy hèn”. Tức là giữa những người buông lung, giữa danh lợi, quyền uy, sự hận thù, chúng ta vẫn tinh tấn tu theo con đường thiền tập thì phước lực gấp trăm gấp ngàn lần những nơi tu trong thuận cảnh, thuận duyên. Nếu khó mà tu được thì mới có công đức lớn. Vì vậy mà đề tài buổi nói chuyện hôm nay là “Thiền trong biển dục”.

    II. Thiền trong biển dục

    Trong Chứng đạo ca, Thiền sư Huyền Giác nói:

    Thiền trong biển dục rõ kiến lực

    Sen trong lửa đỏ muôn đời rực

    Dõng Thi phạm giới chứng vô sanh

    Sớm vẫn viên thành trong cõi tục.

    Chúng ta phải đặt dấu hỏi là tại sao những bộ kinh đại thừa lớn, chỉ về tri kiến Phật như Kinh Thập Thiện, Kinh Pháp Hoa, Kinh Hoa Nghiêm đều nói ở dưới biển. Vậy biển đó tiêu biểu cho cái gì?

    Thiền sư Huyền Giác nói “Thiền trong biển dục rõ kiến lực”: Trong cuộc sống đầy rẫy những tham chấp mà chúng ta tu theo con đường thiền tập thì mới rõ được sức mạnh của con người hiện thân trong cuộc đời này. “Lực” là sức mạnh, “kiến” là thấy, thấy rõ tầm quan trọng của việc tu tập thiền.

    Trong Nghệ thuật sống có kể một câu chuyện, thuở xa xưa có một ông vua loan tin cho khắp thần dân biết có người họa sỹ nào vẽ cho vua một bức tranh. Nếu nhìn bức tranh đó, vua cảm thấy đó là bức tranh yên bình nhất, thì vua sẽ nhường một nửa giang sơn. Tất cả mọi người trong nước, ai cũng cố họa một bức tranh để dâng vua. Cuối cùng, vua chọn ra hai bức tranh cảm thấy yên ổn, thanh bình nhất. Ông đưa hai bức tranh đó ra trước quần thần và hỏi mọi người xem nên chọn bức nào. Bức tranh thứ nhất vẽ một cái hồ, không có cây cỏ, chỉ có một bóng trăng in xuống, ai cũng nói đây là bức tranh yên bình nhất. Nhưng nhà vua không đồng ý và chỉ bức tranh thứ hai, vẽ một con sông lớn, sóng gió cuộn nổi lên. Trên con sông này có một cồn đất, trên cồn đất này có một cây khô khẳng khiu, có một con chim mẹ đang ấp ủ một con chim con. Đây mới là bức tranh yên bình nhất. Vì sao? Vì trên cồn đất này, có một con chim mẹ, dù cho sóng gió, dù cho bão táp nhưng vẫn ôm ấp và nuôi dưỡng đứa con của mình.


    Qua câu chuyện này, quý Phật tử thấy rằng giữa cuộc đời ô nhiễm, dục vọng, giữa cuộc đời đầy sóng gió, nghịch duyên mà chúng ta vẫn tu theo con đường thiền, thì mới thấy rõ được sức mạnh của chúng ta.


    Cho nên mình tu ở những chỗ bận rộn, những chỗ tranh đấu, tranh giành mà chúng ta thực tập tu thiền thì công đức một ngày một đêm không thể tính được.

    Sen trong lửa đỏ muôn đời rực

    Dõng Thi phạm giới chứng vô sanh”. Tỳ kheo Dõng Thi phạm giới, đến Tổ Tỳ Cúc Đa La, được Tổ bảo “Xoay tìm tội tánh trọn không có thể được”, nghe đến đó vẫn chứng quả vô sanh, “sớm vẫn viên thành trong cõi tục”.

    Quý Phật tử đừng mong muốn giải thoát ở bất cứ nơi đâu, mà ngay trong cuộc sống giữa đời thường này, chúng ta đi đến tìm phương hướng giải thoát.

    Trong Thiền thoại có ghi, một hôm có một ông Tăng đến hỏi Thiền sư Đại Nghĩa: “Cõi dục không có thiền, thiền là ở cõi sắc, vậy thì đất này y cứ vào đầu mà lập thiền?”, ý là cõi này đầy sự dục vọng, chấp trước, làm gì có thiền, tại sao lại lập thiền, y cứ vào đâu? Thiền sư Đại Nghĩa đáp: “Pháp sư chỉ biết cõi dục không có thiền mà không biết rằng cõi thiền không có dục”. Quý vị thấy, mình ngồi yên 45 phút đến 1 tiếng có giá trị của 45 phút hay một tiếng. Thiền sư Đạo Nguyên: “Một giờ ngồi thiền là một giờ làm Phật”. Trong lúc chúng ta ngồi thiền là chúng ta đang tu hạnh của Phật, trong lúc đó thân không hành động điều ác, miệng không nói lời ác, ý không nghĩ chuyện xấu ác. Ngay đó mình nghiệm thấy “cõi thiền không có dục”. Hàng ngày nếu chúng ta tập hạnh của Phật thì khi chết chắc chắn đi về con đường của Phật. Còn nếu không giữ được hạnh của Phật mà tật đố, ích kỷ, san tham, tuy rằng mặt người mà lòng ngạ quỷ thì khi chết chắc chắn đi về con đường ngạ quỷ, keo kiệt, bỏn xẻn, vô minh thì chắc chắn đi về con đường súc sanh,khởi niệm xấu ác, sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, uống rượu thì khi chết xuống địa ngục.

    Cho nên quý Phật tử thấy rằng, ngay nơi cuộc sống đời thường bận rộn này mà chúng ta tu tập được, giải thoát được thì năng lực lớn hơn rất nhiều so với tu tập ở những chỗ thuận duyên, những chỗ yên ổn.

    Trong Huyết mạch luận, Tổ sư Đạt Ma dạy:

    Nếu thấy tự tâm là Phật thì sẵn chẳng ở chỗ cạo bỏ râu tóc, cư sĩ cũng là Phật”.

    Vậy “tự tâm là Phật” là gì? Thường chúng ta hay nói rằng ở nhà tu tâm cũng được nhưng hỏi tâm là gì thì không biết. Tâm nói “ở nhà tu cũng được”, đó là tâm vô minh, tâm điên đảo, tâm chấp trước. Tâm không một niệm mà rõ ràng thường biết, đó mới là tâm Phật. Tâm Phật ở đây chẳng cần cạo bỏ râu tóc nhưng tự thân là Phật, vì chết đi về cõi Phật.

    Cư sĩ nghe xong liền hỏi: “Cư sĩ có vợ con, dâm dục chẳng trừ, y cứ vào đâu mà được thành Phật?

    Tổ đáp: “Chỉ nói thấy tánh, chẳng nói dâm dục. Chỉ vì chẳng thấy tánh, nếu được thấy tánh thì dâm dục xưa nay là rỗng không, tự nhiên đoạn trừ cũng chẳng ưa đắm. Dẫu có điên đảo chẳng thể làm hại, vì sao? Vì xưa nay tánh vốn thanh tịnh, tuy ở trong sắc thân năm uẩn mà tánh ấy xưa nay thanh tịnh, nhiễm ô chẳng có thể được”.

    Chỉ cần rõ thấy tánh xưa nay thanh tịnh, bất sanh bất diệt, thì tức khắc tự thân thành Phật.

    Cổ đức có câu:

    “Ái hà thiên xích lãng

    Khổ hải vạn trùng ba

    Dục thoát luân hồi lộ

    Khảo cấp niệm Di Đà”.

    Có nghĩa là: Sông ái ngàn thước sóng, biển khổ muôn sóng trùng, muốn thoát cảnh luân hồi, phải thể nhập ánh sáng vô lượng thọ, vô lượng quang, vô lượng công đức, tức là tự tánh Di Đà.

    Trong Kinh Thập thiện, Đức Phật nói tại Long cung, biển Ta kiệt la, cùng tám vạn chúng đại Tỳ kheo, ba vạn hai ngàn vị đại Bồ Tát. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Long Vương rằng: “Tất cả chúng sanh vì tâm tưởng khác nhau nên tạo nghiệp khác nhau, do đó có sự luân chuyển trong các thú”.

    Tại sao Đức Phật lại nói Kinh Thập thiện ở Long cung, biển Ta kiệt la? Có nghĩa là ngay trong tâm ái nhiễm của chúng sanh thì tùy theo niệm tưởng mà chúng ta luân chuyển trong các thú. Ngay trong biển ái này, nếu chúng ta tu tập và chuyển hóa thì rất mau thành tựu.

    Theo tinh thần Kinh Hoa Nghiêm, mười pháp giới đều từ lưu xuất từ tâm mà sanh khởi. Cũng ngay nơi tâm này mà chúng ta tu tập, chuyển hóa thì muôn đức trang nghiêm thành pháp giới của chư Phật.

    - Làm muôn các hạnh lành đều quy về tự tâm thì đó là cảnh giới của Phật. Ví dụ như bố thí, cúng dường nhưng không chấp, không trụ, không dính mắc thì “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, còn nếu sanh tâm ta người, sanh tâm chủ khách thì tâm còn trụ, còn chấp trước thì phước cũng có nhưng nhỏ. Như trên bầu trời có đám mây che phủ, công đức đó không được trọn vẹn.

    - Tu hạnh Lục độ tổng nhiếp muôn hạnh là pháp giới của Bồ Tát. Đó là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ.

    - Quán xem nhân duyên, chứng lý chân không là pháp giới của Duyên giác. Quán mọi sự vật đều do duyên khởi mà thành, tự tánh là không, do đó không chấp trước, không khởi lên lòng dục, ngay đó giải thoát.

    - Dụng công tu đạo, thành tựu Tứ đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo) quy về tiểu Niết Bàn là pháp giới của Thanh văn. Sở dĩ chúng ta có mặt trong cuộc đời đầy rẫy khổ đau vì trong thời quá khứ, chúng ta đã từng gieo những hạt giống tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, thân kiến, biên kiến, tà kiến… Tìm phương hướng tu tập Tứ Niệm Xứ (thân, thọ, tâm, pháp), đi thẳng vào con đường Niết Bàn.

    - Tu mọi giới lành (mười điều thiện), tạo nhân hữu lậu là pháp giới chư Thiên. Thân không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, miệng không nói lời ác, không mắng chửi, không thêu dệt thị phi, không nói hai lưỡi. Quý vị đến đây tu một ngày thanh tịnh giải thoát phải tập ít nói lại. Trong lúc nói chuyện, khẩu trạo cử, thân trạo cử thì khi ngồi thiền, ý cũng sẽ trạo cử. Sở dĩ tu phải tỉnh thức, chánh niệm thì khi ngồi thiền mới tịnh được, mà con đường thiền này chính là sự nghiệp của chúng ta. Quý vị tu phải ráng giữ, vì từ xưa đến nay, chúng ta bị tập khí này rồi.

    Người xưa nói: Thủ khẩu như bình, phòng ý như thành. Tức là giữ miệng mình như cái bình, chỉ cần nghiêng một chút là nước bị đổ, nước này là nước công đức. Một tháng tu tập yên ổn, đến đây tụm năm tụm ba nói chuyện thì một tháng đó uổng.

    - Ái nhiễm không ngừng, thiện duyên hỗn tạp là pháp giới của người. Có những lúc chúng ta làm thiện, có những lúc chúng ta làm ác, thân chúng ta đang mang là thân nghiệp báo, cho nên giờ kiểm thiền, tôi cũng rất thông cảm với quý Phật tử. Có những người ngồi thiền rất an ổn, có định, nhưng cũng có người ngồi mà như lửa đốt. Chỗ này đi vào lý nhân quả một chút. Đáng lẽ vào ngày này, tháng này, do gieo nhân xấu, mình gặp phải tai nạn hay gặp phải chuyện gì đó không hay, nhưng mình đến chùa ngồi thiền, thì quả vẫn phải trả làm cho mình bứt rứt, khó chịu. Nếu mình không chịu được mà đứng lên coi như mình thua, không chịu trả quả. Phải thấy rằng dù bứt rứt nhưng là mình đang trả nghiệp, nghiệp ác đang trổ   nra, nhưng may mắn là trong giờ phút này, mình đang thiền tập. Đây không phải tự tin nhưng tu thiền là trả nghiệp nhanh hơn tất cả các phương pháp mà chúng ta tu học. Còn những người ngồi an ổn, có niềm vui là lúc đó nghiệp thiện đang trổ ra. Một ngày ngồi thiền như vậy bằng bao nhiêu lần làm các thiện pháp. Một tháng, quý Phật tử phải ráng đến thiền viện một ngày. Trong lúc ngồi thiền mà thiện nghiệp trổ ra thì quý vị được tưới tẩm dòng pháp Như Lai, đời đời ba đường ác đóng cửa. Các vị Thiền sư sau khi ngộ đạo, đối trước tôn tượng của Đức Phật cảm kích, dù cho đảnh lễ suốt ngày suốt đêm cũng không trả được ơn này, đời đời dù có đem thân này tán nhuyễn trải khắp tam thiên đại thiên thế giới, dùng máu làm mực, dùng xương làm huyết cũng không bao giờ trả ơn được Đức Phật. Trong cuộc đời này, nếu không có luồng sinh khí của thiền thổi vào thì cuộc đời này biến thành sa mạc, chất đầy tham, sân, si.

    - Tâm thường tham chấp hơn thua, thích tranh thắng bại là pháp giới A tu la.

    - Ái kiến làm gốc, nghiệp xấu tham lam keo kiệt là pháp giới súc sanh.

    - Tham dục không ngừng, bàng sanh ý tưởng ngu si là pháp giới ngạ quỷ.

    - Ngũ nghịch, tạo mười nghiệp ác, phỉ báng Phật pháp, phá trai phạm giới là pháp giới của địa ngục.

    Cho nên chúng ta tin chắc nơi tự tâm của mình, tu từ tâm, chuẩn bị đầy đủ tư lương thì sau khi chết, tùy theo bổn nguyện mà mình tái sanh.

    Trong Kinh Pháp Hoa, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hóa độ trong Long cung biển Ta kiệt la. Lúc bấy giờ Bồ Tát Trí Đức hỏi Ngài Văn Thù Sư Lợi: “Ngài qua cung rồng hóa độ chúng sanh, số lượng bao nhiêu?”. Bồ Tát Văn Thù nói: “Số đó vô lượng, không thể tính kể, chẳng phải miệng nói được, chẳng phải tâm lường được. Chờ chứng giây lát sẽ tự chứng biết”.

    Quý vị ngồi thiền, một niệm mê là chúng sanh, một niệm giác là Phật. Trong biển ái dục này mà ngồi yên lại thì độ được không biết bao nhiêu chúng sanh. Nếu còn lăng xăng, không tu tập, làm sao mà chuyển hóa, làm sao  mà độ chúng sanh được. Bồ Tát Văn Thù tiêu biểu cho căn bản trí, từ căn bản trí này thấy được từng niệm và chuyển hóa từng niệm.

    Cho nên Lục Tổ nói: “An tâm tại vọng tình. Ngay đó lìa ba chướng”. Một niệm xấu ác dấy lên, chúng ta thấy biết, không theo nó là chúng ta chuyển hóa.

    Trong Kinh Viên Giác trực giải của Đại sư Hám Sơn, một chữ Biết là pháp môn tối thượng. Còn Hòa thượng Trúc Lâm là “Biết vọng không theo”. Như tâm mình tham, mình biết tâm mình đang tham. Tâm mình sân, mình biết mình đang sân. Tâm mình si, mình biết tâm mình đang si. Khi mình biết mình đang sân thì mình không đồng hóa mình với cái sân. Cái tham, cái sân không phải là của mình nên chúng ta chuyển hóa được. Ngày trước, chúng ta luôn luôn đồng hóa cái tham, cái sân là của mình, còn giờ mình thấy được từng niệm đó, ngay đó an tâm tại vọng tình, lìa được ba chướng (nghiệp chướng, báo chướng, phiền não chướng).

    Phật dạy: “Tâm tịnh thì nghiệp tiêu”. Tâm tịnh, chúng ta thấy được niệm, không bị niệm dẫn, nghiệp dần dần tiêu. Tâm càng tịnh chừng nào nghiệp càng bớt chừng đó. Hàng ngày, chúng ta luôn bị nghiệp dẫn, hoặc người ta khen thì mình vui, hoặc người ta chê thì mình buồn, mình giận. Ngay đó ai thấy mình đang vui, ai thấy đang buồn? Chúng ta thường không chịu sống với cái biết này mà chỉ sống với cái vui, cái buồn. Sống, chúng ta bị các pháp dẫn, không vượt thoát được cái nhị nguyên phân biệt nên chết cũng bị nghiệp dẫn đi liền.

    Do đó, Lục Tổ dạy: “muốn cầu thấy Phật, chỉ biết chúng sanh”. Trong lúc ngồi thiền, quý vị thấy được điểm này rõ nhất. Ngồi thiền, thấy được các niệm nhưng không bị niệm dẫn. Trong khi mình ngồi bất động, niệm tự sanh, sau đó tự diệt. Giống như mặt trời lên thì sương tự tan, không cần phải lau. Tu một thời gian, niệm tự sanh tự diệt luôn. Biết rõ tâm chúng sanh không có tự tánh, ngay đó là Phật.

    Sơ Tổ Trúc Lâm khẳng định: “Đầy cả quốc độ, có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai đều biết, Như Lai đều thấy”. Thấy biết hết các tâm niệm nhưng bất động, đó là điểm mà quý Phật tử phải ráng tu.

    Trong lúc Bồ Tát Văn Thù nói chưa dứt lời thì vô số Bồ Tát ngồi hoa sen báu từ dưới biển vọt lên, đến núi Linh Thứu, trụ giữa hư không”.

    Ngay trong biển tham chấp, ái dục hay trong cuộc đời đầy dục vọng điên cuồng này mà chúng ta đứng vững, vươn lên, không dính mắc hai bên, đi thẳng vào con đường trung đạo. Trụ giữa hư không chính là không dính mắc hai bên.

    Bồ Tát Văn Thù nói: “Ta ở biển chỉ thường tuyên nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa”.

    Bồ Tát Duy Ma Cật nói: “Như hoa sen không thể mọc trên cao nguyên, như trồng cây giữa trời không thể có kết quả, ngay trong chỗ bùn lầy phiền não là chỗ chúng sanh khởi lên hạt giống Phật. Không vào biển lớn không được châu báu vô giá, không vào biển lớn phiền não thì không được hạt ngọc nhất thiết trí”.

    Ngài Trí Đức hỏi Bồ Tát Văn Thù: “Kinh này rất sâu xa vi diệu, là báu trong các kinh, trong đời rất ít có. Vậy có chúng sanh nào siêng năng tinh tấn tu hành kinh này, mau chứng thành Phật?”.

    Bồ Tát Văn Thù nói: “Có con gái của vua rồng Ta Kiệt La mới 8 tuổi mà căn tánh rất thông minh, có trí tuệ, khéo biết các căn tánh, hành nghiệp của chúng sanh, đặng pháp tổng trì, các tạng pháp chứng rất sâu, rõ được và đi sâu vào con đường thiền định, rõ thấu các pháp trong các sát na, phát tâm Bồ đề, đặng bậc bất thối chuyển”.

    Tức là trong biển ái dục, sầu vui khổ não, chấp ngã, chấp pháp, có cô con gái thuộc loài rồng (súc sanh). Nhiều người nói, con mang thân nữ, tu khó thành Phật, phát nguyện kiếp sau làm thân nam. Đây tôi kể câu chuyện.

    Một hôm có một bà già đến hỏi Thiền sư Triệu Châu: “Thưa Hòa thượng, con mang thân nữ này, bị năm dây ràng buộc, giờ con xin Hòa thượng chỉ cho con tu như thế nào để chuyển thành thân nam tu cho dễ?”.

    Thiền sư Triệu Châu: “Bây giờ bà đến trước bàn Phật, nói theo tôi: Con nguyện cho thân già của con chìm sâu dưới địa ngục, còn tất cả chúng sanh đều sanh về cõi trời”.

    Bà già hỏi lại: “Bạch Hòa thượng, Hòa thượng có dạy nhầm không? Con phát nguyện tu tập để thành thân nam, còn đằng này Hòa thượng dạy con phát nguyện chìm sâu dưới địa ngục, còn các chúng sanh khác đều sanh về cõi trời?”.

    Thiền sư Triệu Châu nói: “Đó chính là pháp mà bà muốn đó. Muốn thành thân nam, bà phải chịu những thứ khổ trong cuộc đời và mong tất cả chúng sanh ai cũng được an vui, ai cũng được hạnh phúc”.

    Tuy là thân nữ nhưng quý vị mong cho mọi người ai cũng được an vui, ai cũng được hạnh phúc thì ngay lúc đó, tâm quý vị là tâm Phật. Còn tuy mang thân nam mà thấy ai được an vui, hạnh phúc, đệ tử đông, chùa chiền nhiều mà sanh tâm tật đố, ích kỷ thì đó là mang thân nữ. Bậc đại trượng phu là siêu việt cả nam và nữ.

     “Đương lúc đó, cả chúng hội đều thấy Long nữ đột nhiên biến thành nam tử, đủ hạnh Bồ Tát, liền qua cõi vô cấu ở phương nam, ngồi tòa báu tức khắc thành Phật”.

    Vô là không, cấu là nhiễm. Tại sao không ở phương Tây, hay phương Bắc mà lại ở phương Nam? Phương Nam tiêu biểu cho tâm. Muốn thành Phật phải một phen chuyển hóa. Ngày xưa thấy ai được an ổn, được hạnh phúc mình chịu đựng không được, mà trong lúc thiền định, chuyển hóa được thì tâm quý vị không như ngày xưa nữa. Tu là tu từ nơi tâm, chuyển cũng là từ nơi tâm chứ không phải chuyển nơi tướng. Thấy người khác thành công, hoặc hạnh phúc gia đình, như chính con làm được.

    III. Công đức của một thời thiền tập.

    Trong biển khổ ái dục mà chúng ta có được một thời thiền tập thì rất viên mãn. Thiền sư Bạch Ẩn nói: “Công đức của một thời thiền tập làm tiêu tan bao nghiệp chướng xưa nay, không còn nữa những lối đi lầm lạc. Cõi Tịnh độ ở ngay đó không xa”.

    Trong lúc ngồi thiền, các tâm ác như tật đố, san tham, ích kỷ nổi lên là chúng ta biết trong tàng thức mình ngày xưa chứa đựng những hạt giống này, chỉ có ngồi yên lại thì những hạt giống này mới khởi lên, mà lúc khởi lên, chúng ta không chạy theo mà biết chuyển hóa thì nghiệp chướng hết. Giống như con chim đang bay từ điểm A đến điểm B, nhưng giữa đường, bị ông thợ săn bắn tên nên rớt xuống. Cũng như thế, niệm xấu, ác, nếu không tu tập thiền tập sẽ tạo nghiệp xấu ác. Ví dụ như khi chúng ta khởi niệm tham, nhưng ngồi thiền trước mặt không có gì, thì lấy gì để tham, do vậy hóa giải được nghiệp chướng. Và ngay trong giờ phút thực tại đó, tâm tịnh thì quốc độ tịnh.

    Qua bài pháp này, quý vị thấy năng lực của thiền rất là vi diệu. Chúng tôi mong quý vị trong cuộc sống đầy bận rộn, khổ đau, quý vị cố gắng dành thời gian tu thiền tập.

    Ai sống một trăm năm

    Ác tuệ, không thiền định

    Tốt hơn sống một ngày

    Trì giới tu thiền định.

  • 10. Năng lực của sự tùy hỷ

     

    I. Dẫn nhập

    Tất cả người xuất gia cũng như người tại gia, một khi phát tâm tu hành đều mong muốn bớt khổ được vui, đạt đến con đường vô ngã, thể nhập chân tâm Phật tánh.Nói xa chút nữa, sau khi từ bỏ cõi đời này, nếu chưa được giải thoát sẽ sanh về cõi lành, trở về cõi đời này, được làm người tốt đẹp hơn, gặp được minh sư, gặp được chánh pháp.  Nhưng tại sao có những lúc trong tâm ta nhiều khi không được an ổn, hạnh phúc? Là bởi vì chúng ta còn những kiết sử nên chưa thể nhập được chân tâm Phật tánh của chính mình. “Kiết” là trói buộc, “sử” là sai khiến. Nếu chúng ta không chánh niệm, tỉnh giác trong giờ phút thực tại này thì những kiết sử sai khiến, trói buộc mình ý nghĩ bậy, thân làm bậy và lời nói không được chánh niệm.Nếu những hạt giống còn tiềm ẩn trong tâm chúng ta như tật đố, ích kỷ, san tham, nếu chúng ta không khéo chuyển hóa thì sau khi từ giã cõi đời này sẽ đưa mình đến những cảnh giới xấu. Muốn chuyển hóa những hạt giống này phải dùng phương thuốc tùy hỷ.

     

    II. Năng lực của sự tùy hỷ

    Năng lực là một sức mạnh, là chất liệu mà nếu chúng ta không có thì tu mãi cũng vô ích. Tùy là theo, hỷ là vui. Tùy hỷ là vui theo. Trong Kinh Pháp bảo đàn, Lục tổ lúc còn là cư sĩ ở chỗ Ngũ Tổ, khi được Ngũ Tổ bảo xuống nhà trù liền thưa: “Bạch Hòa thượng, tự tánh con thường sanh trí tuệ, tức là phước điền”.

    Không phải quý Phật tử đến chùa bố thí, cúng dường, cất chùa, độ tăng là phước điền. Thấy tất cả mọi sự, mọi việc, chúng ta tùy hỷ, vui theo, cái gì thấy được chỗ đó. Như quý vị làm việc thiện nhưng trong tâm còn tật đố, ích kỷ, san tham thì cái phước đó là phước tạo tác. Còn một người ngộ nhập tri kiến Bát Nhã rồi, từ tự tánh khởi dụng ra thì cái đó là chân thật. Trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Phật dạy rất rõ: “Một người bố thí và một người không bố thí nhưng tùy hỷ thì phước bằng nhau”.Tại sao? Tại vì người bố thí xả bỏ tâm tham, còn người tùy hỷ xả tâm tật đố nên phước bằng nhau.

    Đức Phật cũng khẳng định rằng muốn tìm được hạnh phúc, muốn tìm được sự an lạc là ngay trong cuộc sống giữa đời thường này thì phải cần đến năng lực của sự tùy hỷ.

    Trong Kinh Tăng Chi Bộ, có một vị Tỳ kheo đến hỏi Phật:

    “Bạch Đức Thế tôn, làm thế nào một người tín thí trong cuộc đời này tu tập được an ổn, được hạnh phúc?”

    Đức Phật trả lời:

    “Này các Thầy Tỳ kheo, có một người buổi sáng ý nghĩ thanh tịnh, lời nói thanh tịnh, thân hành động thanh tịnh. Người đó được một buổi sáng an ổn và hạnh phúc.


    Này các Thầy Tỳ kheo, buổi trưa có một người ý nghĩ điều lành, miệng nói lời lành, thân hành động lành. Người đó được một buổi trưa an ổn và hạnh phúc.
    Này các Thầy Tỳ kheo, có một người buổi chiều ý nghĩ điều lành, miệng nói lời lành, thân làm điều lành. Người đó được một buổi chiều an ổn và hạnh phúc
    ”.
    Như vậy, đạo là ở chính mình, nhưng nếu chúng ta không khéo gạn lọc, không khéo chuyển hóa thì thân chúng ta làm điều ác, miệng chúng ta nói lời ác và ý nghĩ về điều ác. Trong Kinh Tăng Chi Bộ, Phật dạy: “Người thù địch có bảy điều kiện mong muốn cho kẻ thù mình.

    1. Mong cho kẻ thù mình nhan sắc xấu.

    (Mình tu học rồi, niệm dấy lên phải chuyển hóa, không sẽ tạo thành hạt giống xấu, đủ nhân, đủ duyên sẽ phát tác. Tu thiền là phải luôn luôn theo dõi từng tâm niệm của mình).

    2. Mong cho kẻ thù với mình ngủ không được.

    3. Mong cho kẻ thù với mình không được lợi ích, thường tổn giảm.

    4. Mong cho kẻ thù với mình bị phá sản.

    5. Mong cho kẻ thù với mình không được danh vọng.

    6. Mong cho kẻ thù với mình không được bạn bè.

    7. Mong cho kẻ thù với mình chết đọa đường dữ.
    Phật thấy được vọng tưởng điên đảo của chúng sanh nên nói ra để chỉ cho mình. Sau khi biết được rồi, lỡ tâm niệm có dấy lên thì tức khắc phải chuyể n hóa. Mà muốn chuyển hoá được phải gia công tu tập chứ không chỉ có lý thuyết suông.

     

    III. Con đường chuyển hóa nội tâm


    Con đường chuyển hóa nội tâm này là con đường của GIỚI, ĐỊNH, TUỆ.

    Trong Kinh Pháp cú, Phật nói rõ:

    “Ý dẫn đầu các pháp,

    Ý làm chủ, ý tạo

    Nếu với ý ô nhiễm

    Nói lên hay hành động

    Khổ não bước theo sau

    Như xe chân vật kéo".

    Mình phải tùy hỷ, coi tất cả với mình là một.

    Thiền sư Thiên Cơ dạy: “Hạ thủ công phu tu thiền hoàn toàn ở chỗ giác ngộ, cần biết phàm phu một niệm giác tức một niệm là Phật. Phật một niệm chẳng giác tức một niệm là phàm phu”.

    Tu là phải trên từng niệm. Mình phải tùy hỷ, coi tất cả mọi người và mình là một.

    Bởi vì giác tức là Phật, Phật tức là giác. Phật với phàm phu chỉ tại giác cùng chẳng giác mà thôi. Tâm người có giác tức là có Phật. Giác hay mở cửa lục độ, hay vượt qua kiếp hải ba a tăng kỳ, khắp làm lợi ích như cát bụi, khuếch trương phước huệ, được sáu thứ thần thông tròn đầy quả Phật trong một đời. Cảnh khổ trong địa ngục, nào vạc dầu sôi, sông băng nghe đến giác liền biến thành hương lâm (rừng hương), uống nước đồng sôi, nuốt hòn sắt nóng nghe đến giác thảy đều sanh Tịnh độ.

    Trong giờ phút thực tại này, nếu chúng ta mê mờ, tật đố, ích kỷ, nhưng sau khi nghe lời dạy của Hòa thượng, lại hạ thủ công phu nữa thì giác được phần nào, giải thoát được phần ấy. Đấy gọi là giác ngộ trong từng niệm.

    Có một vị Thiền sư Nhật Bản nói: “Muốn biết người đó mai kia ra đi được tự tại, an ổn, hạnh phúc hay không thì trong cuộc sống giữa đời thường này nhìn vào hành động của người đó”.

    Thấy người khác được hạnh phúc, được an ổn, được tài giỏi hơn mình, nếu chúng ta còn tâm cù cặn, tật đố, chắc chắn tu không có kết quả. Ngồi thiền mà chưa quét sạch được những tật đố, san tham thì đó là tướng ngồi thiền chứ không phải tâm ngồi thiền.
    Học thiền phải kiểm nghiệm chỗ đó thì tu ít mà có kết quả nhiều. Còn gia công tu hành, làm như khổ hạnh lắm mà không bỏ được tâm tật đố, san tham, ích kỷ thì thậm chí không bằng những người tu có vẻ như chơi, luôn tùy hỷ, tha thứ, có lòng thương, bao dung. Trong Kinh A Hàm, có một hôm, Ngài A Nan cùng đi khất thực với Đức Phật, đi ngang qua một khu rừng, thấy một thầy Tỳ kheo đang ngủ, Phật mỉm cười. Đi một lúc xuống thành thị thì thấy một thầy Tỳ kheo đang ngồi thiền rất trang nghiêm, Phật nhíu mày. Ngài A Nan rất ngạc nhiên, bèn thưa:

    “Bạch Đức Thế Tôn, tại sao một thầy Tỳ kheo nằm ngủ trong rừng mà Thế Tôn lại mỉm cười, còn thầy Tỳ kheo ngồi rất tinh tấn, trang nghiêm ở trong thành thị thì Thế Tôn lại nhíu mày?

    Phật đáp: “Thầy Tỳ kheo ở trong rừng, tuy ngủ nhưng dậy là ngồi thiền. Còn Tỳ kheo ở thành thị sau khi xả thiền lại buông lung”.

    Do đó, quý vị thấy Phật dạy ở đây là dạy về chuyển hóa nội tâm.

    Trong Chuyển nghiệp lục, có một người hỏi một thiền sư: “Tại sao Đề Bà Đạt Đa ở dưới địa ngục lại vui như cõi trời tam thiên?”

    Thiền sư trả lời: “Nghiệp tại kỳ trung".

    Sống trong cõi dục mà tâm hằng giác tức cõi này là cõi Tịnh độ.

     

    IV.Chuyển hóa tâm thức vào cuộc sống giữa đời thường.

    Thấy người khác được an ổn, hạnh phúc thì mình phải tùy hỷ, còn nếu sinh tâm tật đố, ích kỷ thì đó là bệnh, sẽ phải chịu quả báo xấu. Một hôm Mạt Lợi phu nhân đến hỏi Đức Phật:

    “Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây một số nữ nhân dung sắc xấu, hình dáng hạ liệt, nghèo khổ, tài sản ít, ảnh hưởng uy tín ít?”

    Phật nói: “Một số nữ nhân dung sắc xấu, hình dáng hạ liệt, nghèo khổ, tài sản ít, ảnh hưởng uy tín ít là hay phẫn nộ, san tham, tật đố, ích kỷ.

    “Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây một số nữ nhân dung sắc xấu, hình dáng hạ liệt nhưng giàu sang, tài sản lớn, sở hữu lớn, ảnh hưởng uy tín lớn?

    Phật nói: “Một số nữ nhân dung sắc xấu, hình dáng hạ liệt là hay phẫn nộ nhưng biết bố thí, biết cúng dường, biết tùy hỷ những sở hữu của người khác.
    “Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây một số nữ nhân dung sắc đẹp, ưa nhìn nhưng nghèo khổ, tài sản ít, sở hữu ít, ảnh hưởng uy tín í
    t?”

    Phật nói: “Một số nữ nhân dung sắc đẹp, được ưa nhìn nhưng nghèo khổ, tài sản ít, ảnh hưởng uy tín ít là do ít phẫn nộ nhưng không tùy hỷ, bố thí cúng dường”.
    “Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây một số nữ nhân dung sắc đẹp, ưa nhìn, tịnh tín, giàu sang, tài sản lớn, ảnh hưởng uy tín ít?”

    Phật nói: “Một số nữ nhân dung sắc đẹp, được ưa nhìn, tịnh tín, giàu sang, tài sản lớn, ảnh hưởng uy tín lớn là do ít phẫn nộ và biết tùy hỷ, bố thí, cúng dường.

    Trong Kinh Bảo Tích, phẩm Văn Thù Sư Lợi thọ ký, Phật dạy: “Này Xá Lợi Phất, Bồ Tát thấy người được lợi ích sanh lòng tùy hỷ có 4 điều lợi ích:

    1.Thường sanh tâm này, tôi nhiếp chúng sanh phải cho họ được lợi lạc.

    2. Nay họ được lợi lạc nên tôi sanh lòng vui mừng.

    (Tu tập là phải luôn luôn kiểm soát được niệm để chuyển hóa từng tâm niệm của mình).

    3. Chỗ ở có tài vật, vua quan, giặc cướp, nước, lửa đều chẳng xâm đoạt được.

    4. Tùy sanh xứ nào, của báu và các con thảy đều đầy đủ, vua còn chẳng đố kỵ huống là người khác.

    V. Kết luận

    Vậy sau khi nghe bài này xong, chúng ta phải tu học như thế nào, ứng dụng thế nào trong cuộc sống giữa đời thường này?

    Trong Kinh tiểu nghiệp phân biệt, Phật dạy:

    “Ở đây, này thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông thấy người khác được quyền lợi, được tôn trọng, cung kính, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường, sanh tâm tật đố, ôm tâm tật đố. Do nghiệp như vậy, thành đạt như vậy, thành tựu như vậy, sau khi thân hoại mạng chung,  sanh vào ác thú, nếu được sanh ở loài người thì chỉ được quyền thế nhỏ, con đường đưa đến quyền thế nhỏ. Này thanh niên, tức là tật đố, ôm tâm tật đố”.

     “Ở đây, này thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông không có tâm tật đố, đối với người khác được quyền lợi, được tôn trọng, cung kính, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường, không sanh tâm tật đố. Do nghiệp như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, nósanh vào thiện thú, nếu được sanh ở loài người thì được quyền thế lớn, con đường đưa đến quyền thế lớn. Này thanh niên, tức là không tật đố, không ôm tâm tật đố”.Phải luôn luôn có tâm tùy hỷ đến tất cả mọi người, nếu chưa được giải thoát thì sau khi chết, năng lực tùy hỷ sẽ đẩy mình đến những cảnh giới tốt.

    Qua bài pháp này, chúng ta phải tu học để phát triển lòng từ, phát triển tâm tùy hỷ đến tất cả mọi người. chính những nhân tố đó sau này giúp chúng ta tu học thành Phật, tác Tổ.


  • 10. Con đường tự thắng mình

    ĐĐ.Thích Khế Định thuyết giảng tại
    Thiền tự Đạo Viên - Canada

    Quý Phật tử nghe giáo pháp đã nhiều, nhưng có những chặng đường chúng ta không thắng được mình. Ai tu cũng muốn thành Phật, chúng ta được ngồi đây nghe Phật pháp là cũng có túc duyên lớn với Phật, trong quá khứ bố thí, cúng dường, làm các thiện pháp. Nhưng một khi chưa thắng được mình thì vẫn còn đi trong lục đạo luân hồi. Đó là lý đương nhiên. Pháp nhĩ như thị.

     Ai cũng có Phật tánh, nhưng có 3 dạng:

    1. Chánh nhân Phật tánh: Tất cả mọi loài chúng sanh đều có Phật tánh.

    2. Duyên nhân Phật tánh: Đã có nhân nhưng không có duyên để chuyển hóa thì chúng sanh vẫn là chúng sanh.

    3. Liễu nhân Phật tánh: Tu ai cũng muốn bớt phiền não, bớt sân hận, nhưng khi phiền não đến vẫn không thắng được vì tập khí quá nhiều, quá lớn. Ví dụ như có 2 chiếc xuồng. Một chiếc mở máy đi thẳng sang bờ bên kia. Một chiếc mãi nổ máy mãi không đi được mà chỉ chạy vòng vòng. Nguyên nhân là bị rong rêu, cỏ dính chặt ở dưới. Người trí biết thì gỡ một cách từ từ.

    Trên con đường đi đến giác ngộ giải thoát, ai cũng có những hoàn cảnh khác nhau. Có những người tưởng như mạnh nhất, có thể thắng tất cả nhưng vẫn không thắng được chính bản thân mình. Cho nên đề tài hôm nay chúng tôi chia sẻ là “Con đường tự thắng mình”.

    Con đường tự thắng mình là con đường chuyển hóa nội tâm, từ phàm đến thánh, từ xấu ác trở thành con người tốt, có đạo đức. Muốn bước vào con đường tự thắng mình, chúng ta phải tự chứng nghiệm, tự chuyển hóa nội tâm.

    Sơ Tổ Trúc Lâm làm vua, hai lần chiến thắng quân Nguyên Mông, nhưng rũ bỏ tất cả lên núi tu. Sau khi ngộ nhập Phật tri kiến thanh tịnh, Ngài làm bài “Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca”:

    “Tuần này mà ngẫm

    Ta lại xá ta

    Đắc ý cong (trong) lòng

    Cười riêng ha hả.

    Công danh chẳng trọng

    Phú quý chẳng màng

    Tần Hán xưa kia

    Xem đà nhèn (hèn) hạ.

    Có một khoảnh khắc nào đó chúng ta chiến thắng được chính mình thì niềm vui của mình rất lớn. Nhờ chuyển hóa như vậy học Phật pháp mới không uổng. 

    Thiền sư Bạch Ẩn cũng khẳng định: “Một người ở đợ, phu xe, lái đò nhưng nhận ra được tâm này rồi thì ta cũng gọi người đó là giàu có, là người trí, cao thượng. Còn một người dù là vua, quan, đại thần hay chức tước gì nhưng không nhận ra chỗ đó, không sống được với tâm thái tự tại của mình thì ta cũng nói người đó là người nghèo hèn, ngu dốt”.

    Cho nên nhiều khi chúng ta nghe pháp thấy nhàm chán, nhưng thật ra Phật pháp nếu mà tu đúng thì đó là pháp tối thượng, là pháp vi diệu, có sức chuyển hóa rất lớn, làm thay đổi cả cuộc đời. Đạo Phật không phải là đạo mê tín, dị đoan như một số người nghĩ mà là đạo cứu người, cứu khổ cho chúng sanh.

    Con đường tự thắng mình nói cách khác cũng là con đường giải thoát tri kiến của chính mình. Trong Thiền thoại có kể, vào đời nhà Tống có một vị tướng quốc đánh trăm trận trăm thắng. Một hôm ông ở trong phủ, có một người hầu bưng ra một tách trà bằng ngọc quý mà ông rất quý. Lúc uống trà ông lỡ tay suýt làm rơi chiếc chén, ông hoảng hốt chụp lại. Ông suy nghĩ ra trận đánh không hề sợ mà hôm nay tâm lại hoảng hốt lo sợ, là từ tâm tham ái đối với chiếc chén. Nghĩ vậy nên ông đập bể luôn chén trà.

    Trong Kinh Pháp cú, Phật dạy:

     “Dẫu tại bãi chiến trường

    Thắng ngàn ngàn quân địch

    Tự thắng mình tốt hơn

    Thật chiến thắng tối thượng”.

     Trong Kinh A Hàm có kể lại câu chuyện: Vào thời Đức Phật có một anh nông dân, trong vườn có một cây cuốc. Sau khi anh thấy chư Tăng thanh tịnh cũng phát tâm xuất gia nhưng sau đó xuất gia đến bảy lần. Bởi vì xuất gia được một thời gian anh nhớ mảnh vườn và cây cuốc nên về nhà làm việc. Lần cuối cùng, anh mang cuốc ra quăng xuống sông và la lên “Tôi chiến thắng rồi, tôi chiến thắng rồi”.

    Có những lúc chúng ta cũng muốn buông xả tất cả để dấn thân vào con đường này  nhưng do tập khí, nghiệp tập của mình nên chưa buông bỏ rốt ráo được. Muốn thắng được tập khí này, chúng ta phải thiền tập. Chỉ có con đường thiền tập mới chiến thắng được chính mình. Ngồi yên lại, chúng ta mới thấy từng niệm vọng tưởng, ví dụ như ngày hôm nay mình đã làm gì khiến người khác đau khổ thì phải phát nguyện lớn để hóa giải nghiệp này.

    BỒ TÁT SĨ ĐẠT ĐA - CON ĐƯỜNG TỰ THẮNG MÌNH

    Trận chiến thứ nhất của Bồ Tát Sĩ Đạt Đa: Sự nỗ lực trong tâm Ngài khi còn ở trong hoàng cung.

    Thái tử ở trong cung điện 3 mùa, vợ đẹp, con ngoan. Vào đêm Thái tử quyết định vượt thành xuất gia, không phải tự nhiên mà Ngài đi mà lúc đó đã đủ 100 pháp Ba la mật. Khi ra khỏi thành, Ma Ba Tuần hiện ra nói: “Này ông Sĩ Đạt Đa, ông chỉ còn 7 ngày nữa sẽ thành Chuyển Luân Thánh Vương”. Nếu Bồ Tát Sĩ Đạt Đa chưa đủ 100 pháp Ba la mật thì sẽ bị dính mắc vào lời của Ma Ba Tuần.

    Như vậy, chúng ta tu tập để đủ 100 pháp Ba la mật, thành tựu quả vị cuối cùng phải trải qua vô lượng kiếp, phải nhờ Duyên nhân Phật tánh.

    Biết được con đường này, tự tâm của mỗi chúng ta phải phát một nguyện lực lớn, bằng mọi cách phải chiến thắng chính mình.

    Cổ đức có nói:

    “Một kiếp không tu muôn kiếp khổ

    Một đời không ngộ vạn đời sầu”.

    Trận chiến thứ hai của Bồ Tát Sĩ Đạt Đa: Sự khó khổ về vật chất và niềm cô đơn

    Một vị hoàng thái tử đầy đủ tất cả mà bỏ tất cả vào rừng sâu núi thẳm, thiếu thốn cả về vật chất và tinh thần.

    Trận chiến thứ ba:khi cầu đạo với hai vị tiên nhân, sau khi chứng được sơ thiền và tứ không, hai vị đều tha thiết Bồ Tát Sĩ Đạt Đa thay vị trí lãnh đạo của mình. Nhưng đối với Ngài, chân lý giác ngộ giải thoát vẫn chưa tìm ra được, vẫn còn canh cánh bên lòng làm sao chấm dứt được sanh, già, bệnh, chết, cho nên Ngài buông hết tất cả.

    Trong cuộc sống cũng vậy, một khi chưa đạt đến mục đích cuối cùng, chúng ta phải gạt bỏ tất cả những cám dỗ, buông xả những phiền não.

    Trận chiến thứ tư: Sáu năm khổ hạnh và bị 5 anh em Kiều Trần Như bỏ rơi.

    Trận chiến thứ năm:  là trận chiến quyết định của một chiến sỹ vĩ đại, bậc tối thượng giữa loài người.

    Ma vương biến hiện ra vua cha Tịnh Phạn, nàng Da du đà la: đây là ma từ nơi tự tâm của chúng ta. Có những người vào tu một thời gian tự nhiên khắc khoải nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ vợ, nhớ con, có khi đến phát ốm.

    Ba ma nữ tiêu biểu cho Tham ái, tật đố, ích kỷ: Đây là trận chiến rất khó. Mình học Phật pháp, biết là phải tùy hỷ nhưng làm không được. Lý nói thì dễ mà không làm được là bởi vì nghiệp chúng ta chưa hóa giải được. Cho nên vẫn còn tham ái, tật đố, ích kỷ, thấy người khác được an vui hạnh phúc nhiều khi chịu không được, có một niệm gì đó tự nơi bản thân mà chỉ chúng ta tự hiểu.

    Qua 5 trận chiến này, Đức Phật khẳng định: Ta là người tự chiến thắng chính mình. 

    Trong Thiền thoại có ghi:

    Một con trâu đi qua cửa sổ, đầu lọt, sừng lọt, thân lọt nhưng đuôi chưa lọt. Cái đuôi đó là tiêu biểu cho việc chấp vào pháp mà chúng ta tu. Đó cũng là chỗ vi tế mà chúng ta chưa thắng được chính mình.

    Nếu phiền não mà không nhận ra được thì chúng ta vẫn bị dính mắc, hóa giải không được.

    Cũng trong Thiền thoại có kể, người thứ nhất mua một mảnh đất của người thứ hai, đào lên thấy có hũ vàng, bèn đưa lại cho người thứ hai và nói: “Tôi mua đất chứ không mua vàng, giờ đào được hũ vàng nên trả cho anh”. Người kia cũng nói: “Tôi đã bán đất cho anh thì vàng trong đất đó cũng là của anh”.

    Sang ngày hôm sau, người thứ nhất lại nghĩ: Mình mua đất thì vàng trong đất cũng là của mình. Người thứ hai cũng nghĩ lại: Mình chỉ bán đất thôi, còn vàng trong đó vẫn là của mình. Vì vậy, hai bên thành ra cãi lộn.

    Chỉ trong một đêm, nếu không tự thắng được chính mình, không hóa giải được những tâm niệm này thì sẽ sanh chuyện. Cho nên ai tu cũng muốn làm Phật, làm Tổ, làm người đạo hạnh, nhưng gặp duyên gặp chuyện thì nó lại khác.

    Trong Thiền Lâm Bảo Huấn, Thiền sư  Nhục Khế Tung dạy chúng: “Phàm con người làm điều ác thì có điều ác hữu hình, điều ác vô hình. Phần ác vô hình là việc hại người mà phần ác hữu hình là việc giết người. Cái ác giết người thì nhỏ mà cái ác hại người thì lớn. Sở dĩ trong tiệc yến ẩm có chất độc của loài chim trậm, trong chỗ cười đùa ẩn chứa các loài dao mác, trong nhà sâu kín có loài hổ báo, trong ngõ hẻm bên có rợ nhung địch. Nếu tự mình không phải là Thánh hiền, không tận diệt khi nó hãy còn chưa manh nha, không phòng ngừa bằng lễ, pháp, thời cái hại đó không thể lường được”.

    Ác vô hình là trong tâm niệm, người khác không biết. Chỉ cần nhích một niệm xấu, ác là chúng ta phải chuyển hóa, không để niệm này sanh khởi và tồn tại. Chính ngay lúc đó, biết đó là vị ngọt nhưng nguy hiểm thì giải thoát, là con đường xuất ly. Như vậy, chúng ta luôn quán chiếu trong cuộc sống giữa đời thường. Tôi thấy đối với cư sĩ, dùng quán hay hơn dùng chỉ. Bởi vì chúng ta luôn bị xuôi ngược trong sự bận bịu nên phải dùng sự quán chiếu, thì tuệ Bát Nhã sẽ phát sinh. Mà tuệ Bát Nhã phát sinh thì quý vị nhìn thẳng vào cuộc đời, trung tâm của sự giác ngộ thì sẽ hết khổ đau. Đó là con đường tự thắng mình.

    Ở nước ngoài bây giờ rất nhiều người tu thiền, vì họ thấy được đây là con đường giải thoát, không phụ thuộc vào một vị thần linh hay thượng đế nào mà do mình làm chủ. Đây là con đường giúp họ chiến thắng được những niềm dục vọng, đam mê, sống biết đủ, cuộc đời không còn khổ.

    Trong Kinh Pháp cú, Phật dạy:

    “Vui thay bạn lúc cần

    Vui thay bạn biết đủ

    Vui thay chết có đức

    Vui thay khổ đoạn tận”.

    Trong Kinh Tương Ưng bộ, một hôm vua Ba Tư Nặc sau khi thắng trận đến đảnh lễ Phật. Đức Phật nói: “Này đại vương, trong 4 hướng có 4 ngọn núi lớn, đi đến đâu đè nát đến đó. Đại vương có thể mang hết quân lính ra chặn được không?”

    Vua Ba Tư Nặc nói không được.

    Đức Phật nói 4 ngọn núi dụ cho sanh, già, bệnh, chết. Chỉ có con đường thiền tập, dấn thân vào tâm giác ngộ của chính mình mới giải phóng được sanh, già, bệnh, chết.

    Đức Phật nói bài kệ:

    “Tự thắng tốt đẹp hơn

    Hơn chiến thắng người khác

    Người khéo điều phục mình

    Thường sống tự chế ngự”.

    Trong cuộc sống, có những lúc chúng ta sân hận, phiền não, nói những lời ác khẩu, có những lúc đến sám hối với người khác nhưng nỗi niềm bị thương tổn vẫn còn day dứt người đó (như người đóng đinh trên thân cây, sau khi nhổ đinh ra thì vết sẹo trên cây vẫn còn). Biết vậy, chúng ta phải giảm sự sân hận của mình. Khi niệm khởi, chúng ta biết được đây là tính chất của khổ, là con đường nguy hiểm đưa đến sự đau khổ thì sẽ buông xả được.

    Trong Kinh A Hàm, Tôn giả La Hầu La trên đường đi khất thực bị một nhóm trẻ trêu chọc, liền khởi tâm tức giận, muốn về làm vua để sau trừng phạt những người này. Phật thấy được tâm niệm đó nên chỉ La Hầu La phương pháp làm chủ được chính mình. Phật dắt La Hầu La đến một gốc cây hít thở thật sâu, thở ra thật nhẹ để thấy được bản chất vô thường của từng hơi thở. Ngay đó, Tôn giả La Hầu La chứng quả Tu đà hoàn.

    Như vậy, chúng ta cũng phải có phương pháp làm chủ chính mình để tu tập, chuyển hóa.

    Vào đời nhà Đường, có một vị tể tướng rất tài giỏi là Quách Tử Nghi, rất kính tin Tam Bảo, hiểu Phật lý rất sâu. Một hôm ông đến Lão Thiền sư hỏi: “Bạch Hòa thượng, nghe nói trong nhà Phật có từ ngã mạn, vậy ngã mạn nghĩa là gì?”.

    Lão Thiền sư nhìn thẳng vào mặt ông nói: “Đồ ngốc, ngươi hỏi cái gì?”

    Lúc này, tể tướng đỏ mặt lên. Thiền sư bèn nói: “Đó là ngã mạn”.

    Qua câu chuyện này, chúng ta thấy rằng con đường tu tập để chuyển hóa nội tâm không phải là một ngày, hai ngày hay một tháng, ba tháng.

    Trong Kinh Lăng Nghiêm: “Nếu hay chuyển vật, tức đồng với Như Lai”. Ngay trong giờ phút thực tại, từng niệm khởi lên thấy hết nhưng không trụ thì suốt qua, đồng với Như Lai.

    Thiền sư Khê Phong Tông Mật nói:

    “Có 3 bậc học đạo:

    Bậc hạ, ai nói gì thì nổi giận, chạy theo, dính mắc.

    Bậc trung, cũng có nổi sân nhưng biết cách chuyển hóa, biết cách dừng. (Đó là người tu đạo như chúng ta).

    Bậc thượng đối với pháp trần bất động, tiêu biểu cho các bậc Bồ Tát, A la hán.

    Trong Thiền thoại, Thiền sư Mang An khai thị chúng: “Nếu hành giả muốn nhanh chóng liễu ngộ được chân lý, giải thoát khỏi mọi phiền não, không gì hơn là việc tập trung quán tâm trong mỗi hành động”.

    Đang làm việc gì, quán chiếu sâu sắc về hành động, lời nói và cư xử của mình để hóa giải.

    Cổ đức dạy rằng: “Kẻ đại trí cần thâm nhập đến chỗ vi diệu của đạo huyền là từ chỗ lao xao, biến động của thế giới trần tục.

    Tam Tổ Tăng Xán dạy: “Muốn thẳng đường nhất thạnh, chớ bỏ qua lục trần. Ngược lại, nếu cố tình trốn bỏ lục trần, hành giả sẽ rơi vào chỗ mê lầm, phát sanh vọng chấp và xa lìa gốc đạo. Nếu ngộ được bản chất thực sự của vạn pháp, nhận ra rằng phiền não vốn là bồ đề, vọng tưởng chính là giải thoát, vạn vật thế gian đều là bóng dáng biến hiện của tự tánh, hành giả sẽ thâm nhập vào cảnh giới bất động, bất tịnh, chứng đắc được an lạc và tự tại”.

    Trong Kinh A Hàm, Đức Phật sau 49 ngày đêm tự chiến thắng chính mình, chứng ngộ được chân lý tối thượng, có vị học Ưu Đà hỏi:

    Này Hiền giả Cù Đàm, các căn thanh tịnh, hình sắc thù diệu, khuôn mặt sáng ngời. Hiền giả Cù Đàm, ai là tôn sư, theo ai học đạo, tin tưởng pháp của ai?”

    Lúc này, Đức Phật nói bài kệ:

    “Ta tối thượng chiến thắng

    Nhiễm trước pháp đã trừ

    Giải thoát ái diệt tận

    Tự giác không tôn sư.

    Bậc vô đẳng đại hùng

    Tự giác vô thượng giác

    Như Lai thầy trời người

    Biến tri thành tựu lạc”.

     “Tự giác không tôn sư” là trí vô sư. Hòa thượng, các quý Thầy có dạy cũng chỉ được nửa đoạn đường, còn nửa đoạn đường còn lại, quý vị phải tự đi, phải tự chiến thắng. Cho nên “Khai thị ngộ nhập tri kiến Phật” là Phật “khai thị”, còn “ngộ nhập tri kiến Phật” là việc của quý vị.

    Lúc này, Ngài Ưu Đà hỏi: “Này Cù Đàm tự cho là đã chiến thắng tất cả chăng?”

    Đức Phật nói thêm bài kệ:

    “Ấn chiến thắng như vậy

    Các lậu đã tận trừ

    Ta sát hại ác pháp

    Nên ta đã chiến thắng”.

    Chúng ta chưa bằng Phật nhưng đang đi trên con đường của Phật, trong suốt 24 tiếng đồng hồ tệ lắm cũng được một tiếng thì một lúc nào đó, chúng ta đi đến giác ngộ.

    Để tóm kết lại, tôi xin kể một câu chuyện. Vào thời Minh Trị hoàng đế, dưới chân núi Phú Sĩ có một vị rất giỏi võ, đào tạo những võ sĩ tài ba. Vua Minh Trị nghe vậy gửi đến đó hai vị hoàng tử. Sau ba năm, vua đưa hai vị hoàng tử về để biểu diễn trước bá quan văn võ. Hai hoàng tử vốn thông minh tài giỏi nên học võ có được thành tựu. Vị hoàng tử thứ nhất biểu diễn bằng cách ngồi im, có hai mươi võ sĩ xông vào, vị hoàng tử này hét lớn một tiếng, hai mươi vị võ sĩ kia bủn rủn tay chân, ngã xuống. Tất cả mọi người đều ngạc nhiên. Đến vị hoàng tử thứ hai ra biểu diễn, thì kiếm tức là tâm, mà tâm tức là kiếm. Nhưng vị võ sư khẳng định đây mới chỉ là con đường thứ hai, còn con đường thứ ba thì hai vị hoàng tử dù thông minh đến đâu cũng không học được, kể cả chính vị võ sư cũng vậy. Vua hỏi tại sao, thắc mắc nếu mà học được con đường thứ ba thì chắc sẽ trở thành vô địch, trên đời này không ai chiến thắng được.

    Một thời gian sau, vị võ sư được vị tôn sư chỉ dạy gọi lên núi để tiếp tục học con đường thứ ba. Mọi người đều háo hức chờ đợi. Mười năm sau, vị võ sư xuống núi. Vua và hai hoàng tử đến gặp hỏi: Con đường thứ ba là con đường gì?

    Vị võ sư giở nón xuống, lộ hình tướng xuất gia, nói: “Đó là con đường tự thắng mình”.

Mục lục

Con đường tự thắng mình 1
  • 1. Đạo Phật Đến Để Mà Thấy
  • 2. Pháp là con thuyền đưa chúng sanh thoát khổ
  • 3. Chết là con đường chúng ta phải đi
  • 4. Đâu là hạnh phúc chân thật
  • 5. Tâm Là Chủ Muôn Pháp
  • 6. Tại sao chúng ta phải phát Bồ Đề Tâm
  • 7. Công đức nghe pháp
  • 8. Cẩn ngôn
  • 9. Sức mạnh của lòng từ
  • 9. Thiền trong biển dục
  • 10. Năng lực của sự tùy hỷ
  • 10. Con đường tự thắng mình

Tìm kiếm

Lịch

Thống kê truy cập

  • Lượt truy cập: 16022
  • Online: 15